Tài liệu về biến đổi khí hậu toàn cầu và các kịch bản biến đổi khí hậu cho
Việt Nam.
I. MỞ ĐẦU
1 Biến đổi khí hậu là gì?
Hơn 30 năm trước James Lovelock nghiên cứu trong lĩnh vực nghiên cứu
trái đất và khả năng cân bằng tự nhiên môi trường duy trì và phát triển sự
sống. Ông gọi nó là GAIA và lý thuyết này nhanh chóng được thừa nhận.
James Lovelock nhận ra rằng con người đã đối xử tệ bạc với trái đất
(bằng cách khai thác tài nguyên và trả lại cho trái đất những điều có hại vượt
quá sự hập thụ của nó ) Chính những hành động đó đã hủy hoại môi trường
sống, hủy hại trái đất này.
Một trong những biểu hiện của sự hủy hoại đó là sự biến đổi khí hậu. Khí
hậu đã bị biến đổi và nó là nguyên nhân làm cho sự sống trên trái đất dần
mất đi sự cân bằng, hay ít nhất sự sống trên trái đất sẽ không bao giờ trở lại
trạng thái cân bằng tự nhiên như trước đây nữa.
"Biến đổi khí hậu trái đất là sự thay đổi của hệ thống khí hậu gồm khí
quyển, thuỷ quyển, sinh quyển, thạch quyển hiện tại và trong tương lai bởi
các nguyên nhân tự nhiên và nhân tạo". “Biến đổi khí hậu là “những ảnh
hưởng có hại của biến đổi khí hậu”, là những biến đổi trong môi trường vật
lý hoặc sinh học gây ra những ảnh hưởng có hại đáng kể đến thành phần,
khả năng phục hồi hoặc sinh sản của các hệ sinh thái tự nhiên và được quản
lý hoặc đến hoạt động của các hệ thống kinh tế - xã hội hoặc đến sức khỏe
và phúc lợi của con người”.(Theo công ước chung của LHQ về biến đổi khí
hậu).
2 Nguyên nhân dẫn đến biến đổi khí hậu.
2.1 Nguyên nhân tự nhiên
- Do sự tương tác và vận động giữa trái đất và vũ trụ
- Những yếu tố không phải là khí hậu nhưng ảnh hưởng đến khí hậu
như: tác động của CO2, bức xạ mặt trời, động đất và núi lửa…
2.2 Nguyên nhân nhân tạo
- Do con người sử dụng những nhiên liệu hóa thạch, sử dụng các loại
2
O phát thải từ phân bón và các hoạt động công nghiệp.
+ HFCs được sử dụng thay cho các chất phá hủy ôzôn (ODS) và
HFC-23 là sản phẩm phụ của quá trình sản xuất HCFC-22.
+ PFCs sinh ra từ quá trình sản xuất nhôm.
+ SF
6
sử dụng trong vật liệu cách điện và trong quá trình sản xuất
magiê.
3 Các biểu hiện của biến đổi khí hậu
- Sự nóng lên của khí quyển và trái đất nói chung.
- Sự thay đổi thành phần và chất lượng khí quyển có hại cho môi
trường sống của con người và các sinh vật trên trái đất.
- Sự dâng cao mực nước biển do tan băng dẫn tới sự ngập úng của các
vùng đất thấp, các đảo nhỏ trên biển.
- Sự di chuyển của các đới khí hậu tồn tại hàng nghìn năm trên các
vùng khác nhau của trái đất dẫn tới nguy cơ đe doạ sự sống của các loài
sinh vật, các hệ sinh thái và hoạt động của con người.
- Sự thay đổi cường độ hoạt động của quá trình hoàn lưu khí quyển, chu
trình tuần hoàn nước trong tự nhiên và các chu trình sinh địa hoá khác.
- Sự thay đổi năng suất sinh học của các hệ sinh thái, chất lượng và
thành phần của thuỷ quyển, sinh quyển, các địa quyển.
4 Một số hiện tượng của biến đổi khí hậu
4.1 Hiệu ứng nhà kính:
Nhiệt độ bề mặt trái đất được tạo nên do sự cân bằng giữa năng lượng
mặt trời đến bề mặt trái đất và năng lượng bức xạ của trái đất vào khoảng
không gian giữa các hành tinh. Năng lượng mặt trời chủ yếu là các tia sóng
ngắn dễ dàng xuyên qua cửa sổ khí quyển. Trong khi đó, bức xạ của trái đất
với nhiệt độ bề mặt trung bình +16
o
trở nên độc hơn đối với cây cối, vật nuôi và con người.
