………… o0o………… Tiểu luận
Vấn đề lao động việc làm
trong phát triển kinh tế xã
hội Việt Nam hiện nay 1
Lời nói đầu
Có thể khẳng định lao động có vai trò động lực quan trọng trong tăng
trưởng và phát triển kinh tế. Lao động có vai trò đặc biệt hơn các yếu tố khác
vì lao động có vai trò 2 mặt.
Thứ nhất là một nguồn lực sản xuất chính không thể thiếu trong các hoạt
động kinh tế. Với vai trò này lao động luôn được xem xét ở cả 2 khía cạnh, đó
là chi phí và lợi ích. Lao động là yếu tố đầu vào, nó có ảnh hưởng tới chi phí
tương tự như việc sử dụng yếu tố sản xuất khác. Lao động cũng bao hàm
những lợi ích tiềm tàng theo nghĩa: góp phần làm tăng thu nhập cải thiện đời
sống và giảm nghèo đói thông qua chính sách(tạo việc làm, tổ chức lao động
Nguồn lao động là bộ phận dân số trong độ tuổi lao động theo quy định của
pháp luật có khả năng lao động, có nguyện vọng tham gia lao động và những
người ngoài độ tuổi lao động đang làm việc trong các ngành kinh tế quốc dân.
Việc quy định cụ thể về độ tuổi lao động là khác nhau ở các nước.
Lực lượng lao động theo quan niệm của Tổ chức lao động quốc tế là bộ
phận dân số trong độ tuổi lao động. Theo quy định thực tế đang có việc làm
và những người thất nghiệp.
Ở nước ta hiện nay thường sử dụng khái niệm sau: Lực lượng lao động là bộ
phận dân số đủ 15 tuổi trở lên có việc làm và những người thất nghiệp. Lực
lượng lao động theo quan niệm như trên là đồng nghĩa với dân số hoạt động
kinh tế(tích cực) và nó phản ánh khả năng thực tế về cung ứng lao động của
xã hội.
1.2. Quan niệm về việc làm.
Theo các nhà kinh tế học lao động thì việc làm được hiểu là sự kết hợp giữa
sức lao động với tư liệu sản xuất nhằm biến đổi đối tượng lao động theo mục
đích của con người.
Theo Bộ luật Lao động ở Việt Nam, khái niệm việc làm được xác định là:
“mọi hoạt động lao động tạo ra nguồn thu nhập không bị pháp luật cấm đều
được thừa nhận là việc làm”.
Người có việc làm là những người làm những công việc gì đó có được trả
tiền công, lợi nhuận hoặc được thanh toán bằng hiện vật hay những người
tham gia vào các hoạt động mang tính chất tự tạo việc làm vì lợi ích hay vì
thu nhập gia đình không được nhận tiền công hoặc hiện vật. Khi tiến hành
3
cuộc điều tra thống kê về lao động và việc làm, khái niệm người có việc làm
được cụ thể hóa bằng một số tiêu thức khác tùy thuộc vào mỗi nước đặt ra. Có
thể phần làm 2 nhóm các tiêu thức bổ sung:
- Nhóm thứ nhất là nhóm có việc làm và đang làm việc, đó là những
phần lớn là theo chu kỳ.
*) Hình thức thất nghiệp ở các nước đang phát triển:
Thất nghiệp hữu hình là hình thức thất nghiệp thường thấy ở khu vực thành
thị, đặc điểm của hình thức thất nghiệp này là người lao động hoàn toàn
không có một việc gì làm để tạo ra thu nhập, mặc dù anh ta luôn cố gắng đi
tìm việc làm.
Thất nghiệp trá hình hay còn gọi là thiếu việc làm là một trong những đặc
trưng cơ bản của nền kinh tế nông nghiệp, chậm phát triển. Trong khu vực
thành thị, dạng thất nghiệp này tồn tại dưới dạng khác nhau như: làm việc với
năng suất thấp, không góp phần tạo ra thu nhập cho xã hội mà chủ yếu chỉ tạo
thu nhập đủ sống(nhiều khi dưới mức sống tối thiểu). Trong khu vực nông
thôn, thất nghiệp trá hình chủ yếu tồn tại dưới dạng thiếu việc làm. Chẳng hạn
ở Việt Nam, theo kết quả nghiên cứu của các chuyên gia kinh tế, trong thời
gian mùa vụ, một nông dân có thể làm việc 11 giờ/ngày, trong khi đó, ở thời
kỳ nông nhàn họ chỉ làm việc 3 giờ/ngày.
