Trường Quốc học Qui Nhơn - Hữu Vinh
Trước tháng 8 năm 1945, khu vực miền Trung chỉ có ba trường công lập
mang tên Quốc học. Đó là trường Quốc học Huế, Quốc học Vinh và Quốc học
Quy Nhơn. Trường Quốc học Quy Nhơn còn có tên gọi là Collège de Quy
Nhơn được thành lập từ năm 1921. Trước đó (1920), là trường Pháp-Việt Quy
Nhơn đóng tại trường Nữ học cũ (nay là trường Tiểu học Lê Lợi), niên khóa
1921-1922 mở thêm một lớp Đệ nhất niên. Tuy vậy, năm học sau lớp Đệ nhất
này ai lên được lớp trên phải ra trường Quốc học Huế học tiếp lớp Đệ nhị niên.
Đến niên khóa 1924-1925 trường chuyển lên trường mới, lấy tên mới là
trường Collège de Quy Nhơn (nay là khu vực trường Tiểu học Lê Hồng Phong).
Khuôn viên trường khá rộng, nằm ở ngã ba Công Quán-Collège-Ga xe lửa Quy
Nhơn, nay là phía nam đường Lý Thường Kiệt và phía bắc đường Nguyễn
Công Trứ. Trước mặt trường là Đại lộ O-Đân-Đan. Niên khóa 1926-1927
trường hoàn chỉnh cấp Cao đẳng Tiểu học và có đủ 10 lớp từ lớp năm (lớp một
bây giờ) lên lớp đệ tứ. Đây là trường duy nhất ở Trung-Nam Trung bộ chia ba
cấp học toàn bằng tiếng Pháp. Sơ học yếu lược gồm 3 lớp (lớp năm, lớp tư, lớp
ba); Tiểu học gồm 3 lớp (lớp nhì đệ nhất, lớp nhì đệ nhị, lớp nhất); Cao đẳng
tiểu học gồm 4 lớp (đệ nhất niên, đệ nhị niên, đệ tam niên và đệ tứ niên). Học
sinh học hết đệ tứ niên phải thi tốt nghiệp, gọi là Cao đẳng Tiểu học (bằng
Thành Chung hay Diplome). Bộ phận đồng ấu của trường được bố trí học ở địa
điểm nay là Sở Giáo Dục (đường Trần Phú), do vậy, ngày nay vẫn giữ mối
quan hệ lịch sử giữa 3 trường: Quốc học Quy Nhơn - Trung học cơ sở Lê Hồng
Phong - Tiểu học Lê Hồng Phong.
Các thầy, cô giáo dạy trường Collège de Quy Nhơn có người Pháp, người
Việt, và học trò cũng vậy, lại thêm học sinh người dân tộc thiểu số. Trong
trường có khu nội trú, sân vận động, xưởng mộc, phòng thí nghiệm, bệnh xá,
thư viện Trường có khoảng 400 học sinh, chủ yếu người ở các địa phương từ
Đà Nẵng đến Phan Thiết và các tỉnh Tây Nguyên.
Là ngôi trường do Pháp lập ra, nhằm đào tạo học sinh ra trường phục vụ
cho chế độ thực dân phong kiến, nhưng phần lớn học trò Collège Quy Nhơn lại
là những trí thức yêu nước, căm ghét thực dân Pháp. Vì trong bộ phận giáo viên
Quy Nhơn thực dân Pháp có ý đồ riêng, nhưng thầy trò Việt Nam đã biết phát
huy truyền thống yêu nước của dân tộc để hành động.
Ngày nay, phát huy truyền thống, trường Quốc học Quy Nhơn tiếp tục
phát triển để cho ra "lò" những thế hệ học trò có chất lượng kiến thức, đạo đức
tốt, để sau này phục vụ cho sự nghiệp bảo vệ và xây dựng quê hương đất nước.
Giai thoại Trường thi Bình Định - Nguyễn Xuân Nhâm
Trường thi Bình Định ra đời từ thời vua Tự Đức (1851) là trung tâm văn
hóa một thời đã tồn tại gần bảy thập kỷ, tổ chức được khoảng hai chục kỳ thi
hương, đào tạo ra hàng trăm vị cử nhân và nhiều học vị tú tài cho các tỉnh Nam
Trung bộ. Từ khi bãi bỏ chữ Hán, trường thi hoang phế dần. Đầu kháng chiến
chống Pháp, thực hiện chính sách tiêu thổ kháng chiến, Trường thi bị đập phá
để đề phòng địch tới chiếm đóng nên nay chỉ còn mấy đống đất đá làm dấu vết.
