Quá trình hình thành quy trình lợi nhuận trong mối quan hệ với doanh thu và chi phí p9 - Pdf 20



190

Ngoài ra, báo cáo dòng tiền còn được sử dụng để đánh giá các quá trình
nhằm đạt được những mục tiêu đã được hoạch đònh. Báo cáo này không tìm cách
làm cho tương ứng cụ thể giữa dòng tiền và dòng tiền chi ra, nhưng chúng có thể
được sử dụng để nhận diện những gì mâu thuẫn và đáng chú ý. Chẳng hạn như
những gia tăng trong các khoản phải thu và hàng tồn kho tạo ra các dòng tiền chi
ra có thể là một dấu hiệu về các vấn để liên quan đến tín dụng và hàng tồn kho,
theo nhiều nhà phân tích và nghiên cứu tài chính, một số hệ số thường dùng để
phân tích tình hình lưu chuyển tiền tệ như:
• Hệ số dòng tiền vào của từng hoạt động so với tổng dòng tiền vào
(Individual sources of cash inflow / Total cash inflow);
• Hệ số dòng tiền ra để trả nợ dài hạn so với tổng dòng tiền vào (Cash
outflow for long-term debt repayment / Total cash inflow);
• Hệ số dòng tiền ra để chi trả cổ tức so với dòng lưu chuyển ròng từ
hoạt động kinh doanh chính (Dividends / Cash flow from operations).
a. Hệ số dòng tiền vào từ hoạt động kinh doanh so với tổng dòng tiền vào:
Hệ số này cung cấp cho người đọc một tỷ lệ, mức độ về năng lực tạo ra
nguồn tiền từ hoạt động kinh doanh chính của doanh nghiệp. Thông thường, tỷ lệ
này chiếm rất cao (trên 80%) và là nguồn tiền chủ yếu dùng trang trải cho hoạt
động đầu tư dài hạn và trả cổ tức cũng như các khoản vay ngắn hạn, dài hạn.
Tuy nhiên, khi phân tích cần đặt chúng trong một bối cảnh cụ thể; chiến lược và
tình hình kinh doanh từng thời kỳ.
Một cách phân tích thường liên hệ là mang hệ số kỳ thực hiện so với các kỳ
trước để thấy xu hướng tăng trưởng hay sự ổn đònh và so với các doanh nghiệp
tiêu biểu cùng ngành hay chỉ tiêu bình quân ngành để đo lường sự biến động
chung về tình hình kinh doanh và đặc điểm dòng ngân lưu.

có thể là một khoản vay sẽ được tăng lên, phát hành thêm cổ phiếu hay là sự
giảm đi hoặc thậm chí ngưng trả các khoản cổ tức. Vì thanh toán cổ tức trong
trường hợp như vậy là không có cơ sở nếu không phải bán bớt đi một phần công
ty.
d. Hệ số dòng tiền ra để trả nợ dài hạn so với tổng dòng tiền vào:
Trả nợ dài hạn đối với các khoản nợ chưa đến hạn trả làm cho hệ số dòng
tiền ra tăng cao và thường gắn liền với một chiến lược nào đó. Thông thường
một tỷ lệ thanh toán nợ dài hạn so với tổng dòng tiền vào, đạt rất thấp (5 – 10%)
và diễn ra rất đều đặn qua các năm. Nguyên nhân chính là do tính chất của
khoản nợ dài hạn với các điều khoản thanh toán ổn đònh. Và các khoản nợ dài
hạn luôn gắn liền với các dự án đầu tư dài hạn – có thu nhập lâu dài. Vì vậy, hệ
số này thay đổi đột ngột là điều cần quan tâm để tìm nguyên nhân giải thích.
e. Hệ số dòng tiền ra để trả cổ tức so với dòng tiền từ hoạt động kinh
doanh:
Hệ số dòng tiền ra để trả cổ tức so với dòng tiền ròng từ hoạt động kinh
doanh nói lên việc sử dụng dòng tiền thu được từ hoạt động kinh doanh dùng trả
lợi tức cho các cổ đông. Đây là một chiến lược khá phức tạp. Một số công ty có
chính sách duy trì đều đặn mức trả cổ tức mặc dù phải sử dụng cả các nguồn vốn
khác – kể cả đi vay, khi dòng tiền từ hoạt động kinh doanh không đáp ứng đủ,
trong khi đó một số công ty lại có chính sách “cứng rắn” ngược lại. Tuy nhiên,
hệ số dòng tiền ra để trả cổ tức so với dòng tiền ròng từ hoạt động kinh doanh
phải luôn được cân nhắc trước nhu cầu đầu tư hay sự cần thiết phải bổ sung vốn
công ty trong từng giai đoạn chiến lược kinh doanh.
Khi công ty quyết đònh (do hội đồng quản trò) không chi trả cổ tức, đó có
phải là dấu hiệu báo rằng công ty đang phát triển? 193


6.1.1. Khái niệm
Cấu trúc vốn của doanh nghiệp được đònh nghóa là sự kết hợp số lượng nợ
ngắn hạn thường xuyên, nợ dài hạn, cổ phần ưu đãi và vốn cổ phần thường được
dùng để tài trợ cho quyết đònh đầu tư của một doanh nghiệp. Ngược lại, cấu trúc
tài chính là sự kết hợp nợ vay ngắn hạn, nợ dài hạn, cổ phần ưu đãi, và vốn cổ
phần thường được dùng để tài trợ cho quyết đònh đầu tư ở một doanh nghiệp.
Như vậy, cấu trúc vốn chỉ là một phần của cấu trúc tài chính, tiêu biểu cho các
nguồn thường xuyên của tài trợ một doanh nghiệp.
Để minh hoạ cho khái niệm cấu trúc vốn, giả dụ công ty Baker Oil hiện có
10 triệu đô la nợ ngắn hạn thường xuyên, 40 triệu nợ dài hạn chưa thanh toán, 10
triệu cổ phần ưu đãi, và 40 triệu cổ phần thường. Trong trường hợp này, cấu trúc
vốn hiện tại của Baker là “50% nợ, 10% cổ phần ưu đãi và 40% cổ phần
thường”. Như vậy, cấu trúc vốn liên quan đến tỷ trọng của nợ thường xuyên, cổ
phần ưu đãi, và cổ phần thường thể hiện trên bảng cân đối kế toán.
Trong phân tích cấu trúc vốn, cần nhấn mạnh đến cấu trúc vốn mục tiêu dài
hạn; tức là cấu trúc vốn mà theo đó daonh nghiệp hoạch đònh các chiến lược tối
ưu để hoạt động. Đối với hầu hết các doanh nghiệp, cấu trúc vốn hiện tại và cấu
trúc vốn mục tiêu hầu như giống nhau, và việc tính toán cấu trúc vốn mục tiêu là
một quá trình đơn giản.
195

Tuy nhiên, đôi khi các doanh nghiệp lại thấy rằng cần phải thay đổi cấu
trúc vốn hiện tại sang một cấu trúc vốn mục tiêu khác. Lý do của sự thay đổi
này có thể liên quan đến việc thay đổi trong hỗn hợp tài sản của doanh nghiệp
(và do đó một thay đổi trong rủi ro của doanh nghiệp) hay một gia tăng trong
cạnh tranh có thể tiềm ẩn nhiều rủi ro hơn. Ví dụ, để đáp ứng với rủi ro và cạnh
tranh gia tăng trong công nghiệp điện công tích, Standard và Poor’s, một công ty


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status