2. Vấn đề lao động – việc làm trong phát triển kinh tế - xã hội Việt Nam
hiện nay.
Giải quyết việc làm là một chính sách kinh tế - xã hội cơ bản, là yếu tố
quyết định để phát huy nhân tố con người, ổn định và phát triển kinh tế, làm
lành mạnh xã hội, đáp ứng nguyện vọng và yêu cầu bức xúc của nhân dân.
2.1. Nguồn lao động.
Nguồn lao động của nước ta rất dồi dào. Theo điều tra của Bộ Lao động –
Thương binh và Xã hội, lực lượng lao động năm 1998 gồm 37,4 triệu người.
Mặc dù mức gia tăng dân số và nguồn lao động đã giảm, mỗi năm vẫn tăng
thêm khoảng 1,1 triệu lao động.
5
Người lao động Việt Nam cần cù, khéo tay, có những truyền thống, kinh
nghiệm sản xuất (nhất là trong nông, lâm, ngư nghiệp và sản xuất tiểu thủ
sự chuyển dịch lao động từ khu vực Nhà nước sang khu vực kinh tế ngoài
quốc doanh. Sự chuyển dịch lao động như vậy là phù hợp với quá trình nước
ta chuyển sang kinh tế thị trường.
Khu vực kinh tế ngoài quốc doanh không chỉ thu hút đa số tuyệt đối lao động
nông, lâm, ngư nghiệp, mà còn thu hút ngày càng nhiều lao động làm công
nghiệp, xây dựng và dịch vụ.
c) Năng suất lao động xã hội nói chung còn thấp làm cho phần lớn người lao
động có thu nhập thấp, đồng thời làm chậm việc cải thiện sự phân công lao
động xã hội. Thêm vào đó, vẫn còn nhiều quỹ thời gian lao động (ở nông
thôn, cũng như trong các cơ quan, xí nghiệp) chưa được sử dụng. Nếu tổ chức
tốt lao động, thì đây là một nguồn dự trữ lớn để nâng cao năng suất lao động
xã hội.
2.3. Vấn đề việc làm
a) Việc làm đang là một vấn đề kinh tế - xã hội gay gắt ở nước ta, đặc biệt là
ở các thành phố. Theo điều tra của Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội,
năm 1998 cả nước có 9,4 triệu người thiếu việc làm và 856 nghìn người thất
nghiệp. Tỉ lệ thiếu việc làm ở vùng nông thôn là 28,2%. Tỉ lệ thất nghiệp ở
thành thị là 6,8%.
Hiện nay, tỉ lệ thiếu việc làm ở nông thôn và tỉ lệ thất nghiệp ở thành thị cao
nhất là ở đồng bằng sông Hồng, tiếp đến là ở Bắc Trung Bộ. Vấn đề việc làm
ở Đông Nam Bộ trước đây cũng rất căng thẳng, nay đã được cải thiện rõ rệt.
b) Vấn đề việc làm đã và đang được giải quyết theo các hướng sau
- Phân bố lại dân cư và nguồn lao động giữa các vùng, để vừa tạo thêm
việc làm, vừa khai thác được tốt hơn tiềm năng của mỗi vùng. Tây
Nguyên (đặc biệt là Đắc Lắc) và Đông Nam Bộ (đặc biệt là Đồng Nai)
đã tiếp nhận hàng chục vạn người đến xây dựng các vùng kinh tế mới,
nhất là từ các tỉnh đồng bằng sông Hồng và duyên hải miền Trung.
