đánh giá hiệu quả giảm đau trong chuyển dạ đẻ bằng gây tê ngoài màng cứng levobupivacain phối hợp với fentanyl ở các nồng độ và liều lượng khác nhau - Pdf 20


1
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y HÀ NỘI
[\ TRẦN VĂN QUANG ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ GIẢM ĐAU TRONG CHUYỂN DẠ ĐẺ
BẰNG GÂY TÊ NGOÀI MÀNG CỨNG LEVOBUPIVACAIN
PHỐI HỢP VỚI FENTANYL Ở CÁC NỒNG ĐỘ VÀ LIỀU
LƯỢNG KHÁC NHAU
LUẬN VĂN THẠC SĨ Y HỌC
HÀ NỘI - 2011

2
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc của mình tới:
Giáo sư Nguyễn Thụ, Chủ tịch hội Gây mê hồi sức Việt Nam, nguyên Trưởng Bộ
môn Gây mê hồi sức, người thầy đã hết lòng dạy dỗ, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học
tập. Thầy đã đóng góp nhiều ý kiến quý báu giúp tôi hoàn thành luận văn này.
Phó giáo sư – Tiến sĩ Nguyễn Hữu Tú, Phó hiệu trưởng nhà tr
ường, Trưởng Bộ
môn Gây mê hồi sức, người thầy đã tận tình hướng dẫn, truyền đạt cho tôi kiến thức và
lòng yêu nghề, giúp tôi hoàn thành luận văn này.
Tiến sĩ Bùi Ích Kim, người thầy đã dành nhiều sự quan tâm, giúp đỡ, động viên,
trực tiếp hướng dẫn và tạo mọi điều kiện thuận lợi giúp tôi hoàn thành luận văn này.
BSCK II. Lê Thiện Thái, Trưởng khoa Đẻ Bệnh viện Phụ sản Trung
ương người
thầy đã truyền cho tôi lòng hăng say công việc, tinh thần trách nhiệm với người bệnh và
nhiều kiến thức quý báu giúp tôi hoàn thành luận văn này.
Ths. Nguyễn Hoàng Ngọc, Trưởng khoa và Ths. Nguyễn Thế Lộc, Phó khoa Gây
mê Bệnh viện Phụ sản Trung ương đã hướng dẫn và tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tôi
trong quá trình học tập và nghiên cứu.
Để hoàn thành luận văn này tôi xin đượ
c chân thành cảm ơn:
Các thầy trong hội đồng khoa học bảo vệ luận văn đã đóng góp cho tôi những ý
kiến quý báu để luận văn được hoàn thiện hơn.
Các thầy, cô trong Bộ môn Gây mê hồi sức, các anh chị em khoa Gây mê hồi sức
và khoa Đẻ Bệnh viện Phụ sản Trung ương đã hướng dẫn và tạo mọi điều kiện thuận lợi
cho tôi trong quá tình học tập và nghiên cứu.
Ban giám hiệu, Phòng sau
đại học Trường Đại học Y Hà Nội.
Ban Giám đốc Bệnh viện Đa khoa tỉnh Vĩnh Phúc và toàn thể đồng nghiệp khoa
Cấp cứu đã ủng hộ, động viên khích lệ tôi, tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tôi trong học
tập và trong cuộc sống.
Tôi cũng xin được cảm ơn sự hợp tác của các bệnh nhân, chính họ là niềm vui, là động

Trần Văn Quang

5
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

ASA : American Society of Anesthesiologists - Phân loại sức khỏe theo Hiệp hội
gây mê Mỹ.
BN : Bệnh nhân.
BTĐ : Bơm tiêm điện.
CD : Chuyển dạ.
CĐCC : Cường độ cơn co.
cm : Centimet.
CS : Cộng sự.
CTC : Cổ tử cung.
g : Gram.
GĐ : Giai đoạn.
GMHS : Gây mê hồi sức.
NMC : Ngoài màng cứng.
h : Giờ.
HA : Huyết áp.
HAĐMTB : Huyết áp động mạch trung bình.
M : Mạch.
mg : Miligam.
µg : Microgam.
ml : Mililit.
NMC : Ngoài màng cứng.
TB : Tiêm bắp.
TL : Thắt lưng.
TS : Tủy sống.
TSCC : Tần số cơn co.

