TIỂU LUẬN:
Hoàn thiện công tác lập kế hoạch
phát triển kinh tế-xã hội huyện Yên
Châu, tỉnh Sơn La
LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong quá trình đổi mới nền kinh tế từ cơ chế kế hoạch hóa tập trung sang nền
kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa có sự điều tiết của Nhà nước, công tác
kế hoạch cũng từng bước được hoàn thiện, góp phần tích cực vào việc hoàn thành
thắng lợi các mục tiêu trong các Chiến lược và Kế hoạch phát triển KTXH đề ra. Ngày
nay, trước xu thế hội nhập hội nhập và sự biến động của cơ chế thị trường thì vai trò
Nhà nước càng thể hiện quan trọng trong việc điều tiết vĩ mô và định hướng phát triển
cho nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Để tăng cường hơn nữa vai trò
của Nhà nước trong nền kinh tế thị trường hiện nay, thì việc đổi mới, hoàn thiện các cơ
chế, chính sách là một điều tất yếu. Trong đó, kế hoạch là một trong những công cụ
quản lý, điều hành của Nhà nước nên việc đổi mới, hoàn thiện công tác lập KH là một
triển KTXH là cấp bách và hết sức cần thiết. Xuất phát từ thực tế trên, em xin được
chọn đề tài “Hoàn thiện công tác lập kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội huyện Yên
Châu, tỉnh Sơn La” làm chuyên đề thực tập tốt nghiệp của mình. Bài chuyện đề này
chỉ giới hạn trong việc nghiên cứu và đề xuất một số giải pháp cơ bản có thể hoàn
thiện công tác lập KH phát triển KTXH tại huyện Yên Châu, với hy vọng công tác lập
KH tại huyện sẽ ngày càng hoàn thiện hơn, bản KH được xây dựng với chất lượng tôt
hơn và thực sự là công cụ hỗ trợ cho quá trình quản lý, điều hành của chính quyền địa
phương.
2. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tương nghiên cứu: Đề tài tập trung nghiên cứu công tác lập kế hoạch phát
triển KTXH cấp huyện hàng năm và 5 năm.
- Phạm vi nghiên cứu:
• Về nội dung: nghiên cứu, đánh giá thực trạng công tác lập KH phát triển KTXH
cấp huyện.
• Phạm vi không gian: Nghiên cứu công tác lập kế hoạch huyện Yên Châu, tỉnh
Sơn La.
• Phạm vi thời gian: Tiến hành nghiên cứu công tác lập KH phát triển KTXH 5
năm (2006-2010) và công tác lập KH phát triển KTXH hàng năm 2007,2008, 2009
3. Mục đích của việc nghiên cứu
Chuyên đề tập trung làm rõ cơ sở lý luận về KH phát triển KTXH trong nền kinh
tế thị trường và sự cần thiết đổi mới công tác lập KH phát triển KTXH cấp huyện hiện
nay. Trên cơ sở đó, chuyên đề đi sâu tìm hiểu thực trạng công tác lập KH phát triển
KTXH tại huyện Yên Châu hiện nay. Từ đó, đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện
công tác lập KH phát triển KTXH cấp huyện ở Yên Châu.