Cụ Nguyễn Đình Phùng quê xã Nhơn Hòa, năm 1987 đã 79 tuổi, là người
thời niên thiếu còn được chứng kiến khá nguyên vẹn quang cảnh Trường thi kể
lại rằng: Trường thi ở phía Tây Nam thành Bình Định, nằm gần bờ sông này
thuộc xã Nhơn Hòa rộng tới trên bảy, tám mẫu đất. Trường thi chia làm hai khu
vực: Khu dành cho sĩ tử dựng lều, đặt chõng trên bốn mẫu; khu vực dành cho
các quan giám khảo, các thừa sai và lính canh giữ làm việc khoảng trên ba mẫu.
Trong ba mẫu cất nhà cho ban giám khảo chia làm bốn lô (4 di): tả, hữu, giáp,
ất. Chính giữa là nhà nhập đạo cách đều bốn di. Bốn phía Trường thi xây dựng
thành đá ong bao bọc, thành cao 4 thước 5 tấc (hơn 1 mét Tây). Ngoài chân
thành có đào hồ chạy quanh để không cho người ngoài lọt vào trong thời gian
thi. Ở mỗi cạnh bờ thành có cổng cho sĩ tử đi vào khu vực thi.
Theo lệ chung, cứ ba năm Trường thi Bình Định mở một khoa vào các
năm: tí, mẹo, ngọ, dậu. Các nho sinh sau mười năm hương lửa, qua khảo thí ở
huyện đã được công nhận đủ trình độ dự thi thì nộp đơn ở tỉnh. Tới gần tổ chức
kỳ thi, Bộ học cử quan chủ khảo, các quan giám khảo về trước ở lại Trường thi
để chuẩn bị. Sau khi các tỉnh nộp đủ hồ sơ, danh sách dự thi cho quan chủ khảo
thì thí sinh của trường thi Hương Bình Định có tới hàng ngàn thí sinh. Nơi ăn
chốn ở của các sĩ tử trước khi vào thi chủ yếu là nhà dân ở các làng xã xung
Cát giỏi giang là thế, mỗi người năm bảy lần thi mà rồi cũng đành ôm hận làm
ông tú suốt đời.
Ở Bình Định có ông cử Trần Kỳ Xương nổi tiếng hay chữ thi lần đầu chỉ
đỗ tú tài. Ba năm sau, khi vào trường thi ông lấy rơm bện thành dây cột bó đầu
lại ngồi trên chõng làm bài. Khi quan chủ khảo tới lều ông, thấy vậy liền hỏi:
- Tại sao lại phải cột rơm vào đầu?
- Thưa tôi lấy rơm cột chặt đầu cho khỏi nhức.
Quan chủ khảo biết cậu thí sinh có nét mặt tinh nghịch này muốn nỡm mình
liền hỏi tiếp:
- Sao anh nhức đầu nhiều thế?
- Thưa vì trong đầu tôi nhiều chữ quá ạ!
Quan chủ khảo đành nén giận cười nhạt đi sang lều bên cạnh.
Một lần khác, một thí khi làm bài cứ ngồi dựa vào cột lều dúi đầu vào nơi râm
mát và mở cúc áo phơi cái bụng ra ngoài nắng ai thấy cũng phải buồn cười.
Quan chủ khảo tới lều, tưởng anh ta nằm ngủ liền quát:
- Anh kia! Dậy làm bài thi đi! Sao lại nằm ngủ phơi cái bụng ra nắng thế!
Anh này giả vờ giật mình tỏ vẻ ngạc nhiên và vội vàng đứng dậy thưa:
- Bẩm ngài! Tôi phải phơi bụng ra ngoài nắng để khỏi mốc mất bồ chữ dành
dụm mười năm mới có đấy ạ!
Quan chủ khảo sầm mặt bỏ đi. Kỳ thi ấy anh ta bị đánh trượt vì tội kiêu căng.
Kỳ thi năm Ngọ, sĩ tử được quan chánh khảo lần này là người nổi tiếng
tham bỉ, hay kiếm chuyện để làm hại thí sinh. Vị này thường tìm mọi cách ăn
tiền đút lót của các nhà hào phú có con học dốt nhưng muốn đỗ tú tài để lên mặt
với thiên hạ. Mọi người đều biết nhưng vì quan được Thượng thư bộ Học che
chở nên đành im tiếng. Bấy giờ có anh thí sinh họ Đái vốn thông minh, học giỏi
lần trước đáng lẽ đỗ cử nhân nhưng vì phạm húy nhẹ nên bị đánh trượt. Tên anh
ta vốn là Đái Đình Tạo nhưng anh mua chuộc được viên thư lại của giám khảo
để viết nhầm chữ Đình thành chữ Đầu, chữ Tạo thành chữ Tao nên khi viên
thừa sai cầm gọi tên anh vào cửa ất làm cho đám sĩ tử được một phen cười vỡ
bụng. Quán chánh chủ khảo giận tím mặt nhưng đành phải làm ngơ. Kỳ thi ấy
Cử nhân, tiến sĩ, tú tài
Lập nhà văn thánh nào ai phòng thờ.