CÁC HÌNH THỨC SINH SẢN CỦA SINH VẬT doc - Pdf 20

CÁC HÌNH THỨC SINH SẢN CỦA SINH VẬT

1. Sinh sản vô tính
Sinh sản vô tính là hình thức sinh sản mà trong đó không có sự kết hợp giữa
các yếu tố đực và yếu tố cái (không qua thụ tinh). Có 3 hình thức sinh sản vô
tính.
a) Sự phân đôi: là hình thức sinh sản phổ biến nhất của những sinh vật bậc
thấp (vi khuẩn, thực vật va` động vật đơn bào). Cơ thể mẹ tự co thắt ở giữa
rồi tách làm 2 phần giống nhau, mỗi phần sẽ lớn dần lên cho tới lúc bằng
mẹ. Sự phân đôi tế bào bao gồm cả chất nguyên sinh, các bào quan và nhân.
Nhân của cá thể con vẫn giữ nguyên số nhiễm sắc thể là 2n, như của mẹ.
b) Sự sinh sản sinh dưỡng: là hình thức sinh sản của các cơ thể đa bào mà
trong đó các cá thể con được sinh ra từ các bộ phận sinh dưỡng của cơ thể
mẹ.
* Ở động vật: có 2 dạng sinh sản sinh:
- Sự nảy chồi là một phần nhỏ của cơ thể mẹ có thể lớn nhanh hơn những
vùng lân cận, để trở thành một cơ thể mới. Sau đó, cơ thể con có thể tiếp tục
sống bám trên mình cơ thể mẹ hoặc tách hẳn thành một cá thể độc lập. Ví
dụ, sự nảy chồi ở thuỷ tức. Ở thực vật, bèo tấm cũng sinh sản bằng nảy chồi.
- Sự tái sinh là khả năng mọc lại (tái tạo) những phần đã mất (đuôi, chi, )
của một số động vật. Khả năng tái sinh đó nếu đạt mức độ cao, có thể xem
như là một dạng sinh sản vô tính. Ví dụ, khi bọt biển, thuỷ tức, sao biển, đỉa
biển Planaria bị cắt thành nhiều mảnh vụn, mỗi mảnh sẽ mọc những phần
còn thiếu để tạo lại ,một cơ thể nguyên vẹn mới.
* Ở thực vật: Trong thiên nhiên, thực vật bậc cao có khả năng tạo những cơ
thể mới từ một phần của thân bò (rau má), thân rễ (cỏ gấu), thân củ (khoai
tây), thân hành (củ hành), rễ củ (khoai lang), lá (cây lá bỏng). Đó là những
hình thức sinh sản sinh dưỡng tự nhiên.
Trong trồng trọt, người ta thường nhân giống nhờ hiện tượng sinh sản sinh
dưỡng của thực vật, bằng cách cắt rời các phần nhỏ của cây mẹ để tạo thành
những cây con mới. Đó là sự sinh sản sinh dưỡng nhân tạo. Có 3 dạng sinh