Kết cấu của chuyên đề:
Chương I: Sự cần thiết phải hoàn thiện công tác lập kế hoạch phát triển kinh tế
xã hội ở huyện Yên Châu-Sơn La
Chương II: Đánh giá về công tác lập kế hoạch phát triển ở huyện Yên Châu-Sơn
La
“Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội (KHPTKT-XH) là công cụ quản lý của nhà
nước theo mục tiêu, nó được thể hiện bằng những mục tiêu định hướng phát triển
KTXH phải đạt được trong một khoảng thời gian nhất định của một quốc gia hoặc một
địa phương và những giải pháp, chính sách nhằm đạt được các mục tiêu đặt ra một
cách hiệu quả cao nhất.”(Nguồn: ThS Vũ Cương, Bộ tài liệu đào tạo:Lập Kế hoạch có
tính chất chiến lược phát triển kinh tế địa phương, trang 9)
1.1.1.2 Vai trò của kế hoạch trong nền kinh tế thị trường
Trước tiên, cần thấy rằng sự tồn tại của kế hoạch xuất phát từ vai trò tất yếu của
nhà nước trong nền kinh tế thị trường. Như chúng ta đều biết, một nền kinh tế thị
trường hoàn hảo đến đâu vẫn không thể vận hành mà không có sự điều tiết, quản lý
của nhà nước. Vai trò của nhà nước trong nền kinh tế thị trường tồn tại như tất yếu
khách quan, xuất phát từ những đòi hỏi thực tế của xã hội muốn có một cơ chế điều
tiết bổ trợ cho cơ chế thị trường, nhằm vừa tạo điều kiện cho cơ chế thị trường phát
huy những mặt mạnh của mình, vừa hạn chế hậu quả khắc nghiệt mà cơ chế đó tạo ra
trong nền kinh tế thị trường, kế hoạch có vai trò:
● Kế hoạch tồn tại với tư cách là công cụ quản lý của nhà nước trong mọi nền
kinh tế.
* Kế hoạch là công cụ chủ yếu trong cơ chế kế hoạch hóa tập trung
Đặc trưng cơ bản của nền kinh tế mệnh lệnh là các cơ sơ kinh tế được xây dựng
và hoàn thiện trên chế độ công hữu xã hội chủ nghĩa về tư liệu sản xuất, nhà nước
chuyên chính vô sản không những đóng vai trò điều hành chính trị mà còn có khả năng
điều tiết và quản lý toàn diện, trực tiếp các vấn đề về kinh tế. Kế hoạch hóa tập trung
thực chất là sự khống chế trực tiếp những hoạt động kinh tế bằng cách tập trung phân
bổ nguồn lực thông qua các quyết định mang tính mệnh lệnh phát ra từ trung ương.
Các mục tiêu cụ thể được hoạch định trước bởi các nhà kế hoạch ở trung ương đã tạo
nên cơ sở cho một kế hoạch kinh tế quốc dân toàn diện và đầy đủ, và được chuyển
xuống cho cấp dưới theo tuyến dọc. Quá trình triển khai thực hiện kế hoạch được tiến
hành trên cơ sở hệ thống chỉ tiêu pháp lệnh cấp trên giao cho cấp dưới, phương thức
công cụ tổ chức can thiệp của nhà nước vào nền kinh tế thị trường. Nó giúp cho sự can
thiệp của nhà nước chắc chắn khắc phục được thất bại của thị trường, hướng hoạt động
thị trường vào những mục tiêu mà xã hội cần có và bảo đảm sự vận hành của thị
trường luôn tương xứng với hiệu quả xã hội.
1.1.2 Sự khác biệt giữa kế hoạch trong nền kinh tế thị trường và nền kinh tế
tập trung
1.1.2.1 Sự khác biệt về mặt bản chất
Trong cơ chế KHH tập trung, KH thể hiện ở sự khống chế trực tiếp của Nhà nước
đối với những hoạt động kinh tế-xã hội thông qua quá trình đưa ra những quyết định
pháp lệnh phát ra từ Trung ương. Các chỉ tiêu KH được xác định bởi các nhà KH
Trung ương, tạo nên một KH kinh tế quốc dân toàn diện và đầy đủ. Nguồn nhân lực,
vật tư chủ yếu và tài chính không phải được phân phối theo giá thị trường và cung cầu
mà phân phối theo các nhu cầu của KH tổng thể, theo những quyết định hành chính
của các cấp, lãnh đạo. Như vậy, đặc trưng của KH trong cơ chế KHH tập trung là
mang tính chất cưỡng chế trực tiếp.