t sống và các khoang 29
1.4.2. Cơ chế tác dụng của thuốc tê trong khoang NMC 30
1.4.3. Các yếu tố ảnh hưởng tới phân bố thuốc tê trong khoang NMC 31
1.4.4. Tác động của gây tê NMC lên huyết động 32
1.4.5. Tác động của gây tê NMC lên hô hấp 32
1.4.6. Tác động của gây tê NMC lên tiêu hóa 33
1.5. ĐẶC ĐIỂM CỦA GÂY TÊ NMC TRONG CHUYỂN DẠ ĐẺ 33
1.5.1. Ảnh hưởng của chuyển dạ đối với gây tê NMC 33
1.5.2. Ảnh hưởng của gây tê NMC đối với chuyể
n dạ 33
1.6. DƯỢC LÝ HỌC CỦA THUỐC LEVOBUPIVACAIN 34
1.6.1. Nguồn gốc 34
1.6.2. Công thức hóa học 34

7
1.6.3. Tính chất hóa học 34
1.6.4. Cơ chế tác dụng 34
1.6.5. Dược động học 36
1.6.6. Dược lực học
36
1.7. DƯỢC LÝ HỌC CỦA FENTANYL 37
1.7.1. Dược động học 37
1.7.2. Dược lực học 38
CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 40
2.1. Địa điểm nghiên cứu 40
2.2. Đối tượng nghiên cứu 40
2.2.1. Tiêu chuẩn lựa chọn 40
2.2.2. Tiêu chuẩn loại trừ 40
2.3. Phương pháp nghiên cứu 41
2.3.1. Thiết kế nghiên cứu 41

3.2.2. Tác dụng của gây tê NMC trên huyết động 60
3.2.3. Tác động của gây tê NMC trên hô hấp 64
3.2.4. Tác dụng của gây tê NMC lên cuộc chuyển dạ và trẻ sơ sinh 65
3.3. CÁC TÁC DỤNG KHÔNG MONG MUỐN 68
3.3.1. Đánh giá mức độ phong b
ế vận động theo tiêu chuẩn Bromage 68
3.3.2. Tác động của gây tê NMC lên cơn co tử cung 68
3.3.3. Các tác dụng không mong muốn khác 70
CHƯƠNG 4: BÀN LUẬN 73
4.1. ĐẶC ĐIỂM CỦA ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU VÀ KỸ THUẬT
GÂY TÊ NMC 73
4.1.1. Đặc điểm của đối tượng nghiên cứu 73
4.1.2. Đặc điểm về gây tê NMC 74
4.2. HIỆU QUẢ CỦA GÂY TÊ NMC 76
4.2.1. Tác dụng giảm đau 76
4.2.2. Tác dụng của gây tê NMC trên huyết động của sản phụ 81
4.2.3. Tác dụng của gây tê NMC trên hô hấp của sản phụ 85
4.2.4. Tác dụng của gây tê NMC đối với cuộc chuyển dạ 86
4.3. CÁC TÁC DỤNG KHÔNG MONG MUỐN 90
4.3.1. Mức độ phong bế vận động 90
4.3.2. Tác động của gây tê NMC trên cơn co tử cung 90
4.3.3. Các tác dụng không mong muốn khác 92
4.3.5. Cách đẻ 93
KẾT LUẬN 94
KIẾN NGHỊ 96
TÀI LIỆU THAM KHẢO

9
DANH MỤC BẢNG


Bảng 3.18. Mức độ phong bế vận động theo tiêu chuẩn Bromage trong giai
đoạn I
b
và giai đoạn II của chuyển dạ. 68
Bảng 3.20. Tác động của gây tê NMC lên tần số cơn co 68
Bảng 3.21. Tác động của gây tê NMC lên cường độ cơn co 69
Bảng 3.22. Các tác dụng không mong muốn khác 70
Bảng 3.23. Phản xạ mót rặn 71
Bảng 3.24. Khả năng rặn đẻ 71
Bảng 3.25. Cách đẻ 72

10
DANH MỤC BIỂU ĐỒ Biểu đồ 3.1. Vị trí gây tê 53
Biểu đồ 3.2. Thời gian chờ tác dụng giảm đau 56
Biểu đồ 3.3. Điểm đau VAS trung bình trong các giai đoạn 59
Biểu đồ 3.4. Sự thay đổi về tần số tim của sản phụ 61
Biểu đồ 3.5. Sự thay đổi về huyết áp động mạch trung bình 63
Biểu đồ 3.6. Chỉ số Apgar của trẻ
sơ sinh ở cả 3 nhóm 67 11
DANH MỤC HÌNH

Hình 1.1. Cơn co tử cung và tần số tim thai 19
Hình 1.2. Sơ đồ dẫn truyền cảm giác đau theo Kehlet 27
Hình 1.3. Sơ đồ cơ chế tác dụng của Levobupivacain 35

năng các cơ quan.