Sự thụ tinh ở động vật hay thực vật là sự hoà làm một của 2 giao tử đực và
cái để tạo thành hợp tử.
Đối với các sinh vật bậc thấp ở nước, sự thụ tinh xảy ra trong môi trường
nước (cầu gai, sò, hến, rong biển ), còn với sinh vật bậc cao, sống ở cạn, sự
thụ tinh xảy ra trong cơ quan sinh dục cái.
c) Sự sinh sản hữu tính ở thực vật
* Tiếp hợp là hình thức sinh sản hữu tính sơ khai nhất ở thực vật. Cơ quan
sinh sản chưa phân hoá rõ ràng. Ví dụ: Sự tiếp hợp ở tảo xoắn. Hai sợi tảo
(đơn bội) áp sát nhau. Trên 2 tế bào đối diện, xuất hiện 2 u nhỏ mọc xích lại
gần nhau rồi nối liền với nhau thành một ống thông giữa 2 tế bào. Nhân và tế
bào chất của một trong 2 tế bào sẽ tràn vào trong ống rồi hoà vào nhân và tế
bào chất của tế bào kia tạo thành hợp tử (2n). Hợp tử phân chia 2 lần liên
tiếp để tạo thành 4 nhân đơn bội (n). Sau đó, 3 nhân bị thoái hoá, nhân còn
lại tạo thành tế bào mầm đơn bội (n) và tiếp tục lớn lên theo cơ chế nguyên
phân.
* Ở thực vật bậc cao (từ rêu trở lên), sinh sản hữu tính là một khâu không
thể thiếu được trong vòng đời của chúng
Sự xen kẽ thế hệ (thể giao tử và thể bào tử) cũng là sự xen kẽ giữa sinh sản
vô tính bằng bào tử và sinh sản hữu tính bằng giao tử.
* Ở cây xanh có hoa:
- Cơ quan sinh sản đực (nhị):
Nhị gồm bao phấn, mọc ở đầu cuống nhị. Bao phấn có 2 ngăn. Mỗi ngăn
chia thành 2 túi phấn chứa hạt phấn. Khi túi phấn chín sẽ mở để phóng thích
hạt phấn ra ngoài. Mỗi hạt phấn thường gồm 2 tế bào và có 2 lớp màng; lớp
ngoài dày và lớp trong mỏng.
Hạt phấn được hình thành từ các tế bào mẹ hạt phấn (2n). Mỗi tế bào mẹ
này cho ra 4 bào tử, tức 4 hạt phấn đơn bội (n), do kết quả của sự phân chia
giảm nhiễm. Mỗi hạt phấn chứa 2 nhân (một nhân sinh dưỡng và một nhân
sinh dục), bao quanh là chất nguyên sinh và ngoài cùng có vỏ bao bọc.
- Cơ quan sinh sản cái (nhụy):

thụ tinh nên được gọi là sự thụ tinh kép.
Sau khi thụ tinh, noãn sẽ biến đổi thành hạt. Hạt gồm có phôi, phôi nhũ và
vỏ bọc ngoài.
d) Sự sinh sản hữu tính ở động vật
* Ở động vật đơn bào ( sự tiếp hợp)
Hình thức sinh sản hữu tính đơn giản nhất của động vật là sự tiếp hợp ở
trùng đế giày. Trùng đế giày vốn có 2 nhân (1 nhân lớn, 1 nhân bé) đều
lưỡng bội. Khi sinh sản, 2 trùng đế giày áp sát vào nhau. Nhân bé giảm phân
cho 4 nhân nhỏ đơn bội, trong số đó có 3 nhân sẽ thoái hoá còn 1 nhân
nguyên phân một lần nữa để cho 2 nhân đơn bội. Một nhân sẽ di chuyển
sang trùng đế giày đối diện, nhân còn lại hoà hợp làm một (thụ tinh) với
nhân bé từ trùng đế giày kia di chuyển sang, tạo thành một nhân bé lưỡng
bội. Hai nhân lớn trong 2 trùng đế giày đều tiêu biến. Nhân bé mới hình
thành sẽ nguyên phân để cho nhân bé và nhân lớn mới. Sau đó 2 trùng đế
giày tách rời nhau. Mỗi trùng đế giày lại nguyên phân 1 lần nữa để cho 2
trùng đế giày con.
Như vậy trong sự tiếp hợp của trùng đế giày đã có đủ 2 quá trình giảm phân
và thụ tinh, đặc trưng cho sự sinh sản hữu tính.
* Ở động vật đa bào bậc thấp
Tất cả động vật đa bào (lưỡng bội – 2n) đều không qua quá trình giảm
phân hình thành giao tử đơn bội (n) và qua quá trình thụ tinh tạo thành hợp
tử (2n). Hợp tử nguyên phân liên tiếp để trở thành cơ thể mới có bộ NST
lưỡng bội (2n).
Trong quá trình tiến hoá của giới động vật đã thể hiện rõ: sự hoàn thiện
dần các cơ quan sinh sản có liên quan đến sự hoàn thiện dần các hình thức
thụ tinh, sự bảo vệ phôi và chăm sóc con non.
- Sự hoàn thiện cơ quan sinh sản:
+ Từ chỗ chưa có cơ quan sinh sản đến chỗ có cơ quan sinh sản chuyên biệt
+ Từ chỗ chưa phân hoá tính đực – cái (chưa phân biệt giao tử đực và giao
tử cái) đến chỗ phân hoá rõ ràng thành giao tử đực (tinh trùng) và giao tử cái


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status