- Đẩy mạnh kế hoạch hoá gia đình và đa dạng hoá các hoạt động kinh tế
nông thôn. Việc khẳng định vai trò của kinh tế hộ gia đình sẽ tạo điều
8
Trong hệ thống kế hoạch hóa phát triển, kế hoạch hóa lực lượng lao động có
ý nghĩa đặc biệt, nó bao hàm cả ý nghĩa của kế hoạch biện pháp và kế hoạch
mục tiêu. Là kế hoạch biện pháp, kế hoạch phát triển lực lượng lao động
nhằm vào mục tiêu của kế hoạch tăng trưởng, kế hoạch chuyển dịch cơ cấu
kinh tế, kế hoạch phát triển vùng kinh tế, tạo ra các điều kiện về lao động để
thực hiện các kế hoạch này. Là kế hoạch mục tiêu vì kế hoạch phát triển lao
động bao hàm một số các chỉ tiêu nằm trong hệ thống các mục tiêu phát triển
xã hội như: Giải quyết lao động, khống chế thất nghiệp hay các chỉ tiêu giáo
dục, sức khỏe…
Quan niệm như trên có một ý nghĩa rất quan trọng trong quá trình xây dựng
và triển khai thực hiện kế hoạch về lao động. Một mặt kế hoạch lao động phải
được xây dựng dựa trên cơ sở các yếu tố cầu do các kế hoạch về tăng trưởng,
chuyển dịch cơ cấu kinh tế đặt ra nhưng đồng thời kế hoạch này còn bao hàm
nội dung chủ động, tích cực và đặc biệt là trong việc tìm ra các cơ chế chính
sách để thực hiện các mục tiêu do chính kế hoạch lao động đặt ra.
2. Nội dung.
2.1. Định hướng các yếu tố tác động đến lao động – việc làm kỳ kế hoạch.
a. Xác định nhu cầu sức lao động xã hội.
Nhu cầu sức lao động xã hội chỉ nhu cầu thu hút và tiếp nhận sức lao động
nảy sinh trong hoạt động kinh tế - xã hội, nó có tính khách quan nội tại. Phân
tích cụ thể nhu cầu nghĩa là có bao chỗ làm việc do hoạt động kinh tế - xã hội
mang lại.
Những nhân tố chi phối tổng hợp nhu cầu sức lao động xã hội chủ yếu bao
gồm:
- Quy mô và tốc độ tăng trưởng kinh tế. Sự tăng trưởng của nền kinh tế
nếu coi các yếu tố khác không đổi thì nó phụ thuộc vào số lượng sức
lao động và năng suất lao động. Nếu với mức năng suất lao động nhất
phận dân số trong tuổi lao động. Bởi vậy, có thể thông qua việc điều
tiết có kế hoạch sự tăng trưởng dân số để điều tiết tài nguyên sức lao
động xã hội.
10
- Tình hình cấu tạo tuổi tác của dân số. Cùng một tổng lượng dân số như
nhau có thể hình thành lượng tài nguyên sức lao động khác nhau,
nguyên nhân là do cấu tạo tuổi tác của dân số, cho nên mức độ ăn khớp
giữa cấu tạo tuổi tác của dân số với quy định tuổi lao động sẽ chi phối
lượng tài nguyên sức lao động của một tổng lượng dân số nhất định. Đó
cũng là con đường điểu chỉnh lực lượng lao động xã hội.
- Quy định tuổi lao động. Khung tuổi lao động được xác định trên cơ sở
khách quan nhất định. Giới hạn trên, dưới của tuổi lao động được quy
định khác nhau, trực tiếp đưa một bộ phận dân số vào hoặc loại ra khỏi
phạm vi tài nguyên sức lao động, do đó làm cho tài nguyên sức lao
động mở rộng hoặc thu hẹp. Căn cứ khách quan của con đường này
gồm có: Tình hình thể chất của con người, mức sống, điều kiện lao
động, tình hình lao động v.v…
2.2. Định hướng và mục tiêu.
- Một mặt giữ cho dân số tăng trưởng không quá cao để hạn chế quy mô
tăng sức lao động, giảm nhẹ áp lực xã hội do số lượng tài nguyên sức
lao động quá thừa, đồng thời nâng cao chất lượng của dân số nhất là
của sức lao động để thỏa mãn nhu cầu.
- Mặt khác điểu chỉnh và sắp xếp hợp lý kết cấu sản nghiệp, đặc biệt là
căn cứ vào tình hình nhân lực của đất nước để điều tiết phương hướng
phát triển các hoạt động kinh tế - xã hội nhằm tạo ra nhiều chỗ làm việc
hơn, sử dụng có hiệu quả nhất tài nguyên sức lao động.
