Thực dân Pháp xâm lược Việt Nam - Pdf 20

Thực dân Pháp xâm lược Việt Nam .
Cuộc kháng chiến ở Đà Nẵng và Gia Định
( 1858-1859) 1. Âm mưu đánh nhanh thắng nhanh của Pháp
Nguyễn Ánh, sau khi lên ngôi (1802) lấy hiệu Gia Long đã có các chỉ dụ đặc biệt
ưu ái đối với các giáo sĩ người Pháp. Tuy vậy, sự hoạt động ráo riết của các thế lực
theo đạo thiên chúa và các cố đạo người Âu đã khiến Gia long lo ngại, cảnh giác
và đề phòng. Năm 1817. Gia long đã cự tuyệt việc yết kiến của phái bộ Pháp do
Lu-i XVIII cử đến, đồng thời cũng cự tuyệt luôn ý đồ của người Pháp muốn
thương thuyết trên cơ sở hiệp ước Véc xây. Nhưng rồi nước Pháp ngày càng bị tụt
hậu so với Anh về vấn đề thuộc địa, nhất là khi người Anh đã có mặt tại Sinhgapo
(1819) rồi đang ráo riết mở các cuộc tấn công vào nội địa Trung quốc - điều đó
càng khiến cho Pháp phải nhanh tay hành động, nhằm tìm cách đứng chân ở một
căn cứ nào đó gần bể Trung Quốc và sau đó tìm cách chiếm lấy một thuộc địa ở
gần Trung Quốc để có thể tham gia vào việc tranh chấp miếng mồi béo bở, đầy
hấp dẫn này.

Dưới thời Minh Mạng (1820-1840) đã mấy lần Pháp cử lãnh sự cùng Sứ giả sang
Việt Nam yêu cầu thông thương nhưng đã bị từ chối.
Lấy cớ triều đình Việt nam cự tuyệt bang giao và giết giáo sĩ, giáo dân, chính phủ
Pháp quyết định dùng vũ lực để thực hiện tham vọng của mình.
Về phía Việt nam thì từ năm 1840 khi Miên Tôn (Thiệu Trị) nối ngôi Phúc Đảm
(Minh Mạng), việc cấm đạo tuy có nới tay hơn, nhưng Pháp không vì thế mà
ngừng ý đồ xâm lược.

Vốn đã có dã tâm can thiệp vào công việc nội bộ Việt nam từ lâu và đã từng thị
phi về vấn đề kế vị Gia long(1), từng kích động sự chống đối của Lê Văn Duyệt
với Minh Mạng(2), nay Pháp lại tiếp tục sử dụng con bài công giáo để gây dư luận.


Nghe tin quân Pháp hành hung tại Đà Nẵng. Vua Thiệu Trị vô cùng tức giận đã hạ
dụ: ”cấm đạo sát tả” (cấm đạo, giết giáo dân) để đối phó, rồi ra lệnh cho các nơi
chỉnh trang quân bị, chế tạo thêm khí giới để chuẩn bị kháng chiến.

Tháng 11/1847 Hồng Nhậm (Tự Đức) lên ngôi. Lệnh cấm đạo vẫn tiếp tục được
duy trì và có phần còn ráo riết hơn trước. Các giáo sĩ ngoại quốc có nguy cơ không
còn chỗ dung thân. Chiến tranh tưởng chừng đã nổ ra đến nơi.Nhưng một lần nữa
ở châu Âu, cách mạng Pháp 1848 lại bùng nổ, tư bản Pháp mắc việc ở trong nước
nên chưa thực hiện được kế hoạch xâm lăng Việt Nam.