Đau khi đẻ hay đau trong chuyển dạ cũng vậy, cơn đau còn
có thể làm cho cuộc chuyể
n dạ trở nên khó khăn và phức tạp hơn, nhất là
trong trường hợp sản phụ có các bệnh lý rối loạn chức năng từ trước. Ngoài ra
đau còn làm cho nhiều sản phụ không thể chịu nổi từ đó đã buộc các bác sĩ
sản khoa phải chỉ định phẫu thuật.
[36]
Hiện nay có nhiều phương pháp để giảm đau trong chuyển dạ đẻ, từ các
phương pháp không dùng thuốc như: thư giãn, tập thở, liệu pháp tâm sinh lý,
thôi miên, châm cứu… đến các phương pháp dùng thuốc như: thuốc mê hô
hấp, thuốc giảm đau trung ương, rồi đến các phương pháp gây tê vùng, gây tê
trục thần kinh, gây tê đám rối, gây tê NMC, gây tê tủy sống hay kết hợp giữa
gây tê NMC và gây tê tủy sống, BN tự kiểm soát đau qua đường tĩnh mạ
ch
hoặc ngoài màng cứng… Mỗi phương pháp đều có những ưu khuyết điểm
riêng trong đó phương pháp gây tê NMC được đánh giá là có nhiều ưu điểm
hơn cả. Gây tê NMC bằng Bupivacain phối hợp với Fentanyl để giảm đau
trong chuyển dạ đẻ đang được áp dụng rất rộng rãi với nhiều ưu điểm của

[1], [3], [29], [30], [50], [63], [64], [71]
.
Levobupivacain là một thuốc tê mới, là một phân nhánh S của
Bupivacain, thuốc có dược động học giống Bupivacain nhưng có tác dụng
giảm đau chọn lọc hơn nên ít ức chế vận động hơn, đặc biệt là ít gây độc tính
trên tim mạch và thần kinh hơn
[33], [51]
. Ở Việt Nam Levobupivacain đã được
biết đến vài năm trở lại đây nhưng chưa được áp dụng rộng rãi, mặt khác các
14
CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN
1.1. LỊCH SỬ PHÁT TRIỂN CỦA PHƯƠNG PHÁP GIẢM ĐAU GÂY
TÊ NMC

1.1.1. Trên thế giới
Năm 1885, J. Leonard Corning, là người đầu tiên tiến hành tiêm cocain
hydroclorat vào khoang NMC của chó và cho thấy tác dụng giảm đau, khi đó
ông cho rằng các thuốc tê đã hấp thu vào hệ thống mạch máu ở trong ống sống.
Năm 1921, Dogliotti và Aburl nghiên cứu chi tiết về giải phẫu sinh lý
vùng ngoài màng cứng. Cũng năm này, Fidel Pages, phẫu thuật viên người
Tây Ban Nha, là người đầu tiên đưa thuốc tê vào khoang ngoài màng cứng
qua vùng cột sống thắt lưng, ông gọi đó là “gây tê phân đốt”.
Trong những năm của thập kỷ 30, thế kỷ XX, phương pháp gây tê NMC
được hoàn thiện, nâng cao và phổ biến rộng rãi nhờ các tác giả: Dogliotti,
Hess, Odem, Alejar, Bromage,… với kỹ thuật mất sức cản để xác định
khoang ngoài màng cứng
[25], [40]
.Năm 1949, Curbelo ở Cuba thực hiện công trình nghiên cứu đầu tiên về
luồn catheter vào khoang NMC để gây tê NMC liên tục. Trong cùng năm đó, do
sự ra đời của kim Tuohy cùng với kỹ thuật luồn catheter để bơm thuốc liên tục
nhằm đáp ứng những phẫu thuật kéo dài, phương pháp gây tê NMC qua vùng
thắt lưng đã có bước tiến triển lớn về tính hiệu quả và độ an toàn. Palonsky
(1949) đã nhận xét: “Tính ưu việt của phương pháp này là vô c