Trong nền kinh tế thị trường, KH là thể hiện sự nỗ lực có ý thức của Chính phủ
trong quá trình thực hiện sự can thiệp ở tầm vĩ mô của nền kinh tế quốc dân, trên cơ sở
chủ động thiết lập mối quan hệ giữa khả năng và mục đích nhằm đạt được mục tiêu sử
dụng có hiệu quả nhất những tiềm năng hiện có. KH trong nền kinh tế thị trường được
thể hiện ở các phương án lựa chọn, sắp xếp, khai thác, huy động và sử dụng có hiệu
quả nguồn lực cho phép để đạt được kết quả cao nhất. Các chỉ tiêu đặt ra trong KH là
những định hướng phát triển một số lĩnh vực chủ yếu và cách thức tác động của Chính
phủ mang tính gián tiếp thông qua các chính sách và công cụ của chính sách điều tiết
vĩ mô. Như vậy, bản chất của KHH phát triển trong nền kinh tế thị trường là tính
thuyết phục gián tiếp.
Từ sự phân tích trên ta có thể tóm tắt sự khác nhau về bản chất của kế hoạch
trong cơ chế KHH tập trung và trong nền kinh tế thị trường. (Phụ lục 1- So sánh bản
chất của KH trong cơ chế KHH tập trung và trong nền kinh tế thị trường)
1.1.2.2 Hệ thống chỉ tiêu
một tình trạng chung đó là công tác lập kế hoạch bị rơi vào tình trạng bị động. Cho
nên, cùng trong quá trình hoàn thiện thì công tác lập kế hoạch cũng đang được hoàn
thiện theo hướng lập kế hoạch từ mục tiêu mong muốn. Nó được thể hiện cụ thể qua
những đặc điểm sau:
- Việc lập kế hoạch được tiến hành theo hướng sẽ xác định các mục tiêu mong
muốn thực hiện kỳ kế hoạch trước rồi mới căn cứ vào những mục tiêu này để có những
chính sách huy động, khai thác các nguồn lực đầu vào. Đây là phương pháp đi từ mục
tiêu để cân đối đầu vào nên khi lập kế hoạch sẽ không bị phụ thuộc hoàn toàn vào
những nguồn lực sẵn có mà tìm cách huy động, khai thác thêm các nguồn lực khác.
- Với cách lập kế hoạch theo kiểu mới này sẽ tạo ra tính tích cực. giúp địa
phương không những có thể thực hiện được nhũng mục tiêu mong muốn mà còn có thể
tận dụng một cách tối đa mọi khả năng để phát triển.
● Phương pháp lập kế hoạch dựa vào kết quả (mục tiêu mong muốn)
Kế hoạch hóa dựa trên kết quả là phương pháp kế hoạch tiên tiến, hiện đại, có
những ưu điểm chủ yếu:
- Khi sử dụng phương pháp kế hoạch dựa vào kết quả thì buộc các nhà lập kế
hoạch phải nghĩ tới các giải pháp nhằm đạt được kết quả đã định và bản kế hoạch sẽ
mạng tính hành động chứ không chỉ đơn thuần là vạch ra kế hoạch hoạt động hay kế
hoạch công tác.
- Nâng cao trách nhiệm của các đối tượng tham gia thực hiện kế hoạch hoạt động
trong việc tổ chức các hoạt động bằng cách so sánh kết quả đạt được với kết quả dự
kiến thông qua giám sát, đánh giá, báo cáo, và điều chỉnh thường xuyên hoạt động
nhằm đạt được các mục tiêu và chỉ tiêu kế hoạch.
- Tạo ra sự thống nhất trong hệ thống kế hoạch thông qua kết quả thực hiện mục
tiêu, chỉ tiêu kế hoạch, đồng thời định hướng các hoạt động từ khâu xây dựng kế hoạch
đến tổ chức thực hiện và theo dõi đánh giá.
- Bảo đảm tính hiệu quả của kế hoạch thông qua việc kiểm tra, giám sát, đánh giá
kết quả đạt được so với kết quả dự kiến.
- Bảo đảm chính xác, trung thực và chặt chẽ giữa lập kế hoạch và thực hiện kế
thể từng sản phẩm, từng mặt hằng đến từng đơn vị.