4.3 Thủng tầng ôzon
Phân tử ôzôn bao gồm ba nguyên tử ôxy. Chúng hợp thành một lớp mỏng
trên tầng khí quyển hấp thụ những tia cực tím có hại từ hệ mặt trời. Phần lớn
ôzôn khí quyển được tìm thấy ở độ cao xấp xỉ 6 đến 18 dặm trên bề mặt trái
đất. Những khu vực Ôzôn bị suy giảm nghiêm trọng được gọi là lỗ thủng
ôzôn.
Cái được gọi là lỗ thủng tầng Ôzôn trong bầu khí quyển Trái đất ở vùng
Nam Cực tháng 9 năm 2000, là lỗ thủng lớn nhất đã từng quan sát được.
Diện tích lỗ thủng tháng 9 năm 2000 là 11,4 triệu dặm vuông.
Lỗ thủng lớn thứ 2 hình thành năm 2003 và bao phủ 11,1 triệu dặm
vuông. Những lỗ thủng tầng Ôzôn lớn này che phủ toàn bộ phần Nam Cực
và đỉnh phía Nam của Nam Mỹ. Để dễ hình dung, diện tích bao phủ to gấp
ba lần diện tích nước Mỹ không kể Alaska, hoặc Châu Úc.
Nếu tầng Ozon bị thủng, một lượng lớn tia tử ngoại sẽ chiếu thẳng
xuống Trái đất. Con người sống trên Trái đất sẽ mắc bệnh ung thư da, thực
vật không chịu nổi nhiều tia tử ngoại chiếu vào sẽ bị mất dần khả năng miễn
dịch, các sinh vật dưới biển bị tổn thương và chết dần. Bởi vậy các nước trên
thế giới đều rất lo sợ trước hiện tượng thủng tầng Ozon.
4.4 Cháy rừng
Nhiệt độ tăng cao, đât đai khô cằn và nhiều cánh rừng lớn biến
thành tro bụi – những hiện tượng bất thường này không còn bó hẹp ở một số
quốc gia hay khu vực mà đang xảy ra hầu khắp trên thế giới. Từ khu rừng
Taiga ở Siberie của Nga đến khu rừng Rockies rộng lớn ở Canada, miền
Nam California (Mỹ) và Australia, các nhà khoa học đã tìm thấy những bằng
chứng rõ rang cho thấy tình trạng cháy rừng tràn lan hiện nay có nguồn gốc
từ sự biến đổi khí hậu.
4.5 Lũ lụt- Hạn hán
• Bão
Bão là trạng thái nhiễu động của khí quyển và là một loại hình
Một trong những thách thức lớn nhất mà nhân loại phải đối mặt là
hiện tượng sa mạc hóa. Đây là một vấn đề toàn cầu đang tác động đến 1/3
trái đất và đe dọa cuộc sống của 1,2 tỷ người trên hành tinh.
Sa mạc hóa là hiện tượng suy thoái đất đai ở những vùng khô hạn, bán
khô hạn, vùng ẩm nửa khô hạn, gây ra bởi sinh hoạt con người và biến đổi
khí hậu.
4.8 Hiện tượng sương khói
Sương khói là một sự cố môi trường, xảy ra do sự kết hợp sương với
khói và một số chất gây ô nhiễm không khí khác. Sương khói thường tạo ra
nhiều chất gây ô nhiễm thứ cấp có hại cho động thực vật và môi trường nói
chung. Cho đến nay, người rag hi nhận có hai kiểu sương khói đó là: Sương
khói kiểu London và sương khói kiểu Los Angeles
II. NỘI DUNG
1. Ảnh hưởng của biến đổi khí hậu trái đất đến thiên nhiên và con người
5.2 Tác động lên môi trường:
• Tài nguyên đất:
Biến đổi khí hậu làm cho trái đất nóng lên nên các lớp băng tuyết sẽ bị
tan nhanh trong những thập niên tới. Nước băng tan mang theo các
lớp cặn lắng khiến các dòng chảy trở nên nông cạn hơn.
Hiện tượng triều cường, mực nước biển dâng cao gây sạn lở bờ
biển, bờ sông, ngập lụt, nhiễm mặn nguồn nước. Mực nước biển dâng
lên có thể nhấn chìm nhiều vùng rộng lớn ở các khu vực thấp ở Việt
Nam, Bangladesh, Ấn độ và Trung Quốc.