.
Kể từ đó vấn đề phối hợp thuốc tê với thuốc giảm đau trung ương và các
quan điểm về gây tê NMC để giảm đau trong chuyển dạ đã được củng cố
vững chắc dựa trên tác dụng của thuốc tê và quá trình chuyển dạ.
1.1.2. Tại Việt Nam
Gây tê NMC tiến hành vào những năm 1960, phần lớn được tiến hành ở
viện Quân Y.
Năm 1963, Trương Công Trung là ngườ
i đầu tiên áp dụng và phổ biến
phương pháp gây tê NMC.
Năm 1984, Tôn Đức Lang và cộng sự đã nghiên cứu về đặc điểm khoang
ngoài màng cứng và ứng dụng vào gây tê NMC
[14], [15]
.
Năm 1998, Tô Văn Thình và cộng sự thực hiện luồn catheter ngoài màng
cứng để giảm đau sản khoa trên 62 bệnh nhân tại Bệnh viện Hùng Vương, TP
Hồ Chí Minh
[25]
.
Năm 2001, Tô Văn Thình và cộng sự đã áp dụng giảm đau trong sản
khoa bằng bơm liên tục vào khoang ngoài màng cứng với hỗn hợp Bupivacain

16
0,125% và Fentanyl 1µg/ml, tốc độ 6 - 8ml/h đã giúp cho các sản phụ trải qua
cuộc chuyển dạ không đau, độ an toàn cao và nhất là tránh được các tai biến
sản khoa
[27]
.
Năm 2001, Lê Minh Đại xuất bản sách “Gây mê hồi sức cấp cứu trong
sản khoa” đã mô tả chi tiết về sinh lý, đặc điểm và các kỹ thuật áp dụng giảm

những tai biến, biến chứng

17
1.2. SINH LÝ CHUYỂN DẠ ĐẺ
[10]
1.2.1. Định nghĩa
- Chuyển dạ là một quá trình sinh lý làm cho thai và phần phụ của thai
được đưa ra khỏi đường sinh dục của người mẹ.
- Đẻ thường là cuộc chuyển dạ đẻ diễn ra bình thường theo sinh lý.
- Đẻ khó là cuộc chuyển dạ đẻ mà các giai đoạn của cuộc chuyển dạ và các
thành phần tham gia vào cuộc đẻ (thai nhi, khung chậu, cơn co tử cung, rặn đẻ )
diễn ra không bình thường, cầ
n có sự can thiệp của người thầy thuốc.
1.2.2. Nguyên nhân
Cho đến nay cơ chế chính xác của sự phát minh cuộc chuyển dạ đẻ vẫn
chưa được biết rõ và đầy đủ. Tuy nhiên có một số giả thuyết được nhiều
người chấp nhận.
1.2.2.1. Prostaglandin
- Prostaglandin là những chất có thể làm thay đổi hoạt tính co bóp của cơ
tử cung. Sự sản xuất PGF2 và PGE2 tăng dần trong quá trình thai nghén và
đạt tới giá trị
cao trong nước ối, màng bụng và trong cơ tử cung vào lúc bắt
đầu chuyển dạ.
- Người ta có thể tiêm Prostanglandin để gây chuyển dạ dù thai ở bất kỳ
tuổi nào.
- Sử dụng các thuốc đối kháng với Prostanglandin có thể làm ngừng cuộc
chuyển dạ.
- Các Prostanglandin làm mềm cổ tử cung do tác dụng lên chất collagene
của cổ tử cung.
1.2.2.2. Estrogen và Progesteron

đầu chuyển dạ đến khi cổ tử cung mở được 3 cm. Ở thời điểm này cơn co tử
cung thường thưa và nhẹ nên sản phụ chỉ đau nhẹ hoặc vừa.
+ Giai đoạn Ib: Pha chuyển dạ tích cực, tính từ khi cổ tử cung
mở được 3 cm đến khi mở hết. Giai đoạn này sản phụ đau nhiều và càng ngày
càng đau dữ dội, vì vậy cầ
n can thiệp giảm đau ở giai đoạn này.
+ Giai đoạn II: Giai đoạn sổ thai
- Giai đoạn sổ thai được tính từ khi cổ tử cung mở hết đến khi thai
được sổ ra ngoài. Giai đoạn này ngắn hơn giai đoạn 1 nhiều, thời gian cho
phép ở giai đoạn này là 1h, nếu quá 1h mà thai không sổ phải can thiệp thủ