2.3. Các chỉ tiêu thường dùng trong kế hoạch lao động – việc làm
- Tỷ lệ thất nghiệp: Được xác định bằng tỷ lệ phần trăm giữa số người
thất nghiệp và lực lượng lao động trong độ tuổi lao động.
phối sức lao động thường phân phối nhiều sức lao động cho các doanh
nghiệp để giảm nhẹ áp lực xã hội về công ăn việc làm. Điều đó dẫn đến
sự dưa thừa lao động trong nội bộ doanh nghiệp.
12
- Kế hoạch pháp lệnh kết hợp với chế độ sử dụng cố định rất khó tạo nên
sự hứng thú, sở trường và sự tự do chọn nghề của mỗi cá nhân lao
động, do đó đã mang lại những vấn đề khó khăn lớn như: Học không
được dùng, dùng không được học, không an tâm công tác v.v…
- Do bên cầu sức lao động không được tuyển lựa, bên cung cấp sức lao
động không có cạnh tranh làm cho các xí nghiệp thiếu tích cực trong
việc dùng người hợp lý.
Như vậy, phương thức phân phối có kế hoạch tập trung cao độ sức lao động
đã gây ra sự mất cân đối trong bố trí, mất hiệu quả trong sử dụng. Cần thiết
phải cải cách để xây dựng cơ chế mới lưu chuyển sức lao động. Về nguyên
tắc, căn cứ vào yêu cầu phát triển kinh tế thị trường, cơ chế lưu chuyển sức
lao động hợp lý cần thỏa mãn các đòi hỏi sau đây:
- Người lao động phải có quyền tự do lựa chọn nghề nghiệp và nơi làm
việc của mình theo sở trường và sở thích.
- Với tư cách người sản xuất hàng hóa và người kinh doanh tương đối
độc lập, tự chủ, chịu trách nhiệm về lỗ, lãi, xí nghiệp được quyền lựa
chọn, thu nạp, sa thải nhân viên theo đòi hỏi của sản xuất kinh doanh và
yêu cầu kỹ thuật.
- Với tư cách là người đại biểu tập trung cho lợi ích toàn dân, Nhà nước
cần thiết dùng những biện pháp nhất định can thiệp, điều tiết và khống
chế lưu chuyển sức lao động.
Căn cứ vào thực tế kể trên, khung cơ chế lưu chuyển sức lao động có thể
mô tả bằng sơ đồ sau đây:
13
14
PHẦN II: KẾ HOẠCH LAO ĐỘNG – VIỆC LÀM 2006 – 2010.
I. Những thành tựu, hạn chế, thách thức rút ra từ thời kỳ kế
hoạch 2001 – 2005.
Bộ Lao động thương binh xã hội và Tổng cục thống kê đã đưa ra những
đánh giá khách quan về số lượng và chất lượng của tình hình lao động 2001 -
2005 như sau:
Lực lượng lao động cả nước vẫn tiếp tục gia tăng với tốc độ cao. Bình
quân hàng năm giai đoạn 2001-2005 tăng 2,5% với quy mô tăng 1 triệu
người/năm; trong đó lực lượng lao động khu vực thành thị tăng 4,5%, lao
động khu vực nông thôn tăng 1,9%
Qui mô lao động qua đào tạo không ngừng tăng lên qua các năm. Từ 6
triệu người ở năm 2002, đến năm 2005 con số này đã lên tới 11 triệu người,
gấp 1,8 lần so với năm 2000. Bình quân hàng năm, số lao động đã qua đào tạo
tăng 12,9%.
Về đánh giá tình hình phẩn bổ lao động, nếu phân chia theo 3 khu vực
ngành kinh tế, cả nước có 24. triệu người làm việc chính ở khu vực nông, lâm
nghiệp, thuỷ sản, chiếm 56,8%; 7,7 triệu người làm việc chính ở khu vực
công nghiệp và xây dựng, chiếm 17,9% và 11 triệu người làm việc ở khu vực
dịch vụ, chiếm 25,3%. Cơ cấu lao động của cả nước tiếp tục chuyển dịch theo
hướng tăng cả về số lượng và tỷ lệ lao động làm việc ở khu vực công nghiệp
và xây dựng, dịch vụ, giảm tỷ lệ làm trong ngành nông nghiệp.
