1
CHƯƠNG VI
PHÁP LUẬT VỀ NGÂN SÁCH CỦA DOANH NGHIỆP
I. KHÁI NIỆM CHUNG VỀ NGÂN SÁCH CỦA DOANH
NGHIỆP:
1. Khái niệm:
Ngân sách doanh nghiệp là hệ thống các luồng chuyển dịch giá trị,
các luồng vận động và chuyển hóa các nguồn ngân sách trong quá trình
phân phối để tạo lập hoặc sử dụng các quỹ tiền tệ nhằm đạt tới những
mục tiêu kinh doanh của doanh nghiệp trong khuôn khổ cho phép của
pháp luật.
Về bản chất, ngân sách doanh nghiệp là một loại quan hệ tạo lập
phân phối sử dụng của cải dưới hình thức giá trị phát sinh trong quá
trình hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.
2. Sự cần thiết điều chỉnh bằng pháp luật đối với ngân sách của
doanh nghiệp.
Trong quá trình vận động và phát triển của nền kinh tế, hoạt động
ngân sách của doanh nghiệp đòi hỏi phải được điều chỉnh bằng pháp
luật.
- Xuất phát từ vai trò và vị trí hoạt động ngân sách doanh nghiệp
có ảnh hưởng đến sự chuyển dịch một phần của cải xã hội đòi hỏi Nhà
nước phải có cách thức tác động có hiệu quả nhất lên hoạt động này,
Pháp luật chính là công cụ có hiệu quả đáp ứng được yêu cầu đó.
- Trong nền kinh tế thị trường, phần lớn các quan hệ ngân sách
giữa các doanh nghiệp đòi hỏi phải thực hiện trên cơ sở tự nguyện, bình
đẳng. Pháp luật với những quy định cụ thể là cơ sở để bảo đảm thực hiện
yêu cầu đó.
2
1.2.1. Nguồn vốn thuộc sở hữu chủ:
Đây là nguồn vốn thuọc sở hữu của chủ doanh nghiệp. Đối với các
loại hình doanh nghiệp khác nhau, nguồn hình thành nguồn vốn này
cũng khác nhau.
Theo quy định của pháp luật, để được kinh doanh trong một lĩnh
vực cụ thể, nguồn vốn này phải đạt đến một mức độ nhất định.
Các doanh nghiệp thường xác định quy mô nguồn vốn chủ sở hữu
ở mức vừa phải để vừa tranh thủ các khoản nợ, làm tăng mức doanh lợi
vốn và vừa san sẻ rủi ro trong kinh doanh.
1.2.2. Các nguồn vốn tín dụng:
Vốn từ nguồn tín dụng là các khoản vốn mà doanh nghiệp có thể
huy động dưới hình thức vay của các ngân hàng thương mại, công ty tài
chính, công ty bảo hiểm, hoặc các tổ chức tài chính trung gian khác và
cũng có thể bằng hình thức doanh nghiệp phát hành trái phiếu để huy
động vốn cho đầu tư phát triển sản xuất kinh doanh.
Những hình thức tín dụng điển hình hiện nay bao gồm:
- Tín dụng ứng tiền qua tài khoản,
- Tín dụng cầm cố hoặc thế chấp tài sản.
- Tín dụng có bảo lãnh.
- Tín dụng thông qua chiết khấu.
- Tín dụng thương mại…
Hình thức tín dụng ứng tiền qua tài khoản thường được áp dụng
trong trường hợp giữa người cho vay và người đi vay đã hoàn toàn tin
4
tưởng lẫn nhau, và người đi vay phải có tài khoản tại một ngân hàng
nhất định, vì thế uy tín của người đi vay là điều kiện thay cho việc bảo
lãnh hoặc cầm cố, thế chấp tài sản.
Tín dụng thương mại cũng là một hình thức tín dụng khá phổ biến.
Khác với tín dụng ngân hàng, tín dụng thương mại là khoản vay tương
không bị thay đổi hình thái hiện vật nhưng năng lực sản xuất và giá trị
của chúng bị giảm dần, tức là tài sản cố định bị hao mòn. Có hai loại hao
mòn: Hao mòn hữu hình và hao mòn vô hình.
