Thiết kế phân xưởng sản xuất nước đá viên năng suất 500 kg-mẻ - Pdf 20

ĐỒ ÁN QTTB GVHD: TRẦN VĂN NGHỆ
SVTH :TRẦN ĐÌNH HIỂN
CHƯƠNG I:
LỊCH SỬ PHÁT TRIỂN VÀ VAI TRÒ CỦA
NGÀNH KỸ THUẬT LẠNH ĐỐI VỚI NỀN KINH TẾ
VIỆT NAM
I.LỊCH SỬ PHÁT TRIỂN NGÀNH LẠNH:
Con người đã biết làm lạnh và sử dụng lạnh cách đây rất lâu. Những nhà khảo cổ học đã
phát hiện ra những hang động có mạch nước ngầm nhiệt độ rất thấp dùng để chứa thực phẩm
và lương thực từ 5000 năm trước.
Cách đây 2500 năm ở Ai Cập, người ta làm mát không khí bằng cách quạt các bình xốp
cho nước bay hơi. Cách đây 2000 năm người Ấn Độ và Trung Quốc biết trộn muối vào nước
để tạo nhiệt độ thấp hơn.
Tuy vậy, kỹ thuật lạnh hiện đại bắt đầu từ khi giáo sư Black tìm ra nhiệt ẩn hố hơi và
nhiệt ẩn nóng chảy vào năm 1761 - 1764. Con người đã biết làm lạnh bằng cách cho bay hơi
ở áp suất thấp.
Sau đó là một phát hiện quan trọng không kém, Clouet và Monge lần đầu tiên hóa lỏng
được SO
2
vào năm 1780. Từ 1781 Cavallo bắt đầu nghiên cứu hiện tượng bay hơi một cách
có hệ thống hơn.
Kỹ thuật lạnh phát triển mạnh mẽ nhất là vào thế kỉ 19. Năm 1823 Faraday bắt đầu công
bố những công trình về hố lỏng khí SO
2
, H
2
S, CO
2
, N
2
O, C

2
và tách bằng chưng cất,
K.Onnes (Hà Lan) hố lỏng được Heli.
Năm 1834 J.Perkinh (Anh) đã đăng kí bằng phát minh đầu tiên về máy lạnh nén hơi với
các thiết bị đầy đủ như một máy lạnh nén hơi hiện đại, bao gồm : máy nén, giàn ngưng tụ,
giàn bay hơi và van tiết lưu. Đến cuối thế kỉ 19 nhờ sự cải tiến của Linde (Đức) với việc sử
dụng NH
3
làm môi chất lạnh cho máy nén hơi, viếc chế tạo máy lạnh nén hơi mới phát triển
rộng rãi trong hầu hết các ngành kinh tế quốc dân.
Năm 1810 Leslie (Pháp) đưa ra máy lạnh hấp thụ đầu tiên, là loại máy lạnh hấp thụ chu
kì với cặp môi chất là H
2
O/H
2
SO
4
. Đến giữa thế kỉ 19, nó được phát triển một cách rầm rộ
nhờ kỹ sư Carré (Pháp) với hàng loạt bằng phát minh và máy lạnh hấp thụ chu kỳ và liên tục
với các cặp môi chất khác nhau.
Năm 1899 Geppert (Đức) đăng kí bằng phát minh máy lạnh khuếch tán hồn tồn không
có chi tiết chuyển động, sau đó đựơc Platon và Munters (Thụy Điển) hồn thiện vào năm 1922
nó vẫn có vị trí quan trọng cho tới ngày nay.
Đưa vào kết quả nghiên cứu của các nhà lý thuyết bác sĩ người Mỹ Gorrie đã thiết kế
chế tạo thành công máy lạnh nén khí dùng để điều tiết không khí cho trạm xá chữa bệnh sốt
cao của ông.
Máy lạnh Ejector hơi nước đầu tiên do Leiblanc chế tạo năm 1910. Đây là một sự kiện
có ý nghĩa trọng đại, bởi vì nó đơn giản. Năng lượng tiêu tốn cho nó là nhiệt năng, do đó ta có
thể tận dụng được các nguồn năng lượng phế thải để làm lạnh.
Một sự kiện quan trọng nữa trong lịch sử phát triển kỹ thuật lạnh là việc sản xuất và ứng