19
thuật sản khoa vì rặn đẻ kéo dài thai sẽ suy. Giai đoạn này sản phụ đau nhiều
hoặc đau rất nhiều.
+ Giai đoạn III: Giai đoạn sổ rau
- Giai đoạn này được tính từ sau khi sổ thai đến khi rau sổ hoàn toàn,
giai đoạn này ngắn nhất thường < 30 phút và không gây đau.
1.2.4. Triệu chứng của chuyển dạ
1.2.4.1. Cơn co tử cung
- Cơn co tử cung là động l
ực của chuyển dạ đẻ. Nếu không có cơn co tử
cung thì cuộc đẻ không xảy ra. Rối loạn co bóp của tử cung có thể làm cho cuộc
chuyển dạ kéo dài hoặc gây ra các tai biến cho người mẹ hoặc cho thai nhi.
- Cơn co tử cung làm thay đổi ở người mẹ: Đó là hiện tượng xóa mở cổ
tử cung, thành lập đoạn dưới và thay đổi ở đáy chậu trong thời kỳ sổ thai.
- Đối với thai nhi và phần phụ: Cơn co tử làm đầu ối được thành lập, đẩy
thai nhi từ trong buồng tử cung ra ngoài, làm cho rau thai và màng rau bong,
xuống và sổ ra ngoài.
- Các phương pháp đánh giá cơn co tử cung:
+ Phương pháp ghi ngoài: Đặt 1 trống Marey ở đáy tử cung và đo áp

dài 15 - 20 giây, về sau kéo dài 30 - 40 giây ở cuối giai đoạn 1.
+ Tần số cơn co tử cung tăng dầ
n lên trong quá trình chuyển dạ. Khi mới
chuyển dạ cứ 10 - 15 phút mới có một cơn co, về sau khoảng cách giữa các
cơn co ngắn lại. Khi cổ tử cung mở hết cứ 2 phút có một cơn co.
- Cơn co tử cung xuất hiện tự nhiên ngoài ý muốn của sản phụ. Điểm
xuất phát của cơn co tử cung nằm ở một trong hai sừng của tử cung. Thông
thường điểm xuấ
t phát của cơn co từ sừng bên phải.
- Cơn co tử cung có tính chất 3 giảm:

21
+ Áp lực giảm từ trên xuống dưới, cao nhất ở đáy tử cung rồi giảm
dần xuống dưới đến lỗ ngoài tử cung thì bằng không.
+ Thời gian co bóp của cơ tử cung giảm từ trên xuống dưới.
+ Sự lan truyền của cơn co tử cung cũng giảm từ trên xuống dưới.
- Số lượng cơn co tử cung trong một cuộc chuyển dạ thay đổ
i từ 70 - 180
tùy thuộc từng trường hợp.
- Các hình thái của cơn co tử cung: Có 4 loại cơn co tử cung:
+ Loại 1: Cơn co có dạng hình chuông. Pha tăng áp lực tương xứng
với pha giảm áp lực. Giữa các cơn co là thời gian nghỉ. Áp lực cơn co ở thời
gian nghỉ bằng trương lực cơ bản.
+ Loại 2: Thường hay gặp. Pha tăng áp lực ngắn, pha giảm áp lực dài.
Cơn co kéo dài cho đến khi có cơn co mới.
+ Loại 3: Cơn co này ngược với cơn co loại 2. Pha tăng áp lực kéo
dài, pha giảm áp lực ngắn và đột ngột.
+ Loại 4: Loại này hiếm, xen kẽ giữa 2 loại cơn co.
+ Trong chuyển dạ bình thường hay gặp hay gặp cơn co loại 1 và loại 2.
1.2.4.2. Sự thay đổi của sản phụ do tác dụng của cơn co tử cung