Năm 1852, Lu-i Bô-na-pác (Luis Bonaparte) được sự ủng hộ của cánh đại tư sản
phản động ở Pháp lên ngôi hoàng đế lập ra đế chế III, xưng là Na-pô-lê-ông III.
Việc chuẩn bị xâm lược Việt nam của Pháp được đẩy mạnh thêm một bước. Năm
1856 Mông-ti-nhi (De Montigni) được vua Pháp Na-pô-lê-ông III phái đến công
cán tại khu vực ấn Độ, Trung Quốc, mục đích là điều đình để ký các hiệp ước
thương mại thân thiện với Xiêm, thương nghị với vua Việt Nam về việc giao hiếu
và thông thương, nhưng vì mắc việc tại Xiêm, Môngtinhi đã phái Lơ-Li-ơ-dơ
(LeLieur) hạm trưởng tàu Catinat đem thư trước tới Việt Nam. Ngày 21/9/1856
tàu Catinat tới cửa biển Đà nẵng. Quan trấn thủ Đà Nẵng lại khước từ không tiếp
nhận bức thư của Pháp. Lơ-Li-ơ dơ tức giận sai phá các thành lũy của quân ta.
Ngày 24 tháng 10 năm 1856 một tuần dương hạm khác do Cô-li-ê chỉ huy lại đến
Đà nẵng trực tiếp gửi thư hăm doạ quan đầu tỉnh Quảng Nam. Sau đơ ít lâu, ngày
23/1/1857 Mông ti nhi tới Việt nam. Sau nửa tháng thương thuyết không có kết
quả Mông-ti-nhi bỏ về nước. Cùng về Pháp với Mông-ti-nhi có giám mục Pen-lơ-
ranh (Pellerin), bấy lâu nay vẫn lẩn lút ở Việt Nam và trốn được xuống tàu Catinat.
Pen-lơ-ranh đem tình hình cấm đạo và sát tả ở Việt Nam ra tuyên truyền rồi ra sức
xúi dục Chính phủ Pháp hành động bằng vũ lực.

Ngay sau đó, một cơ quan chuyên nghiên cứu vấn đề Việt Nam của Pháp đã được
lập ra vào ngày 22-4-1857 lấy tên là Uỷ ban Nam kì. Lá cờ ”bảo hộ công giáo”

Hoàng cứ án binh bất động. Chưa hết 2 giờ hẹn quân Pháp đã nổ súng dữ dội bẵn
phá các mục tiêu trên bờ rồi đổ bộ lên bán đảo Sơn Trà.

Quân các đồn bên ta bắn trả nhưng vì vũ khí lạc hậu nên không gây cho quân địch
tổn thất.

Được tin bán đảo Sơn Trà rơi vào tay giặc, Tự Đức lệnh cho các quân thứ cấp tốc
tiếp ứng. Nguyễn Tri Phương (đang làm kinh lược sứ lục tỉnh Nam Kì) được điều
ra làm Tổng thống quân thứ Quảng Nam, gấp rút chấn chỉnh quân ngũ và thống
nhất chỉ huy chống giặc. Nguyễn Tri Phương cho thực hiện kế hoạch gồm hai
điểm chính: Thứ nhất là tổ chức cho dân lùi sâu vào nội địa, làm vườn không nhà
trống, triệt để bất hợp tác với giặc. Thứ hai là triệt để phòng ngự, ra sức đào hào
đáp luỹ cản giặc, không cho giặc đánh lan ra.

Hưởng ứng kế hoạch của Nguyễn Tri Phương, các lực lượng dân binh cùng nhân
dân địa phương ra sức đào hào đắp lũy, phối hợp với quân của triều đình chặn
đánh tàu địch. Những đội dân quân bao gồm “tất cả những người không đau yếu
và tàn tật” được thành lập, chiến đấu vô cùng quả cảm.

Phối hợp với mặt trận Đà nẵng, nhân dân Nam bộ cùng với quân đội triều đình cơi
cao thêm thành lũy,củng cố thêm hệ thống phòng thủ. Đội nghĩa binh của Trương
Định được tập hợp, ra sức tập luyện, chuẩn bị đánh Pháp.

Tiếng súng xâm lăng của quân Pháp ở Đà Nẵng đã thổi bùng ngọn lửa yêu nước
trong nhân dân. Đốc học Nam Định Phạm Văn Nghị tập hợp 300 người - vốn là
những học trò của mình, khăn gói lên đường Nam tiến, xin Vua ra chiến trường
giết giặc.

Nhờ có sự ủng hộ tích cực của nhân dân, Nguyễn Tri Phương đã tạm thời đẩy lui
được quân địch ở Đà Nẵng, dồn chúng về phía biển. Thêm vào những tổn thất

thành lũy được xây dựng từ khi Nguyễn Ánh lấy lại được đất Nam Kỳ. Thời Minh
Mạng (1837) thành được xây lại, theo hình vuông, mỗi chiều 475 thước, tường
thành được xây bằng đá ong, gạch, đất

Lúc quân Pháp đến, trong thành có khoảng 1.000 quân Nguyễn và chứa đầy khí
giới, lương thực đủ cung cấp cho khoảng 10.000 quân giữ thành trong 1 năm.