Phân bổ lao động chia theo loại hình kinh tế, cả nước có 4,4 triệu người
làm việc ở khu vực Nhà nước, chiếm 10,2%, 38. triệu người làm việc ở khu
vực ngoài Nhà nước, chiếm 88,2% và 0, 7 triệu người làm việc ở khu vực có
vốn đầu tư nước ngoài, chiếm 1,6%.
Phân bố lực lượng lao động theo vùng lãnh thổ tuy có chuyển dịch theo
hướng tích cực nhưng vẫn còn nhiều bất cập so với tiềm năng và nhu cầu phát
16
ép về việc làm đối với lực lượng lao động trẻ ở khu vực thành thị do tỷ
lệ thất nghiệp cao (13,3%), đặc biệt ở các đô thị tập trung, các vùng
kinh tế trọng điểm. Thứ ba, nhiều ngành, nhiều địa phương còn rất
thiếu lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật cao, kỹ năng tay nghề
giỏi, trong khi số lao động qua đào tạo (kể cả lao động cao đẳng, đại
học) lại đang thất nghiệp với tỷ lệ không nhỏ. Sự cách biệt về trình độ
chuyên môn kỹ thuật của lực lượng lao động thành thị và nông thôn
còn lớn, đã đang và sẽ gây bất lợi cho khu vực nông thôn trong giai
đoạn phát triển CNH, HĐH dưới tác động ngày càng mạnh của kinh tế
thị trường và xu thế hội nhập, toàn cầu hoá về kinh tế.
II. Nội dung kế hoạch lao động – việc làm thời kỳ 2006 2010.
1. Định hướng, mục tiêu:
- Ưu tiên dành vốn đấu tư của Nhà nước và huy động vốn xã hội để giải
quyết việc làm. Nâng cao chất lượng và hiệu quả sử dụng nguồn lao
động. Tiếp tục chuyển dịch cơ cấu lao động theo hướng giảm lao động
nông, lâm nghiệp và thủy sản xuống còn 50% vào năm 2010, tăng lao
động công nghiệp và xây dựng lên ít nhất 23 – 24% và tăng lao động
dịch vụ - thương mại lên ít nhất 26 – 27%.
- Trong 5 năm 2006 – 2010, phấn đấu giải quyết việc làm cho trên 8 triệu
lao động, trong đó khoảng 6 triệu chỗ làm việc mới, bình quân mỗi năm
giải quyết việc làm cho trên 1,6 triệu người, ít nhất 50% là nữ. Chú
trọng đào tạo nghề, tạo việc làm cho nông dân, thanh niên, ưu tiên cho
nữ thanh niên. Đảm bảo không có sự phân biệt đối xử về giới trong mọi
hình thức việc làm.
- Thực hiện có hiệu quả chương trình xuất khẩu lao động, tăng tỷ lệ lao
động có tay nghề. Phấn đấu 5 năm tới, mỗi năm đưa khoảng 100 ngàn
lao động và chuyên gia đi làm việc ở nước ngoài. Giảm tỷ lệ thất
nghiệp khu vực thành thị xuống còn dưới 5% số lao động trong độ tuổi.
các khu công nghiệp, khu chế xuất về điều kiện sinh hoạt, nhà ở. Đồng thời có
18
chương trình về tăng cường công tác đào tạo nguồn nhân lực nhằm đáp ứng
nhu cầu phát triển trong giai đoạn mới.
2. Tình hình triển khai thực hiện 6 tháng đầu năm 2007.
Số người được giải quyết việc làm trong tháng đầu năm 2007 ước đạt 78
vạn lượt người. Trong đó lao động và chuyên gia đi làm việc ở nước ngoài
khoảng trên 4,6 vạn người, trong đó 29,3% là lao động nữ. Số lao động đi làm
việc ở nước ngoài 6 tháng đầu năm 2007 chủ yếu sang một số thị trường cũ
như: Malaysia 14,7 nghìn người; Đài Loan 9,5 nghìn người; Hàn Quốc 5,2
nghìn người; Nhật Bản 1,75 nghìn người; Qatar 3,7 nghìn người…
Nhiều hoạt động hỗ trợ giải quyết lao động – việc làm đã được triển khai
như tìm kiếm và mở rộng thị trường xuất khẩu lao động; xây dựng nhiều mô
hình phát triển sản xuất nông nghiệp đa dạng; khôi phục và phát triển các làng
nghề… tạo ra khả năng giải quyết việc làm tại chỗ cho lao động nông thôn.