- Tầng sinh môn trước phồng to lên, vùng hậu môn- âm hộ dài gấp
đôi (từ 3 - 4 cm đến 12 - 15 cm).
- Tầng sinh môn sau bị ngôi thai làm giãn rộng ra. Lỗ hậu môn mở
rộng xóa hết các nếp nhăn. Âm môn mở rộng, thay
đổi hướng dần nằm ngang.
+ Thay đổi về hô hấp:
Sự tăng thông khí trong cơn co tử cung gây nên tình trạng kiềm hô hấp.
Ngược lại trong lúc rặn đẻ có thể tăng PaCO
2
và nhiễm toan chuyển hóa.
+ Thay đổi về tuần hoàn:
- Khi sản phụ nằm ngửa, tĩnh mạch chủ bụng dễ bị chèn ép làm giảm
tuần hoàn rau thai dẫn đến suy thai. Vì vậy nên cho sản phụ nằm nghiêng trái.
- Các cơn co tử cung mạnh hoặc rặn đẻ gắng sức sẽ chèn ép động
mạch chủ bụng làm giảm lưu lượng tuần hoàn rau thai gây suy thai.
- Khi gây tê TS hoặc gây tê NMC gây giảm huyết áp c
ũng có thể dẫn
đến suy thai.
- Mẹ bị chảy máu nhiều cũng có thể dẫn đến suy thai.

23
1.2.4.3. Sự thay đổi của thai và phần phụ
+ Sự thay đổi của thai:
- Áp lực của cơn co tử cung đẩy thai nhi từ trong buồng tử cung ra
ngoài theo cơ chế đẻ.
- Khi đoạn dưới được thành lập, ngôi thai cũng dần dần tụt xuống áp
sát vào đoạn dưới và cổ tử cung tạo điều kiện cho việc mở cổ tử cung.
- Trong quá trình chuyển dạ
thai nhi có hiện tượng uốn khuôn.
- Hiện tượng chồng xương sọ: Hộp sọ của thai nhi giảm bớt kích

. Ối vỡ non là vỡ ối khi chưa chuyển dạ.
1.2.4.4. Cơn co thành bụng
- Trong giai đoạn II của cuộ
c chuyển dạ đẻ, cơn co thành bụng phối hợp
với cơn co tử cung đẩy thai ra ngoài. Cơ thành bụng đẩy xuống thấp trong ổ
bụng. các cơ thành co lại làm giảm thể tích ổ bụng. Khi thể tích ổ bụng bị
giảm, áp lực của ổ bụng tăng lên ép vào đáy tử cung góp phần đẩy thai xuống.
- Áp lực cơn co tử cung ở cuối giai đoạn II đã tăng lên cao cùng v
ới cơn
co thành bụng làm cho áp lực trong buồng ối tăng lên tới 120 - 150 mmHg.
- Như vậy áp lực do cơn co thành bụng tạo ra rất cao.
- Áp lực của cơn co thành bụng do sản phụ rặn đẻ tạo ra. Do đó phải hướng
dẫn cách rặn đẻ cho sản phụ thì việc rặn đẻ mới có hiệu quả. Đây cũng là lý do
cần giảm liều thuốc tê để không làm mất tác dụng của c
ơn co thành bụng.
1.2.4.5. Rau bong và sổ rau
- Đây là giai đoạn 3 của cuộc chuyển dạ, giai đoạn này không đau.
- Sau khi sổ thai, cơn co tử cung vẫn tiếp tục sau một giai đoạn nghỉ ngơi
sinh lý làm cho rau thai và màng rau bong ra, xuống dần trong đường sinh dục
của người mẹ và sổ ra ngoài. Tử cung co chặt lại gây tắc mạch sinh lý làm
thành khối an toàn để cầm máu sau khi rau sổ.
1.2.4.6. Thời gian chuyển dạ
- Thời gian chuyển d
ạ ở con so trung bình từ 16 - 20 giờ.
- Thời gian chuyển dạ ở con rạ trung bình từ 8 - 12 giờ.
- Các cuộc chuyển dạ qúa 24 giờ gọi là chuyển dạ kéo dài.

25
- Đối với sản phụ: Chuyển dạ kéo dài làm kiệt sức, rặn đẻ yếu, nguy cơ
đờ tử cung, chảy máu sau đẻ và nhiễm khuẩn hậu sản cao.

cung, bị thiếu máu hoặc bị viêm, khi cơn co tăng, không có thời kỳ nghỉ bù
cùng với sự toan hóa tại chỗ.

Trích đoạn Nguồn gốc của đau trong chuyển dạ ĐẶC ĐIỂM CỦA GÂY Tấ NMC TRONG CHUYỂN DẠ ĐẺ Đối tượng nghiờn cứu Phương phỏp nghiờn cứu
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status