Quá trình xây dựng như vậy thường bị chi phối bởi cả những mong muốn chủ
quan của các cấp lãnh đạo và những người xây dựng KH. Trong nhiều trường hợp, KH
thiếu tính khách quan và mang tính áp đặt, không dựa theo nhu cầu cụ thể từng ngành,
từng địa phương.
Trong cơ chế kinh tế thị trường hiện nay: được đổi mới dựa trên nền tảng KH
phải xây dựng phải phù hợp với điều kiện của từng địa phương hoặc từng ngành. KH
được xây dựng dựa trên cơ sở tình hình thực tế và khả năng thực hiện, mang tính định
hướng, không áp đặt. KH phải huy động được nhiều nguồn lực của nhiều thành phần
để thực hiện các mục tiêu đặt ra, điều tiết, khắc phục các khiếm khuyết của thị trường.
Do vậy, quy trình KH phải được xây dựng ngày càng mở, có sự tham gia của nhiều
ngành, nhiều cấp và các thành phần kinh tế. (Phụ lục 4, Bảng so sánh sự khác biệt về
quy trình lập kế hoạch trong cơ chế KHH tập trung và cơ chế kinh tế thị trường)
1.1.3 Các cấp độ lập kế hoạch ở Việt Nam
Bộ máy quản lý kế hoạch của Việt Nam được phân chia thành 3 nhóm: cơ quan kế
hoạch trung ương, các bộ phận lập kế hoạch của các bộ ngành và cơ quan chức năng,
các đơn vị lập kế hoạch của địa phương.
● Cơ quan kế hoạch hóa quốc gia (Bộ KHĐT)
Bộ KH ĐT là cơ quan tham mưu cho Thủ tướng chính phủ và đảm nhận các chức
năng sau đây:
- Là cơ quan tổng hợp về chiến lược, quy hoạch, kế hoạch 5 năm, kế hoạch hàng
năm phát triển kinh tế xã hội chung của cả nước.
- Tham mưu tổng hợp về cơ chế, chính sách và luật pháp có liên quan đến quản
lý kinh tế chung và một số lĩnh vực cụ thể như: đầu tư trong và ngoài nước, đấu thầu,
tổ chức đăng ký kinh doanh, quản lý nhà nước các dịch vụ công thuộc phạm vi quản lý
của Bộ.
- Là đầu mối thu hút và phân bổ chi tiết nguồn vốn đầu tư trong và ngoài nước,
xét duyệt các dự án đầu tư đối với các dự án quốc gia.
- Chịu trách nhiệm thống nhất các nội dung mang tính chất nghiệp vụ thuộc
cấp trên sẽ giao chỉ tiêu kế hoạch xuống cấp dưới thực hiện. Đây là quy trình lập KH
mang tính chất của thời kỳ bao cấp, nặng về việc áp đặt mục tiêu nhiệm vụ từ trên
xuống. Mặc dù trong thời gian gần đây, số chỉ tiêu pháp lệnh do cấp trên giao được
chuyển gần hết sang chỉ tiêu hướng dẫn, nhưng quy trình này vẫn mang nặng hình
thức thiếu đi tính thực tiễn.
Sơ đồ 1: Sơ đồ tổ chức bộ máy KHH ở Việt Nam
Nguồn: PGS.TS Ngô Thắng Lợi - Giáo trình Kế hoạch hóa phát triển
(Trang 75) – Nhà xuất bản Đại học kinh tế quốc dân
1.2. Sự cần thiết phải hoàn thiện công tác lập kế hoạch phát triển kinh tế -
xã hội ở huyện Yên Châu – Sơn La
1.2.1 Vai trò của kế hoạch cấp huyện
Là một bộ phận trong hệ thống KH quốc gia, nên vai trò của KH phát triển
KTXH huyện được thể hiện:
- Điều tiết phối hợp ổn định kinh tế huyện. KH cấp huyện có chức năng điều
tiết sự phát triển của kinh tế-xã hội và tạo lập môi trường ổn định. Trong từng thời kỳ
với các mục tiêu đặt ra, KH phát triển KTXH phải xây dựng được các giải pháp, chính
Chính Phủ
Bộ KH&ĐT
Tỉnh, Thành phố Bộ quản lý ngành
Quốc hội
Quận, huyện
tầng lớp dân cư tạo điều kiện phát triển kinh tế-xã hội lành mạnh của địa phương.