Hiệu suất máy tăng lên đáng kể, chi phí vật tư và các chi phí năng lượng cho một đơn vị
lạnh giảm xuống rõ rệt. Tuổi thọ và độ tin cậy tăng lên. Mức độ tự động hố của các hệ thống
lạnh và máy lạnh tăng lên rõ rệt, những thiết bị lạnh tự động hố hồn tồn bằng điện tử và vi
điện tử, dần dần thay thế các thiết bị thao tác bằng tay.
II.VAI TRÒ KỸ THUẬT LẠNH ĐỐI VỚI NỀN KINH TẾ VIỆT NAM:
Ở Việt Nam, mặc dù đã trãi qua nhiều năm chiến tranh, nhưng nhà nước đã có những
chú ý đúng mức về việc phát triển kỹ thuật lạnh. Từ chỗ Miền Bắc chỉ có vài trạm nhỏ, nay
đã có hàng trăm cơ sở, có những cơ sở trang bị máy lạnhvới công suất hàng triệu Kcal/h, kể
cả mạng lưới trong tồn quốc, thì nước ta đã có tới trên 400 cơ sở lạnh lớn nhỏ. Trên mặt đất
cũng như dưới nước (các tàu đánh bắt). Tổng cộng tất cả các trạm lạnh ở nước ta thì công
suất đạt được tới 40 triệu Kcal/h.
Nước ta có điều kiện địa lý thuận lợi với bờ biển trãi dài 3000 cây số, rất thuận lợi cho
việc phát triển ngành lạnh đi đôi với ngành đánh bắt, nuôi trồng thuỷ hải sản.
Những năm gần đây ở nước ta nhu cầu làm lạnh ngày càng tăng nhanh. Đã có hàng triệu
phân xưởng đông lạnh thực phẩm xuất khẩu như : tôm, cá, thịt, rau, quả,… đựơc xây dựng
trên khắp mọi miền đất nước. Kỹ thuật lạnh đã thâm nhập hơn 60 ngành kinh tế khác nhau.
Với sự mở cửa liên doanh với nước ngồi, các dịch vụ thương mại, du lịch phát triển mạnh với
sự hình thành các trung tâm văn hố, giao dịch quốc tế, đòi hỏi sử dụng rất nhiều kỹ thuật
lạnh. Hơn nữanước ta có khí hậu nhiệt đới quanh năm nóng bức, độ ẩm lại cao, cho nên việc
điều hồ không khí, bảo quản thực phẩm và giải khát bằng nước đá là nhu cầu bức thiết hiện
nay.
Tuy vậy trình độ khoa học kỹ thuật của nước ta còn non yếu, ngành lạnh ở Việt Nam
chúng ta hiện nay là quá nhỏ bé, chúng ta chỉ chế tạo được các loại máy lạnh NH
3
nhỏ, chưa
chế tạo được các loại máy lạnh cỡ lớn, máy lạnh Freôn hay các thiết bị tự động hố. Phần lớn
thiết bị sử dụng hiện nay với công suất lớn đều nhập từ nước ngồi.
Do vậy việc nghiên cứu và tổ chức phát triển ngành lạnh ở nước ta là sự cần thiết. Và
chắc chắn sẽ mang lại hiệu quả kinh tế to lớn cho đất nước.


đều mang khí hậu nhiệt đới gió mùa, có 2 mùa rõ rệt, mùa mưa kéo dài từ tháng 4 – 5 đến
tháng 10 – 11. Lượng mưa bình quân 2000 ml/năm.
+ Nhiệt độ trung bình 27
0
C.
+ Nhiệt độ tối đa 40
0
C.
+ Nhiệt độ thấp nhất 15,8
0
C.
- Giao thông vận tải : Do quận Tân Bình nằm gần cử ngõ thành phố, nên có
những nút giao thông quan trọng.
+ Bến xe Tây Ninh.
+ Sân bay quốc tế Tân Sơn Nhất.
Giao thông thuận tiện với những đại lộ Hồng Văn Thụ, Cách Mạng Tháng Tám, Lý
Thừơng Kiệt, Aâu Cơ, phân bố vào các quận giáp biên và 2 trung tâm thành phố.
Qua những lập luận trên cho thấy quận Tân Bình là nơi tốt nhất để xây dựng phân
xưởng sản xuất nước đá tinh khiết có hiệu quả kinh tế cao.
II. MẶT BẰNG PHÂN XƯỞNG :
Do vị trí xây dựng ở thành phố Hồ Chí Minh. Phân xưởng sản xuất nước đá, cần
biết tận dụng tối đa các mặt bằng cho phép. Điều này không nằm ngồi mục đích giảm chi
phí ban đầu. Mặc dù việc dự trữ đất để mở rộng phát triển mở rộng phân xưởng là điều cần
thiết nhưng điều ấy chỉ phù hợp với những nơi có mặt bằng rộng lớn, giá rẻ. Ở đây phân
xưởng sản xuất nước đá đang thiết kế được xây dựng với tổng diện tích dự tốn là : 42*33 =
1386 m
2
. Bao gồm các bộ phận : Phòng hành chánh, phòng kỹ thuật, phòng máy, khu xử lý
nước, phòng làm đá, kho trữ đá và khoảng sân để xe vào và ra trong quá trình xuất hàng từ
kho.