Biến đổi khí hậu gây rét đậm, rét hại trong nhiều ngày
Đất vốn đã bị thoái hóa do quá lặm dụng phân vô cơ, hiện tượng khô
hạn, rửa trôi do mưa sẽ dẫn tới tình trạng thoái hóa đất trầm trọng hơn.
Nhiệt độ nóng lên làm quá trình bay hơi diễn ra nhanh hơn, đất bị mất
nước trở nên khô cằn, các quá trình chuyển hóa trong đất khó xảy ra.
Mưa axit rửa trôi hoàn toàn chất dinh dưỡng và vi sinh vật tồn
tại trong đất…
vùng trũng nên bị ảnh hưởng nhiều nhất khi xảy ra ngập lụt, xâm nhập
mặn và các hiện tượng thời tiết xấu. Trong đó 90% diện tích thuộc các
tỉnh đồng bằng sông Cửu Long bị ngập hầu như toàn bộ, vf có khoảng
10% dân số bị ảnh hưởng trực tiếp, tổn thất đối với GDP khoảng 10%.
Nếu nước biển dâng 3m sẽ có khoảng 25% dân số bị ảnh hưởng như
đợt nhập mặn vào năm 2005.
Đồng bằng sông Cửu Long sẽ là vùng bị ảnh hưởng mạnh nhất,
nước biển dâng cao hơn sẽ làm cho nhiều vùng đồng bằng nước ngọt
hiện nay trở thành vùng nước lợ, hang triệu người sẽ có nguy cơ bị
mất chỗ ở, từ đó làm gia tăng sức ép lên sự phát triển của các vùng lân
cận, làm thay đổi chế độ thủy văn dòng chảy và gây áp lực đến 90%
dâng cao làm ngập lụt phần lớn đồng bằng Sông Cửu Long vốn đã bị
ngập lụt hàng năm, dẫn đến mất nhiều đất nông nghiệp. Sẽ có từ
15.000- 20.000 km
2
đất thấp ven biển bị ngập hoàn toàn. Lưu lượng
nước sông Mê Công giảm từ 2- 24% trong mùa khô, tăng từ 7- 15%
vào mùa lũ. Hạn hán sẽ xuất hiện nhiều hơn. Nước lũ sẽ cao hơn tại
các tỉnh An Giang, Đồng Tháp, Long An, Tiền Giang, Kiên Giang,
Vĩnh Long, TP Cần Thơ, Hậu Giang, thời gian ngập lũ tại đây kéo dài
hơn hiện nay. Việc tiêu thoát nước mùa mưa lũ cũng khó khăn. Suy
giảm tài nguyên nước sẽ ảnh hưởng nghiệm trọng đến sản xuất nông
nghiệp, nghề cá. Quá trình xâm nhập mặn vào nội đồng sẽ sâu hơn,
tập chung tại các tỉnh ven biển bao gồm Cà Mau, Bạc Liêu, Sóc
Trăng, Trà Vinh, Bến Tre, Tiền Giang, Long An và nước ngọt sẽ khan
hiếm.
Tóm lại, khan hiến và thiếu nước là mối đe dọa rất nghiêm
trọng đối với sự tồn tại của con người trong tương lai. Vì lẽ đó, cần có
các giải pháp quản lý, khai thác và bảo vệ tốt tài nguyên nước. Trước
hết, cần phải củng cố, bổ sung mạng lưới điều tra quan trắc tài nguyên
Những đối tượng dễ bị tổn thương nhất là những nông dân
nghèo, các dân tộc thiểu số ở miền núi, người già, trẻ em và phụ nữ
Tình trạng nóng lên làm thay đổi cấu trúc màu nhiệt hàng năm.
Ở miền Bắc mùa đông sẽ ấm lên dẫn tớ thay đổi nhịp sinh học của con
người.
Nhiệt độ tăng làm tăng tác động tiêu cực đối với sức khỏe con
người, dẫn đến gia tăng một số nguy cơ đối với tuổi già, người mắc
bệnh tim mạch, bệnh thần kinh
Thiên tai như bão tố, nước dâng, ngập lụt, hạn hán, mưa lớn và
sạn lở đất… Gia tăng về cường độ và tần số làm tăng số người bị thiệt
mạng và ảnh hưởng gián tiếp đến sức khỏe thông qua ô nhiễm môi
trường, dịch bệnh…
• Kinh tế
Việt Nam là nước đang phát triển, phát thải khí gây hiệu ứng
nhà kính ở mức độ còn thấp nhưng lại phải hứng chịu nhều tác động
của Biến đổi khí hậu. Theo đánh giá của ngân hàng thế giới (2007),
Việt Nam là một trong số các nước sẽ bị ảnh hưởng nhiều nhất của
hiện tượng biến đổi khí hậu. Trong đó đồng bằng sông Cửu Long và
đồng bằng sông Hồng bị ngập nhiều nhất. Nếu mực nước biển dâng
1m sẽ có 10% dấn số bị ảnh hưởng trực tiếp, tổn thất 10% GDP, nếu
nước biển dâng 3m sẽ có khoảng 25% dân số bị ảnh hưởng trực tiếp
và tổn thất khoảng 25%GDP.