- Định hướng PTKT-XH của huyện. KH cấp huyện đưa ra một hệ thống mục
tiêu phát triển vĩ mô về kinh tế-xã hội trên địa bàn huyện, xây dựng các dự án, các
chương trình, tìm các giải pháp và các phương án thực hiện, dự báo khả năng, phương
hướng phát triển, xác định các cân đối lớn… nhằm thực hiện chức năng dẫn dắt, định
hướng phát triển, xử lý kịp thời các mất cân đối xuất hiện trong nền kinh tế thị trường,
đồng thời tạo đòn bẩy cần thiết, khuyến khích và hỗ trợ các thành phần kinh tế cùng
thực hiện vì mục tiêu chung của địa phương.
- Kiểm tra, giám sát hoạt động KT-XH của huyện. KH cấp huyện thường
xuyên theo dõi, kiểm tra tình hình thực hiện tiến độ kế hoạch và tuân thủ các cơ chế,
thể chế, chính sách hiện hành áp dụng trong thời kỳ kế hoạch.Đánh giá kết quả của
việc thực hiện các chính sách, mục tiêu đặt ra. Phân tích hiệu quả tài chính. hiệu quả
kinh tế-xã hội bảo đảm các luận cứ quan trọng cho việc xây dựng các kế hoạch của
thời kỳ tiếp theo.
Tóm lại, xuất phát từ chức năng là một trong những công cụ quản lý quan trọng
của các cấp chính quyền từ Trung ương đến địa phương và vai trò của kế hoạch đã
được khẳng định như trên nên kế hoạch trở thành điều kiện tiền đề để tăng cường hiệu
quả quản lý của nhà nước và thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội của địa phương.
1.2.2 Các bộ phận cấu thành hệ thống kế hoạch cấp huyện
Hệ thống cấp huyện cũng là một cấp độ kế hoạch trong hệ thống kế hoạch của
quốc gia nên hệ thống kế hoạch cấp huyện bao gồm các bộ phân sau:
- Chiến lược phát triển KT-XH của huyện: Là hệ thống các phân tích, đánh giá
và chọn lựa quan điểm, mục tiêu tổng quát định hướng phát triển các lĩnh vực chủ yếu
của đời sống xã hội và các giải pháp cơ bản về phát triển KTXH của huyện trong thời
gian dài.
- Quy hoạch phát triển KT-XH của huyện: Thể hiện tầm nhìn, sự bố trí chiến
lược về thời gian, không gian lãnh thổ, xây dưngj khung vĩ mô về tổ chức không gian
để chủ động hướng tới mục tiêu, đạt hiệu quả cao, phát triển bền vững.
- KH 5 năm phát triển KT-XH của huyện: Là sự cụ thể hóa các chiến lược và
sự sử dụng công cụ kế hoạch, chưa thực sự coi đây là một công cụ quan trọng giúp cho
viêc điều hành quản lý của chính quyền cấp huyện trở nên hiệu quả.
Thứ hai, việc lập kế hoạch chưa thực sự làm cho kế hoạch gắn với thị trường.
Các căn cứ cho việc lập kế hoạch chưa xuất phát từ cơ sở đánh giá đúng thực trạng
phát triển KTXH của địa phương, các định hướng phát triển chưa dựa trên sự nắm bắt
quy luật, nắm bắt nhu cầu một cách khách quan. Các căn cứ chủ yếu cho việc lập kế
hoạch ở huyện hiện nay chủ yếu xuất phát từ yêu cầu kế hoạch của cấp trên.
Thứ ba, công tác lập kế hoạch cấp huyện hiện nay vẫn còn mang tính chất mệnh
lệnh. Đây là một trong những tồn tại lớn nhất mà nền kinh tế tập trung bao cấp để lại.