Những tài sản cố định có hình thái vật chất thường bị cả hai loại
hao mòn, còn những tài sản cố định có hình thái vật chất thì chỉ bị hao
mòn vô hình.
Bộ phận giá trị đại diện cho phần hao mòn được gọi là khấu hao.
Tiền khấu hao là một yếu tố chi phí sản xuất, một bộ phận của giá thành
sản phẩm. Khi sản phẩm được tiêu thụ, tiền khấu hao được trích lại để
hình thành quỹ khấu hao.
Quỹ khấu hao dùng để tái sản xuất giản đơn tài sản cố định nên
người ta còn gọi là quỹ khấu hao cơ bản.
Trong nền kinh tế có nhiều loại hình doanh nghiệp thuộc các hình
thức sở hữu khác nhau. Do đó, sự điều chỉnh của pháp luật đối với quá
trình tạo lập, quản lý, sử dụng và định đoạt vốn cố định của các loại hình
doanh nghiệp có sự khác nhau.
Xuất phát từ quyền sở hữu của Nhà nước nên các quy định của
pháp luật về quá trình tạo lập, quản lý, sử dụng và định đoạt vốn cố định
của các doanh nghiệp Nhà nước chặt chẽ hơn so với các loại hình doanh
nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác.
6
1.3.2. Chế độ sử dụng và bảo toàn vốn lưu động của doanh
nghiệp:
Doanh nghiệp phải có kế hoạch sử dụng và những giải pháp bảo
toàn, phát triển vốn lưu động. Bảo toàn vốn lưu động là bảo toàn được
giá trị thực của vốn, bảo đảm được sức mua của vốn không bị giảm sút
so với ban đầu.
1.3.3. Vốn đầu tư ngân sách có thể kết hợp với phần phân loại vốn:
Trong nền kinh tế thị trường, hướng đầu tư của một doanh nghiệp
nguyên, nhiên, vật liệu; khấu hao tài sản cố định, tiền lương, chi phí dịch
vụ mua ngoài và chi phí bằng tiền khác.
Chi phí hoạt động khác bao gồm các chi phí cho việc mua bán trái
phiếu, tín phiếu, cổ phiếu, chi phí cho thuê tài sản, chi phí cho hoạt động
liên doanh, liên kết, góp vốn cổ phần, chi phí cho việc thu hồi các khoản
nợ đã xóa, chi phí để thu tiền phạt và các khoản chi phí khác.
2.2. Sự điều chỉnh của pháp luật đối với hoạt động quản lý chi phí sản
xuất kinh doanh của doanh nghiệp:
Trong nền kinh tế thị trường ở nước ta hiện nay có nhiều loại hình
doanh nghiệp. Tùy thuộc vào tính chất sở hữu và đặc điểm của mỗi loại
hình doanh nghiệp mà sự điều chỉnh của pháp luật có sự khác nhau đối
với hoạt động quản lý chi phí sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
Đối với các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế ngoài quốc
doanh, việc quản lý chi phí sản xuất kinh doanh chủ yếu xuất phát từ lợi
ích của chính họ theo nguyên tắc tự chủ và tự chịu trách nhiệm đối với
kết quả kinh doanh, pháp luật chỉ quy định chế độ quản lý chi phí kinh
doanh liên quan đến việc xác định các khoản phải nộp mà họ có nghĩa
vụ thực hiện với Nhà nước như thuế, phí, lệ phí…
8
Xuất phát từ lợi ích kinh tế trực tiếp của Nhà nước ở các doanh
nghiệp mà Nhà nước có sự tham gia, đầu tư góp vốn, Nhà nước quy định
chặt chẽ chế độ quản lý chi phí sản xuất kinh doanh được áp dụng trong
quá trình sản xuất kinh doanh của các loại hình doanh nghiệp này.
Chi phí hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp có sự tham gia
đầu tư góp vốn của Nhà nước gồm:
- Chi phí nguyên liệu, vật liệu: Là giá trị của toàn bộ nguyên liệu,
vật liệu doanh nghiệp sử dụng vào hoạt động kinh doanh.
- Chi phí nhiên liệu, động lực: Là giá trị của toàn bộ nhiên liệu,
động lực doanh nghiệp đã sử dụng vào hoạt động kinh doanh.
- Các khoản lỗ do liên doanh, liên kết, lỗ từ các hoạt động đầu tư
khác.