1 Các kịch bản biến đổi khí hậu ở Việt Nam
2.1 Kịch bản biến đổi khí hậu ở Việt Nam
Mục tiêu của việc xây dựng các kịch bản biến đổi khí hậu, nước
biển dâng cho Việt Nam là đưa ra những thông tin cơ bản về xu thế
biến đổi khí hậu, nước biển dâng của Việt Nam trong tương lai tương
ứng với các kịch bản khác nhau về phát triển kinh tế - Xã hội toàn cầu
dẫn đến các tốc độ phát thải khí nhà kính khác nhau. Các kịch bản
biến đổi khí hậu, nước biển dâng sẽ là định hướng ban đầu để các Bộ,
C trong thời kỳ 1906-2005
và tốc độ tăng của nhiệt độ trong 50 năm gần đây gần gấp đôi so với
50 năm trước đó. Nhiệt độ trên lục địa tăng nhanh hơn so với trên đại
dương.
Trong 100 năm qua, lượng mưa có xu thế tăng ở khu vực vĩ dộ
cao hơn 30
o
. Tuy nhiên, lương mưa lại có xu hướng giảm ở khu vực
nhiệt đới từ giữa những năm 1970. Hiện tượng mưa lớn có dấu hiệu
tăng ở nhiều khu vực trên thế giới( IPCC-2007)
Mực nước biển toàn cầu đã tăng trong thế kỷ 20 với tốc độ ngày
càng cao. Hai nguyên nhân chính làm tăng mực nước biển là sự giãn
nở nhiệt của đại dương và sự băng tan.
Ở Việt Nam, kết quả phân tích các số liệu khí hậu cho thấy biến
đổi của các yếu tố khí hậu và mực nước biển có những đặc điểm sau:
- Nhiệt độ: trong 50 năm qua (1958-2007), nhiệt độ trung bình
năm ở Việt Nam tăng len khoảng từ 0,5
o
C đến 0,7
o
C. Nhiệt độ mùa
đông tăng nhanh hơn nhiệt độ mùa hè và nhiệt độ ở các vùng khí hậu
phía Bắc tăng nhanh hơn ở các vùng khí hậu phía Nam. Nhiệt độ
trung bình năm của 4 thập kỷ gần đây cao hơn trung bình năm của 3
thập kỷ trước đó.
- Lượng mưa: Trên từng địa điểm, xu thế biến đổi của lượng
mưa trung bình năm trong 9 thập kỷ vừa qua ( 1911-2000) không rõ
rệt theo các thời kỳ và trên các vùng khác nhau: có giai đoạn tăng lên
và có giai đoạn giảm xuống. Lượng mưa trong năm giảm ở các vùng
khí hậu phía bắc và tăng ở các vùng khí hậu phía nam. Tính trung
Các kịch bản phát thải khí nhà kính được chọn để tính
toán xây dựng kịch bản biến đổi khí hậu cho Việt Nam là kịch bản
phát thải thấp ( kịch bản B1), kịch bản phát thải trung bình của nhóm
các kịch bản phát thải trung bình ( kịch bản B2) và kịch bản phát thải
trung bình của nhóm các kịch bản phát thải cao ( kịch bản A2)
Các kịch bản biến đổi khí hậu đối với nhiệt độ và lượng mưa
được xây dựng cho bảy vùng khí hậu của Việt Nam: Tây Bắc, Đông
Bắc, Đồng bằng Bắc Bộ, Bắc Trung Bộ, Tây Nguyên và Nam Bộ.