Trong đó, các mục tiêu, chỉ tiêu chính mang tính áp đặt và chịu sự chi phối của nhóm cán
bộ lập kế hoạch và sự chỉ đạo của cá nhân những người lãnh đạo mà thiếu đi sự tham vấn
của cộng đồng. Bệnh sính thành tích cũng là nguyên nhân làm cho những mục tiêu mang
tính chủ quan, thiếu tính khả thi. Cũng như cơ sở chính cho việc lập kế hoạch ở huyện dựa
vào nguồn ngân sách được cấp cho. Dẫn đến việc đưa ra các giải pháp chính sách thực
hiện chưa gắn liền với thực tiễn đang diễn ra.
Thứ tư, việc lập KH làm cho KH thiếu đi tính linh hoạt, chưa bám sát vào những
diễn biến luôn thay đổi của thị trường nên thiếu đi sự điều chỉnh kịp thời. Như chúng ta đã
biết, trong điều kiện nền kinh tế thị trường hiện nay, các yếu tố tác động tới sự phát triển
KTXH luôn luôn biến động, do đó, trong quá trình lập kế hoạch phải xây dựng được
nhiều phương án kế hoạch gắn với mỗi biến số khác nhau về các điều kiện hiện tại cũng
như tương lai. Tuy nhiên, đối với việc xây dựng kế hoạch ở cấp huyện cơ bản vẫn theo
phương pháp truyền thống cố định 5 năm, hoặc kế hoạch hàng năm thì năm trước không
khác gì nhiều việc lập kế hoạch năm sau. Việc lập kế hoạch đó làm cho kế hoạch thiếu
tính cập nhật sự thay đổi cơ chế thị trường, các chỉ tiêu xây dựng sẽ trở nên bị lạc hậu
thiếu chính xác…hạn chế việc nắm bắt cơ hội do cơ chế thị trường tạo ra cũng như hạn
chế bớt hậu quả mà cơ chế thị trường để lại.
Thứ năm, công tác dự báo phục vụ cho công tác lập KH phát triển KTXH còn
nhiều hạn chế. Các thông tin về KTXH trong quá trình xây dựng và tổng hợp KH chưa
mang tính thống nhất, chưa bao quát được các lĩnh vực, nhatas là các lĩnh vực xã hội
hữu quan và cộng đồng dân cư về công tác lập KH của địa phương. Kế hoạch hóa là
một công cụ chủ yếu của công tác quản lý. Trong điều kiện chuyển đổi nền kinh tế
sang cơ chế thị trường hiện nay hiện nay ở nước ta thì công tác kế hoạch hóa dường
như bị xem nhẹ. Mặc dù, trong thời gian gần đây đã có sự chú ý đến, song công tác lập
kế hoạch phát triển KTXH vẫn chưa đáp ứng nhu cầu và mang nặng tính chất trong cơ
chế cũ. Như vậy. một vấn đề đặt ra là cần phải đổi mới tư duy và nhận thức trong lập
kế hoạch. Đổi mới tư duy kế hoạch thực chất là thay đổi nhận thức về vai trò, chức
năng, nhiệm vụ, cách thức tiến hành lập kế hoạch cho phù hợp với tình hình thực tiễn
phát triển KTXH của địa phương. Thay đổi tư duy kế hoạch là tiền đề cho đổi mới nội
dung, phương pháp, quy trình cũng như cách thức tổ chức, điều hành kế hoạch. Từ đó,
mới có thể nâng cao vai trò quan trọng của kế hoạch cấp huyện, đưa nó trở thành một
công cụ hữu ích của chính quyền đưa kinh tế xã hội của địa phương phát triển đi lên.
Thứ hai, việc lập kế hoạch ở huyện phải đảm bảo cho kế hoạch có tầm nhìn
chiến lược dài hạn của địa phương. Hoạt động của cơ chế thị trường hiện nay có một
nhược điểm lớn đó là tính thiển cận, chú trọng quá mức vào những lợi ích ngắn hạn,
trước mắt mang tính cá nhân mà thiếu đi cái tổng thể, dài hạn mang tính xã hội. Với tư
cách là người chăm lo cho lợi ích của toàn thể nhân dân trên địa bàn thì chính quyền
huyện cần có một tầm nhìn dài hạn, tổng thể, vạch sẵn hướng đi phát triển lâu dài của
huyện.