- Các khoản thiệt hại được chính phủ trợ cấp hoặc bên gây thiệt
hại, các công ty bảo hiểm bồi thường.
- Chi phí đi công tác nước ngoài vượt định mức chi do Nhà nước
quy định.
- Các khoản chi thuộc nội dung chi của kinh phí sự nghiệp, quỹ
phúc lợi, quỹ khen thưởng.
- Các khoản chi trợ cấp khó khăn thường xuyên, đột xuất.
- Các khoản chi thường trực như: thưởng năng suất, thưởng sáng
kiến, thưởng tiết kiệm, thưởng thi đua (các khoản thưởng này lấy trong
quỹ tiền thưởng của doanh nghiệp).
- Chi về ăn trưa (nếu có).
- Chi ủng hộ địa phương, đoàn thể, tổ chức xã hội, cơ quan khác.
10
- Chi đầu tư xây dựng cơ bản, chi mua sắm tài sản cố định, các
khoản chi đầu tư khác.
- Chi cho chuyên gia ohục vụ công trình xây dựng cơ bản hoặc các
công trình nghiên cứu khoa học, đào tạo thuộc kinh phí khác đài thọ.
- Các khoản chi thuộc các nguồn kinh phí sản xuất kinh doanh đối
với doanh nghiệp Nhà nước, xuất phát từ lợi ích của mình mà Nhà nước
quy định chặt chẽ chế độ xác định giá thành sản phẩm, lao vụ, dịch vụ.
Nội dung của chế độ này thể hiện trên các mặt:
Thứ nhất, giá thành sản xuất của sản phẩm, lao vụ, dịch vụ gồm:
a. Chi phí vật tư trực tiếp: là chi phí nguyên liệu, nhiên liệu, vật
liệu sử dụng trực tiếp để tạo ra sản phẩm, lao vụ, dịch vụ.
b. Chi phí nhân công trực tiếp bao gồm: tiền lương, tiền công, các
khoản trích nộp doanh nghiệp phải nộp theo quy định của công nhân
trực tiếp hoạt động kinh doanh.
sở hữu của doanh nghiệp.
Trong số các loại hình doanh nghiệp, hoạt động phân phối lợi
nhuận của các doanh nghiệp Nhà nước chịu sự điều chỉnh chi tiết và chặt
chẽ của pháp luật.
Theo quy định của bản quy chế quản lý ngân sách và hạch toán
kinh doanh đối với doanh nghiệp Nhà nước ban hành kèm theo nghị
định số 59/CP ngày 03 tháng 10 năm 1996 của Chính phủ, lợi nhuận
thực hiện trong năm của doanh nghiệp Nhà nước được phân phối theo
thứ tự sau:
1. Nộp thuế thu nhập doanh nghiệp theo quy định của pháp luật.
2. Nộp tiền thu về sử dụng vốn ngân sách Nhà nước.
12
3. Trừ các khoản tiền nộp vi phạm hợp đồng, vi phạm hành chỉnh,
kỷ luật ngân sách, các khoản chi phí hợp lệ chưa được trừ khi xác định
thu nhập chịu thuế phải nộp.
4. Trừ các khoản lỗ chưa được trừ vào lợi nhuận trước thuế thu
nhập doanh nghiệp.
5. Đối với các doanh nghiệp Nhà nước kinh doanh trong một số
ngành đặc thù mà pháp luật quy định phải được trích lập các quỹ đặc
biệt từ lợi nhuận sau khi trích nộp các khoản 1, 2, 3, 4 trên đây, doanh
nghiệp trích lập các quỹ theo tỷ lệ quy định.
Phần lợi nhuận của doanh nghiệp Nhà nước sau khi trừ các khoản
trên đây, doanh nghiệp Nhà nước được trích lập các quỹ theo tỷ lệ:
- Quỹ đầu tư phát triển: mức trích tối thiểu 50%.
- Quỹ dự phòng tài chính: trích 10% số dư của quỹ này tối đa
không vượt quá 25% vốn điều lệ.
- Quỹ dự phòng về trợ cấp mất việc làm: trích 5%, mức tối đa
không vượt quá 6 tháng lương thực hiện.
- Phần lợi nhuận còn lại sau khi trích đủ các quỹ trên doanh nghiệp