Thời kỳ dùng làm cơ sở để so sánh là 1980- 1999 ( cũng là thời kỳ
được chọn làm báo cáo đánh giá lần thứ 4 của IPCC)
Các kịch bản biến đổi khí hậu cho các vùng khí hậu của Việt
Nam trong thế kỷ 21
a) Về nhiệt độ
Nhiệt độ mùa đông có thể tăng nhanh hơn so với mùa hè ở tất
cả các vùng khí hậu của nước ta. Nhiệt độ ở các vùng khí hậu phía
Bắc có thể tăng nhanh hơn so với các vùng khí hậu phía Nam
- Theo kịch bản phát thải thấp (B1): vào cuối thế kỷ 21, nhiệt độ trung
bình năm ở các vùng khí hậu phía Bắc có thể tăng so với trung bình
thời kỳ 1980– 1999 khoảng từ 1,6 – 1,9
o
C và ở các vùng khí hậu phía
Nam tăng ít hơn, chỉ khoảng từ 1,1– 1,4
o
C( Bảng 2)
- Theo kich bản phát thải trung bình (B2): vào cuối thế kỷ 21, nhiệt độ
trung bình năm có thể tăng lên 2,6
o
C ở Tây Bắc, 2,5
o
C ở Đông Bắc,
Bằng Bắc Bộ, khoảng 10% ở Bắc Trung Bộ, lượng mưa vào giữa mùa
khô ở các vùng khí hậu phía Nam có thể giảm tới 10- 15% so với thời
kỳ 1980- 1999. Lượng mưa các tháng cao điểm của mùa mưa sẽ tăng
từ 10- 15% ở cả bốn vùng khí hậu phía Bắc và Nam Trung Bộ, còn ở
Tây Nguyên và Nam Bộ chỉ tăng trên dưới 1%.
Theo kịch bản phát thải cao(A2): Vào cuối thế kỷ 21, lượng mưa năm có
thể tăng so với trung bình thời kỳ 1980- 1999, khoảng 9- 10% ở Tây Bắc,
Đông Bắc, 10% ở Đồng Bằng Bắc Bộ, Bắc Trung Bộ, 4- 5% ở Nam Bộ và
khoảng 2% ở Tây Nguyên, Nam Bộ( Bảng 7). Lượng mưa thời kỳ từ tháng
III đến tháng V sẽ giảm từ 6- 9% ở Tây Bắc, Đông Bắc và Đồng Bằng Bắc
Bộ, khoảng 13% ở Bắc Trung Bộ, lượng mưa vào giữa mùa khô ở Nam
Trung Bộ, Tây Nguyên, Nam Bộ có thể giảm tới 13- 22% so với thời kỳ
1980- 1999. Lượng mưa các tháng cao điểm của mùa mưa sẽ tăng từ 12-
19% ở cả bốn vùng khí hậu phía Bắc và Nam Trung Bộ, còn ở Tây Nguyên
và Nam Bộ chỉ vào khoảng 1- 2%
2 Kịch Bản nước biển dâng
Báo cáo lần thứ tư của IPCC ước tính mực nước biển dâng khoảng 26-
59cm vào năm 2010, tuy nhiên không loại trừ khả năng tốc độ cao hơn.
Nhiều nhà khoa học đã đánh giá rằng các tính toán của IPCC về thay
đổi nhiệt độ toàn cầu là tương đối phù hợp với số liệu nhiệt độ thực đo.
Tuy nhiên, tính toán của IPCC về nước biển dâng là thấp so với số liệu
thực đo tại các trạm vệ tinh, mà nguyên nhân chính dẫn đến sự thiên thấp
này là do các mô hình tính toán mà IPCC sử dụng để phân tích đã chưa
đánh giá đầy đủ các quá trình tan băng.
Một số nghiên cứu gần đây cho rằng mực nước biển toàn cầu có thể
tăng 50- 140cm vào năm 2010.
Các kịch bản nước biển dâng cho Việt Nam được tính toán theo kịch
bản phát thải thập nhất (B1), kịch bản phát thải trung bình(B2) và kịch
bản phát thải cao nhất (A1F1)
Kết quả tính toán theo các kịch bản phát thải thấp, trung bình và cao
định trong thời gian gần đây:
Đầu tiên trong nước ta phải kể đến trận lụt ở miền trung năm nay.