Thứ ba, để KH trở thành một công cụ quản lý nhà nước hữu ích ở huyện thì việc
lập kế hoạch phải dựa trên các nguồn lực tại địa phương. Một trong những nhược điểm
lớn trong các KH phát triển KTXH của huyện là sự thiếu gắn kết giữa các mục tiêu kế
hoạch với tổng thể nguồn lực tại địa phương. Vì vậy, các mục tiêu kế hoạch thiếu tính
khả thi và mang nặng tính hình thức. Do đó, việc lập kế hoạch gắn với nguồn lực là
một yêu cầu cấp thiết trong công tác lập kế hoạch hiện nay. Việc lập kế hoạch gắn với
nguồn lực, trong đó không chỉ nguồn lực tự nhiên, vật chất và tài chính, mà tất cả các
nguồn lực khác và con người, thể chế, xã hội cần được phát huy tối đa, sẽ tạo ra một
bản kế hoạch đảm bảo các cơ chế, chính sách vững chắc. Đặc biệt đối với nguồn lực
tài chính, trong bản kế hoạch đó thể hiện rõ những hoạt động nào sẽ được đảm bảo từ
tiến trình phát triển kinh tế-xã hội. Trong bối cảnh nền kinh tế thị trường hiện nay,
những yêu cầu hoàn thiện công tác lập kế hoạch ở cấp huyện là cấp thiết. Chỉ khi nào
đáp ứng được các yêu cầu đó thì KH phát triển KTXH cấp huyện mới trở nên là một
công cụ quản lý hữu hiệu đối với hoạt động quản lý Nhà nước của chính quyền địa
phương.
1.2.5 Sự cần thiết phải hoàn thiện công tác lập kế hoạch phát triển kinh tế - xã
hội ở huyện Yên Châu – Sơn La.
Trong hệ thống KHH ở Việt Nam, kế hoạch đóng vai trò là công cụ quản lý, tổ
chức triền khai, theo dõi đánh giá các hoạt động kinh tế xã hội trong từng giai đoạn
nhất định. Hiện nay, trong quá trình chuyển đổi nền kinh tế tập trung sang nền kinh tế
thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa có sự điều tiết của nhà nước, thì yêu cầu đặt ra
đối với công cụ kế hoạch là phải có những thay đổi cần thiết đáp ứng những đòi hỏi và
điều kiện mới trong quá trình chuyển đổi. Muốn đáp ứng được những yêu cầu đó, đòi
hỏi hoàn thiện và đổi mới mạnh hơn nữa công cụ quản lý, đặc biệt là công cụ kế hoạch
hóa. Công tác lập KH phát triển KTXH cấp huyện là một bộ phận trong hệ thống kế
hoạch phát triển KTXH quốc gia, hoàn thiện công tác lập kế hoạch được diễn ra trên
tất cả mọi bộ phận của hệ thống kế hoạch phát triển, nên hoàn thiện công tác lập kế
KH phát triển KTXH cấp huyện là một yêu cầu tất yếu.
Ở vị trí nằm trên quốc lộ 6- tuyến đường giao thông huyết mạch nối các tỉnh Tây
Bắc với Hà Nội, đồng thời là huyện nằm giữa cao nguyên Mộc Châu với cao nguyên
Sơn La, nên huyện Yên Châu giữa vai trò trọng yếu trong phát triển kinh tế xã hội của
tỉnh Sơn La, phát triển KHXH của huyện Yên Châu cũng sẽ đóng góp một phần vào
phát triển KTXH của đất nước.