Bảng kết quả phân tích lượng nước trong mùa mưa (tháng 6, 7, 8) của máy nước
ngầm Hóc Môn.
Tầng chứa
H
2
O
Tầng chứa nước tứ II
Lớp thấm TB Phần trên lớp
thấm
Phần dưới lớp
thấm
Tên giếng Quang trung Trung chánh Đông thạnh
Độ sâu 40 m 75 m 150 m
Ngày lấu mẫu 17 - 03 -1984 17 - 03 -1984 10 - 1982
PH
Fe (mg/l)
Độ kiềm (CaCO
3
)
Độ cứng (CaCO
3
)
Độ đục (SiO
2
)
Cl – (mg/l)
Ca (CaCO
3
)
Nitrat

15
5
4
-
0
vết
4
0
19,5
200
200
90
5,4
9,0
36
13,9
-
8,5
2
3,08
0,05
0
11,9
0
43,04
-
-
86
Bảng kết quả phân tích nước trong mùa khô tháng 3 – 1994 phân xưởng nước đá Hóc
Môn.

vào bể làm tan giá. Các khuôn đá nóng lên , lớp băng dính khối với khuôn tan ra , cầu trục sẽ
nâng linh lên và đặt vào cơ cấu lật . Do trọng lực , linh đá lật các khối đá ra và các khối đá trượt
lên bàn trượt đá để vào kho chứa đá , còn linh đá được cầu trục đưa đến máng rót nước . Máng
rót nước tự động nhiều vòi có định lượng rót đồng thời cho tất cả các khuôn đá lượng nước đã
định trước . Sau khi rót nước xong linh đá được đặt vào đầu bể vị trí mà cơ cấu xích vừa đẩy
tồn bộ các linh đá dịch ra .
Máy lạnh phục vụ cho bể nước muối thường là máy lạnh amoniac một cấp , thiết bị
ngưng tụ là bình ngưng ống chùm , dàn ngưng tụ bay hơi hay dàn tưới .Nước muối được sử
dụng thường là NaCl hoặc CaCl
2
, đôi khi là MgCl
2
.
2.3.2. Sản xuất nước đá trong suốt:
Ngồi tiêu chuẩn về nước, muốn sản xuất nước đá trong suốt cần phải khuấy để cặn bẩn
và bọt khí bám trên bề mặt hình thành đá tách ra. Có 3 phương pháp khuấy bề mặt kết đông đá
để sản xuất đá trong suốt.
Phương pháp áp thấp là sử dụng khí nén ở áp suất 0,2 đến 0,25 bar áp suất dư, thổi vào
giữa khuôn và khi đá đông gần đến giữa khuôn phải rút ống phun khí ra. Khi đầu ống bị đống
băng phải dùng nước nóng hoặc hơi phun vào để nhổ ống ra.
Phương pháp áp cao là sử dụng khí nén ở áp suất cao từ 1,5 đến 2 bar áp suất dư. Sử
dụng phương pháp này người ta khắc phục được nhược điểm là phải rút ống phun ra kịp thời
của phương pháp áp thấp. Tuy nhiên do phải thổi khí vào từ đáy khuôn lên nên ở đây lại xuất
hiện nhược điểm là mũi phun nằm trong nước muối rất dể tắc do nước ẩm trong khí nén đóng
băng bịt kín. Do đó khí nén áp cao phải được khử ẩm triệt để.
Phương pháp thứ 3 tương đối đơn giản là dùng một que gổ khuấy. Các cơ cấu khuấy
được bố trí cho tất cả các khuôn của một linh đá . Hai đầu được lắp vào hai que lắc truyền động
từ một cơ cấu lắc . Khi đá kết đông gần đến tâm thì cơ cấu lắc phải được lấy ra khỏi khuôn đá
để không bị đóng băng vào khuôn đá . Khoảng nước đá còn lại ở tâm là nước đá đục . Có thể
cải thiện lượng nước đá này bằng cách tháo lượng nước còn lại đó ra và thay vào lượng nước