19
PHẦN III: CÁC GIẢI PHÁP ĐỂ THỰC HIỆN TỐT KẾ HOẠCH
LAO ĐỘNG – VIỆC LÀM THỜI KỲ 2006 – 2010.
1. Thực hiện các chính sách khuyền khích đẩy mạnh phát triển sản xuất, tạo
việc làm mới; chú trọng khuyến khích phát triển ngành công nghiệp nhẹ, công
nghiệp chế biến, các doanh nghiệp dân doanh, doanh nghiệp có vốn đầu tư
nước ngoài sử dụng nhiều lao động. Thực hiện tốt chương trình khuyến khích
phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa, phát triển làng nghề và kinh tế trang trại.
2. Tập trung nguồn vốn của Quỹ cho vay giải quyết việc làm đối với các dự
khẩu lao động…
Tăng cầu lao động ở khu vực thành thị cần tập trung vào hướng sau:
+ Phát triển các doanh nghiệp quy mô lớn, nhất là ở các địa bàn có điều kiện
lập các khu chế xuất, khu công nghiệp tập trung, các dự án thu hút vốn đầu tư
nước ngoài để tạo việc làm có giá trị kinh tế cao và giá trị lao động cũng cao.
+ Phát triển các lĩnh vực, ngành nghề có khả năng thu hút được nhiều lao
động, việc làm khu vực phi chính thức, các doanh nghiệp nhỏ và vừa hoạt
động trong lĩnh vực sản xuất – kinh doanh dịch vụ.
+ Phát triển hình thức gia công sản xuất hàng hóa tiêu dùng xuất khẩu theo
hướng đa dạng hóa, mặt hàng, trước hết là các mặt hàng có công nghệ sử
dụng nhiều lao động như may mặc, da giầy, gốm sứ, lắp ráp điện tử…
Đối với khu nông thôn, để tăng cầu lao động cần phải:
+ Phát triển kinh tế trang trại gắn với xu thế chuyển đổi cơ cấu sản xuất theo
hướng sản xuất hàng hóa có giá trị kinh tế cao.
+ Khôi phục và phát triển các ngành nghề nông thôn.
+ Phát triển công nghiệp và dịch vụ nông thôn, chú trọng công nghiệp chế
biến và dịch vụ kỹ thuật nông nghiệp.
+ Chuyển đổi và phát triển các hợp tác xã mới chủ yếu làm các khâu dịch vụ
cho hộ nông dân. 21
6. Giảm cung lao động về số lượng và tăng cung lao động về chất lượng cũng
là hướng cần thiết phải được coi trọng. Việc tăng cung lao động về chất lượng
nhằm phát triển nguồn lao động có trình độ đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế
trong xu thế hội nhập kinh tế thế giới; đồng thời cũng tăng cơ hội tiếp cận của
người lao động với quá trình hội nhập.
23
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
1) Tổng cục thống kê.
2) Bộ lao động thương binh & xã hội.
3) Trang web của bộ kế hoạch đầu tư.
4) Giáo trình kinh tế phát triển – khoa KH&PT – trường ĐH KTQD
5) Giáo trình kế hoạch hóa PT KT-XH – khoa KH&PT – trường ĐH KTQD 24
MỤC LỤC
Lời nói đầu 1
PHẦN I: LÝ LUẬN VỀ KẾ HOẠCH LAO ĐỘNG – VIỆC LÀM. 2
I. Lao động việc làm trong phát triển kinh tế Việt Nam. 2
1. Tổng quan về lao động – việc làm 2
1.1. Nguồn lao động và lực lượng lao động. 2
1.2. Quan niệm về việc làm. 2
1.3. Quan niệm về thất nghiệp. 3
2. Vấn đề lao động – việc làm trong phát triển kinh tế - xã hội Việt Nam
hiện nay. 4
2.1. Nguồn lao động. 4
2.2. Sử dụng lao động trong các ngành kinh tế quốc dân 5
2.3. Vấn đề việc làm 6
II. Lý luận về kế hoạch lao động – việc làm. 7
1. Ý nghĩa và nhiệm vụ. 7
2. Nội dung. 8
2.1. Định hướng các yếu tố tác động đến lao động – việc làm kỳ kế