Mặt khác, so với Trung ương, khả năng chủ động về sử dụng các công cụ vĩ mô
của các chính quyền địa phương là rất hạn chế và càng xuống thấp thì lại càng hạn chế
hơn. Chẳng hạn, Chính phủ có thể sử dụng các công cụ như chính sách tài chính, chính
sách tiền tệ, điều chỉnh tỷ giá hối đoái, thay đổi thể chế và ra lệnh đối với các công ty,
tập đoàn kinh tế…thì các địa phương hầu như không có các công cụ đó. Các công cụ
quản lý vĩ mô nền kinh tế của tỉnh, huyện, xã do dó mà hẹp hơn, và ngày càng hẹp hơn
khu vực đệm giữa 2 cao nguyên Nà sản và Mộc châu, phía đông giáp huyện Mộc châu,
phía tây giáp huyện Mai sơn, phía bắc giáp huyện Bắc Yên, phía nam có 47 km đường
biên giới tiếp giáp với nước CHDCND Lào.
Huyện có 5 dân tộc, trong đó cơ cấu dân tộc Thái: 53,5 %; Dân tộc Kinh 20,5 %;
Dân tộc H
’
mông12,7 %; Dân tộc Sinh mun 12,86 % và dân tộc Khơ mú 0,44 %. Mật
độ dân số 68 người/km
2
, trong đó các xã vùng cao Biên giới mật độ 52 người/km
2
.
Huyện Yên Châu được chia thành 15 đơn vị hành chính trực thuộc gồm các xã đó
là: Chiềng Đông, Chiềng Sàng, Chiềng Pằn, Viêng Lán, Thị Trấn Yên Châu, Chiềng
Khoi, Sặp Vạt, Chiềng Hặc, Tú Nang, Mường Lựm, Lóng Phiêng, Chiềng Tương,
Phiêng Khoài, Chiềng On và Yên Sơn.
2.1.1.2 Địa hình
Địa hình chia cắt và chia thành 2 vùng rõ rệt: Vùng lòng chảo Yên Châu và vùng
cao biên giới. Vùng lòng chảo có 9/15 xã (Vùng dọc quốc lộ 6) xen giữa 2 cao nguyên
Mộc châu và Nà Sản nằm ở độ cao trung bình 400 m so với mặt biển. Vùng cao biên
giới có 6/15 xã ( là các xã Đặc biệt khó khăn và vùng cao Biên giới), nằm ở độ cao từ
900 – 1000 m so với mặt nước biển, các xã cách trung tâm huyện từ 30 -70 km và ô tô
chỉ đến các xã được vào mùa khô.
Giữa 2 vùng khác nhau về điều kiện đất đai, địa hình, thời tiết khí hậu và trình độ
dân trí khác nhau nên huyện được chia ra làm 2 vùng kinh tế, là Vùng dọc Quốc lộ 6
và Vùng cao Biên giới.
2.1.1.3 Tài nguyên thiên nhiên
● Khí hậu thời tiết
Huyện thuộc vùng khí hậu nhiệt đới chia thành 2 mùa rõ rệt: Mùa mưa từ tháng
chiếm 20,13 %
2 Đất đang sản xuất Lâm nghiệp: 28.709,2 ha
chiếm 34,00 %
3 Đất dân cư nông thôn: 399,62 ha
chiếm 0,47 %4 Đất đô thị: 45,45 ha
chiếm 0,053 %
5 Đất chuyên dùng: 1.695,8 ha
chiếm 2,0 %
6 Đất chưa sử dụng: 36.528,4 ha
chiếm 43,27 %● Tài nguyên nước
* Vùng quốc lộ 6: Có 2 hệ thống suối chính: Hệ thống suối Sặp và hệ thống suối
Vạt. Hệ thống suối Sặp bắt nguồn từ Mộc Châu và các nhánh khác nhập về: Huổi Tô
Buông, Huổi Nà Ngà, Suối Phà. . . và hợp với suối Vạt ở khu Sặp Vạt. Trữ lượng nước
nhiều nhưng giá trị sử dựng của suối này còn thấp, chưa được khai thác hết tiềm năng
của nguồn nước, chủ yếu là phục vụ cho sinh hoạt và nuôi cá lồng. Hệ thống suối Vạt