đáy bể nước. Các ống này tập trung lại thành từng nhóm, nước đá sẽ đóng băng trên bề mặt
ống. Khi các khối băng đông kết lại với nhau thành cây đá thì quá trình kết đông kết thúc
chuyển qua quá trình làm tan giá bằng hơi nóng. Cây đá sẽ nổi lên trên. Do không có khuôn bên
ngồi nên cây đá không có hình dáng cố định và cũng không bằng.

****Tiêu chuẩn nước để sản xuất nước đá tinh khiết:
A. Nước đá tinh khiết phải đảm bảo các yêu cầu sau:
Tạp chất Hàm lượng tối đa
Số lượng vi khuẩn trong nước 100 con/ml
Vi khuẩn đường ruột 3 com/l
Chất khô cho phép 1 g/l
Độ cứng chung của nước 7 mg/l
Độ đục theo các hạt lơ lửng 1,5 mg/l
Sắt 0,3 mg/l
pH 7
Muối cứng tạm thời 70 mg/l
Hàm lượng muối chung 250 mg/l
Sunfat + 0,75 Clorua + 1,25
Natriclorua
170 mg/l
Tính oxi hóa O
2
3 mg/l
Ảnh hưởng của tạp chất đến chất lượng nước đá: (bảng 9 – 2/173, KT lạnh ƯD)
B. Các biện pháp xử lý nước:
- 6 -
ĐỒ ÁN QTTB GVHD: TRẦN VĂN NGHỆ
SVTH :TRẦN ĐÌNH HIỂN
Để đảm bảo chất lượng nước đá làm bằng nước có tạp chất lớn, nên tăng cường độ
chuyển động của nước lên 2 ÷ 3 lần, nâng nhiệt độ đóng băng lên –6 đến -8

.1. Máy làm đá mảnh của Short và Raver:
Máy gồm hai hình trụ hai võ đứng, môi chất lạnh sôi ở trong, bên ngồi cách nhiệt, bên
trên có bố trí bể nước và có vòi cho nước chảy đều lên bề mặt trong của hình trụ. Gặp lạnh
nước đóng băng lại và được hai lưỡi bào có răng cưa nạo ra khỏi bề mặt hình trụ khi hai lưỡi
bào này quay. Đá mãnh được thu ở phía dưới còn nước thừa được bơm trở lại bể trên cao. Hiện
nay phương pháp này được sử dụng rộng rãi vì chúng rất kinh tế. Máy hiện đại được cải tiến
chút ít ví dụ trục quay ở giữa chỉ mang một dao cắt còn phía đối diện là vòi phun nước. Nước
phun đóng băng quay khi gặp bề mặt lạnh và được dao nạo ra. Do nước đá có nhiệt độ rất thấp
nên nó bóc ra khỏi tang trống rất dể dàng, chúng rất dòn và có khả năng bảo quản lâu.
.2. Máy làm đá tuyết Pak-Ice của Taylor:
Máy bao gồm một tang trống, hai đầu có hai nắp và phía ngồi có môi chất lạnh sôi, bên
trong có hai lưỡi dao nạo quay với tốc độ 250 v/ph để nạo đá hình thành trên tang trống. Để
tăng bề mặt trao đổi nhiệt phía nước người ta tạo các đường dích dắc. Nước sẽ được cấp vào
một nắp và hỗn hợp nước và đá vụn ra phía nắp kia. Để nạo được tồn bộ đá hình thành trên bề
mặt trong của tang trống, tất nhiên hai lưỡi dao nạo cũng phải có hình dích dắc tương ứng với
bề mặt trong của tang trống. Hỗn hợp nước và đá vụn được đưa qua một lưới lọc để lọc lấy đá
còn nước lại được đưa trở lại máy. Nước cấp cho máy phải có nhiệt độ gần 0
0
C nên phải được
làm lạnh sơ bộ trước. Loại đá tuyết này thường chỉ sử dụng để làm lạnh trực tiếp chất lỏng. Để
bảo quản, vận chuyển và sử dụng dể dàng hơn, Taylor đã phát minh thêm một loại máy ép viên
đá tuyết thành các cục đá dạng quả bàng loại 230 (g) và 450 (g).
.3. Máy đá cở nhỏ :
Các loại máy đá cở nhỏ vài chục kg đến vài trăm kg đá/24h thường là các loại máy đá
hồn tồn tự động , sản xuất đá cục trong khay hoặc đá mãnh . Các loại máy này rất cần thiết
phục vụ cho các quán hàng giải khác , quán ăn nhà hàng , khách sạn , cho mục đích tiêu dùng
,phục vụ đời sống , y tế , các bệnh viện và trong cả các xí nghiệp …
Một phần nhu cầu này đã được đáp ứng bằng các tủ lạnh gia đình , tủ lạnh thương
nghiệp nhưng nhu cầu đối với các máy đá vẫn rất lớn , chính vì vậy đã có nhiều cơ sở sản xuất
máy đá , tủ đá nhỏ chuyên dùng . Hình dưới mô tả một tủ đá chuyên dùng để sản xuất các khay