Đành rằng miền Trung lũ lụt là câu nge bình thường. Nhưng vấn đề đặt ra
là những biện pháp đặt ra, đã được dự thảo tiến hành đến đâu mà miền
Trung cứ đón lũ như định mệnh. Đáng nói hơn là lũ có phải năm nào
cũng như năm nào? Mỗi lần lũ tràn về là lại một lần tăng thêm cường độ,
tăng thêm thiệt hại. Đó là chưa muốn nhắc đến trận ngập lụt ở ngay chính
thủ đô Hà Nội năm 2008,( Hà Nội mùa này phố cũng như sông…)
Đó là những gì nho nhỏ mà chúmg ta chứng kiến so với sự chứng kiến
của thế giới. Những nước góp phần vào hiện tượng biến đổi khí hậu cũng
đang phải chứng kiến hệ quả mình tạo ra:
Ngày 11/3/2011 nước Nhật đã phải chịu một thảm họa kép tàn
khốc.Trận động đất mạnh tới 9 độ richter kèm theo những con sóng thần
cao tới 14m đã gây ra sự tàn phá khủng khiếp trên khu vực bắc Nhật Bản.
Theo ước tính thì thiệt hại của thảm họa này riêng về vật chất có thể lên
tới con số khổng lồ 309 tỉ USD và đây cũng được xác nhận là thảm họa
thiên nhiên gây tổn thất về vất chất lớn nhất trong lịch sử thế giới.
Ngoài những thiệt hại về người và của thì sau khi thảm họa đi qua
Nhật Bản còn phải đối mặt với một thảm họa tiềm tàng khác đó là rò rỉ
chất phóng xạ và xa hơn là thảm họa hạt nhân. Đây là thảm họa do chính
con người tạo ra chứ không thể đổ lỗi cho thiên nhiên được
Không chỉ ở Nhật, thời gian gần đây động đất còn làm cho nhiều nơi
hoảng loạn: Trận động đất mạnh 6,8 độ Richter với tâm chấn nằm tương
đối nông- 10km dưới lòng đất- gây nên chấn dộng tại những địa điểm rất
xa như Bangkok, Hà Nội và một phần Trung Quốc. Ngay sau đó một trận
động đất với cường độ 5.5 dộ richter đã được nghi nhận vùng giáp biên
giới Thái Lan khoảng 90km ở phía Bắc. Có nhiều nhà nghiên cứu khoa
học cho rằng những trận động đất sau này diễn ra gây dư chấn rộng là hệ
quả của chuỗi tác động từ sau trận động đất mạnh 8,9 độ richter ở Nhật
Bản. Những dư trấn này gây hoang mang cho rất nhiều vùng về một nguy
chống được mức nước triều tần suất 5% ứng với gió bão cấp 9( năm
2015) và cấp 10( năm 2020) đối với các tỉnh từ Quảng Ninh đến
Quảng Nam. Từng bước thực hiện bốn nhân tố chính là vấn đề buôn
bán lượng khí thải, hợp tác kỹ thuật, giảm phá rừng, ứng phó với biến
đổi khí hậu nhằm đạt được những mục tiêu dài hạn để góp phần vào
mục tiêu chung của toàn cầu. Dù còn nhiều thách thức nhưng đến nay
những chương trình, kế hoạch đã được triển khai, nhất là công tác
thông tin, truyền thông nâng cao nhận thức cộng đồng và đã tạo được
nhiều cây trồng mới thích hợp với khí hậu đang dàn biến đổi. Cùng
với sự quan tâm và hợp tác của các tổ chức quốc tế, các quốc gia trong
khu vực và thế giới, Việt Nam sẽ ứng phó và thích ứng thành công với
biến đổi khí hậu, hạn chế thiên tai, phát triển bền vững.
Ngày 16/92009, tại TP. HCM, trong cuộc trao đổi với báo chí về vấn
đề biến đổi khí hậu và đề xuất các giải pháp đối phó với biến đổi khí hậu,
ông Ralph Cantral, cố vấn cấp cao văn phòng quản lý biển và tài nguyên bờ
biển- cục quản lý biển và khí quyển quốc gia Hoa Kỳ đã đưa ra 3 phương án
ứng phó:
Thứ nất cần tiến hành các biện pháp bảo vệ đất, nhất là đối với các
vùng đất ven biển, bởi nếu có biến đổi khí hậu sẽ gây nên tình trạng đất
quanh bờ biển bị xói mòn.
Thứ hai, các biện pháp thích nghi với biến đổi khí hậu như nâng kết
cấu hoặc tạo ra các kết cấu có thể di chuyển được.
Thứ ba, di dời dân ra khỏi vùng bị ảnh hưởng, đồng thời thực hiện
việc tái định cư đối với các khu vực bị tác động của lũ lụt bằng cách di dân
hoặc thôi vụ hoặc vĩnh viễn. Sauk hi di dời có thể tận dụng các vùng đất này
làm đất nông nghiệp hoặc dùng vào các mục đích khác phù hợp hơn.