Trận chiến diễn ra dữ dội trong suối buổi sáng ngày 17/2. Đến khoảng giữa trưa
quân ta phải rút, bỏ lại trong thành 200 đại bác bằng đồng và bằng gang, 20.000 vũ
khí các loại, 86.000 kg thuốc súng, 9 chiến thuyền đã đóng và đang đóng nằm
dưới ụ. Sau khi Gia Định thất thủ. Vũ Duy Ninh là quan trấn thủ thành sợ trách
nhiệm đã treo cổ tự tử, mở đầu cho một chuỗi tự sát của một bầy tôi bất lực dưới
trướng Tự Đức.

Trong khi quân Nguyễn liên tiếp thất bại, phải rút quân thì thực dân Pháp lại rơi
vào thiên la địa võng của cuộc chiến tranh nhân dân ở Nam bộ. Chúng phải giăng
lực lượng ra để đối phó với nhiều toán dân binh mọc lên ở khắp nơi ví như toán
quân của Lê Huy (trước là quân nhân bị thải hồi), toán quân của Trần Thiện Chính
(trước là tri huyện bị triều đình cách chức). Dân các vùng đất mà Pháp chiếm được
đều tự tay thiêu huỷ nhà cửa bỏ đi hoặc tự động tổ chức thành đội ngũ đánh giặc.

Giữa lúc đó, toán quân Pháp còn lại ở Đà nẵng cũng đang trong tình thế nguy cấp,
giặc phải gấp rút đưa đại binh từ Gia Định ra cứu viện chỉ để lại ở đây một lực
lượng nhỏ. Vừa ra đến Đà Nẵng, để củng cố tinh thần binh lính Giơ-nui-y quyết
định mở cuộc tấn công vào các đồn Điện Hải, Phúc Ninh, Thạch Giản, mong
giành lại thế chủ động nhưng bị thất bại. Gần 100 quân Pháp và Tây Ban Nha bỏ
mạng.

Trong tình thế hết sức khốn đốn: bị quân dân Việt Nam bao vây; viện binh không
có; chiến tranh Pháp - Áo đã nổ ở châu Âu từ tháng 4-1859; cuộc xung đột Anh -

tiêu diệt địch mà suốt trong 1 năm (1860) Nguyễn Tri Phương một mặt án binh bất
động, mặt khác chỉ chú tâm huy động quân đội và dân binh xây dựng Đại Đồn
(Chí Hòa) với thành lũy kiên cố, tưởng rằng như vậy sẽ có thể làm nản ý chí xâm
lăng của giặc. Sự sai lầm trong chiến lược phòng ngự bị động này đã khiến
Nguyễn Tri Phương đã không những không đuổi được 1.000 quân giặc đóng trên
phòng tuyến các chùa (từ Thị Nghè đến Mai Sơn) dài 10 cây số, có chỗ ta địch
cách nhau chưa đầy 500 mét, mà ngược lại, Đại đồn vô hình đã biến thành một cái
rọ 3 cây số vuông nhốt hàng ngàn binh lính, chuẩn bị làm mồi cho đạn đại bác có
hạt nổ của địch. (1) Vận động cho Đông cung Cảnh nối ngôi.
(2) Ngoài vụ này, Pháp còn nhúng tay vào cuộc khởi nghĩa ở Bắc thành năm
1826.Năm 1833-1836 chúng lại thâm nhập vào cuộc khởi nghĩa của Lê Văn Khôi
ở Gia Định
(3) Sau khi xin hòa với Tự Đức không thành, Ri Gô đờ Giơ nu y bị triệu hồi về
Pháp.Cuối năm 1859
Lơ-Pa-Giơ qua thay thế. Tháng 11-1859 Pa-Giơ tập trung lực lượng thử vượt đèo
Hải Vân nhưng không thành công.
Tháng 3-1860 Pa-Giơ quyết định rút toàn bộ lực lượng vào Gia Định. Giữa lúc đó
dân tâm Pháp, kể cả nghị viện Pháp lo ngại và bất bình về cuộc chiến tranh phiêu
lưu ở Việt nam. Pa Giơ đã trao cho Tôn Thất Cáp (quan đại thần triều Huế ) một
bức thư gồm 11 đề nghị đồng thời Pa-Gơ ra Đà Nẵng đi đường bộ tới Kinh thành,
trao thư của Chính phủ Pháp . Nội dung gồm mấy điểm :
-Pháp Nam giao hảo lâu dài
-Khoan xá kẻ đã cộng tác với Pháp.
-Không truy nã kẻ theo đạo,thả hết giáo sĩ bị bắt.
-Tự do thông thương, tự do giảng đạo, lập lãnh sự,mở cử hàng ở các bến cảng.
-Ký hòa ước
-Pháp lập tức rút chiến thuyền khỏi Gia Định.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status