thẳng ở phía trong ống.
Để phân phối nước đều trong các ống phía bên đầu ống ta bố trí các nút đậy có các ren
xung quanh .
Để đá không bị gãy vụn khi cắt ra từng thỏi, ta dùng dao cắt gồm hai hình bán nguyệt và
quay tròn theo hướng vuông góc vói trục của máy làm đá .
Vì làm lạnh trực tiếp nên cần lượng môi chất nhiều nên sử dụng NH
3
vì nó rẻ, để tìm.
2.7. Ưu nhược điểm của máy làm đá dạng viên:
Ưu: Thiết bị nhỏ gọn, thời gian làm đá nhanh. Do làm lạnh trực tiếp nên ít bị tổn thất
lạnh, thiết bị ít bị hao mòn. Sản phẩm làm ra sạch, dể sử dụng trong sinh hoạt nên rất được ưa
chuộng. Thiết bị tự động hóa tuần hồn nên không sử dụng công nhân nhiều.
Nhược: Thiết bị đắt tiền, sản phẩm làm ra giá thành cao nên khó tiêu thụ. Sản phẩm làm
ra phải sử dụng ngay, không bảo quản lâu được vì chúng dể bị kết nối vào bị hao tốn nhiều.
Các ống làm đá phải đầy, đảm bảo không bị gò rỉ để môi chất tràn vào gây nguy hiểm.
Nếu dao không được thiết kế hồn hảo dể gây vụn vở đá.
- 8 -
ĐỒ ÁN QTTB GVHD: TRẦN VĂN NGHỆ
SVTH :TRẦN ĐÌNH HIỂN
Chương 3:
TÍNH CÁCH NHIỆT, CÁCH ẨM
3.1 Mục đích của việc sử dụng cách ẩm cách nhiệt:
Cách ẩm cách nhiệt la một việt hết sức quan trọng trong việc thiết kế phân xưởng lạnh .nó
góp phần giảm bớt sư ïthất thốt nhiệt ra môi trường xung quanh. Ngăn dòng nóng từ ngồi xâm
nhập vao phòng lạnh,lam giảm năng xuất lạnh.
3. 2. Những yêu cầu của vật liệu cách nhiệt, cách ẩm:
3.2.1. Vật liệu cách nhiệt:
- Phải có hệ số dẫn nhiệt nhỏ.
- Có khối lượng riêng không lớn lắm, độ hút ẩm bé, không dể cháy, bền đối với tác
động của môi trường.

và có cấu tạo thành bao quanh như sau:
- 9 -
thép
Bitum
Polyurethan rót ngập Thép không rĩ
ĐỒ ÁN QTTB GVHD: TRẦN VĂN NGHỆ
SVTH :TRẦN ĐÌNH HIỂN
Các thông số tra ở tài liệu [4] :
TT Vật liệu

i
δ
( m )

i
λ
Kcal/h.m.k
i
µ
g/m.h.mmHg
1 Thép 0.,002 39
2 Bitum 0.001 0.18 0.000115
3 Styropore 0.047 0.006
4 Bitum 0.001 0.18 0.000115
5 Thép 0.002 39
Chiều dày của tấm cách nhiệt được tính như sau:





k.
1
α
: Hệ số tỏa nhiệt của vách bên ngồi
2
α
: Hệ số tỏa nhiệt của vách bên trong thiết bị bốc hơi .
i
δ
: Chiều dày lớp vật liệu thứ i cách nhiệt m.
λ
i
: Hệ số dẫn nhiệt của lớp thứ i; W/m.K
λ
cn
: Hệ số dẫn nhiệt của lớp cách nhiệt W/m.K.
δ
cn
: Chiều dày lớp cách nhiệt (m)
K = 0,23 (chọn ở –15
0
C) x
1
α
= 23,3x
2
α
được tính cho trường hợp NH
3
sôi trong ống đứng có thể tích lớn .

mKg
=
ρ

,
ρ
: Khối lượng riêng của NH
3
hơi ,
)/(966.1
3,
mKg
=
ρ

o
ρ
:Khối lượng riêng của hơi NH
3
ở 1 at ,
)/(823.0
3
mkg
o
=
ρ

δ
: Sức căng bề mặt ,
mN /10*38

)
ρ
ρ
o
q = 0.3*0.078*1314*10
3
*1.966*(
1.1
)
966.1
823.0
= 0.023 w/m
2
kmw ./7172
)10.254.0(*19.4*823.0*)10.1314(*)10.38(
023.0*966.1*658*541.0
*780
2
3.033.066.06.035.03
6.006.05.03.1
2
==

α

= 6177 Kcal/hm
2
k
- Chiều dày lớp cách nhiệt :


K
1

m
cn
200.0)]
6177
1
39
2*002.0
18.0
2*001.0.
3.23
1
(
23.0
1
[047.0
=+++−=
δ
Chọn
2.0
=
cn
δ
m theo tiêu chuẩn .
- Tính lại hệ số truyền nhiệt :
k =
21
11

K
S
= 0.95*ά
ng
trng
sng
tt
tt


t
s
:nhiệt đô động sương
nhiệt độ trung bình tháng nóng nhất ở tp HCM là t=37.5 C
Độ ẩm φ =74%
Tra đồ thị h-x ta được:
t
s
=33C
Nhiệt độ trong thiết bị làm lạnh: t
tr
=-15 C
K
S
= 0.95*23.3*
1538
333.37
+

=2.088

0,01
0,1
0,02
0,003
0,02
0,9
0.82
0,9
0.015
0.037
0.011
0.12
0.011
0.033
Chiều dày tấm cách nhiệt:














α













++++−=
8
1
15,0
.005,0
82.0
1,0
9,0
01,0
3,23
1
27,0
1
037,0
cn
δ
)(121,0 m
=

++++
=
K
K
t
= 0,258w/m
2
k

Kiểm tra tính động sương trên bề mặt ngồi của tường:
Điều kiện vách ngồi không đông sương:
K<= K
S
K
S
= 0.95*ά
ng
trng
sng
tt
tt


t
s
:nhiệt đô động sương
nhiệt độ trung bình tháng nóng nhất ở tp HCM là t=37.5 C
Độ ẩm φ =74%
Tra đồ thị h-x ta được:
t

δ
i
λ
i
R
i
Vữa
Gạch
Giấy dầu
Styropore
0,02
0,1
0,003
0,9
0,82
0,18
0,047
Bì dày tấm cách nhiệt được tính:













.K
2
α
= 8 W/m
2
.K (đối lưu tự nhiên)













++++−=δ
8
1
82,0
1
18,0
2.003,0
3.
9,0
02,0
3,23

1,0
18,0
2.003,0
9,0
3.02,0
3,23
1
1
+++++
=
= 0,282 (W/m
2
.K)
* Nền:
- 14 -
ĐỒ ÁN QTTB GVHD: TRẦN VĂN NGHỆ
SVTH :TRẦN ĐÌNH HIỂN
1. Lớp vữa
2. Bêtông
4. Lớp cát.
5. Lớp xì
5. Giấy dầu.
6. Bêtông.
Bảng số liệu
Vật liệu
δ
i
λ
i
R

δ
+
α
−λ=δ

=
u
1i
2i
i
1
cncn
11
K
1
Chọn:
K = 0,29 W/m
2
.K (Tra ở 40C lấy K = K
mái
415/M lạnh)
1
α
= 23,3
- 15 -

Trích đoạn Chi phí xây dựng nhà xưởng: 5106 đồng
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status