Khái quát về sự hình thành và phát triển
của Việt ngữ học (Phần 1)
Việt ngữ học với tư cách là một ngành khoa học chỉ mới xuất hiện gần đây, khi
nước ta giành được quyền độc lập dân tộc (1945), cùng với sự ra đời của các
trường đại học và viện nghiên cứu ở Việt Nam, nhưng những quan sát, suy nghĩ về
tiếng Việt thì đã có từ lâu.
Cũng như mọi ngành khoa học khác, Việt ngữ học ra đời xuất phát từ nhu cầu của
thực tiễn chứ không phải từ những suy nghĩ trừu tượng.
Bản tính của con người là tò mò, hiếu kì, luôn luôn quan sát, ham phá môi trường
sống xung quanh cũng như chính bản thân mình. Người Việt xa xưa đã chú ý tới
sự khác biệt trong lời nói của mình với lời nói của những người khác, sự khác biệt
trong tiếng nói của làng mình với tiếng nói của làng khác. Những gì là của mình
do bố mẹ truyền dạy; những gì là của làng mình, là cái chung của cả họ, của
những người người hàng xóm thân thích, tắt lửa tối đèn có nhau, đương nhiên sẽ
được mọi người trân trọng, giữ gìn, không cho người khác xúc phạm (chửi cha
không bằng pha tiếng).
Khi dân tộc phát triển, người ta hướng tới những cái chung cho toàn dân tộc, mà
ngôn ngữ chính là linh hồn của dân tộc. Vì thế, cái nhu cầu thôi thúc cần phải
nghiên cứu tiếng Việt một cách sâu sắc xuất phát từ niềm tự hào về dân tộc và
tiếng nói dân tộc. Niềm tự hào dân tộc thể hiện ở chỗ mỗi dân tộc phải có nền văn
hiến riêng. Trước khi chữ Nôm hình thành, dân tộc ta đã có một ngôn ngữ thành
văn trên cơ sở chữ Hán, đã có một nền văn hoá khả quan, phục vụ đắc lực cho việc
quản lí và điều hành xã hội, đã tạo ra một nền văn chương bác học với thơ, phú, ca,
từ, Tuy nhiên, cái ngôn ngữ thành văn này không thật sự bắt rễ bền chắc từ bản
thân cộng đồng(1). Nhu cầu đặt ra là phải xây dựng một nền văn hoá dân tộc dựa
trên ngôn ngữ dân tộc. Chữ Nôm ra đời đánh dấu bước nhận thức mới sâu sắc hơn
về tiếng Việt.
Nhờ có chữ Nôm, người ta mới có thể biết thêm về nhiều thói quen lời nói khác
Nghiên cứu một số vấn đề về triết học ngôn ngữ, đặc biệt là vấn đề quan hệ
giữa tên gọi (danh) và hiện thực (thực), vấn đề xác định thế nào là câu.
Nghiên cứu chữ Hán, truyền thống ngữ văn Trung Quốc gọi việc nghiên
cứu này là huấn hỗ học và tự thư học. Huấn hỗ học nhằm giải thích nghĩa
của chữ, tự thư học giải thích hình của chữ.
Nghiên cứu âm và vần tiếng Hán là nội dung nghiên cứu của âm vận học. Tiếp xúc với phương Tây, chúng ta dần dần làm quen với hệ thống thuật ngữ ngôn
ngữ học mới mẻ: nguyên âm, phụ âm, âm vị, âm tố, thanh điệu, dấu câu, phong
cách, chức năng, từ đơn, từ ghép, từ phái sinh, từ tố, hình vị, chủ ngữ, vị ngữ, định
ngữ, bổ ngữ, câu đơn, câu ghép, từ loại, danh từ, động từ, tính từ,
Ngay các cuốn từ điển giải thích tiếng Việt cũng như các cuốn từ điển đối chiếu
tiếng Việt với một ngoại ngữ nào đó được biên soạn vào thời cận hiện đại cũng
vận dụng những lí luận từ điển học mà ngôn ngữ học thế giới đã dày công tích luỹ.
Khi tiếng Việt chưa được sử dụng trong giáo dục và hành chính, thì nhu cầu thống
nhất và chuẩn hoá tiếng Việt chưa đặt ra một cách cấp thiết. Thế nhưng, Cách
mạng Tháng Tám thành công đã đưa lại địa vị ngôn ngữ chính thức của quốc gia
cho tiếng Việt, nhu cầu chuẩn hoá tiếng Việt trở thành một nhiệm vụ cấp thiết.
Chính nhu cầu thống nhất ngôn ngữ, chuẩn hoá tiếng Việt đã đòi hỏi việc nghiên
cứu tiếng Việt phải thật đầy đủ, toàn diện.
Mặt khác, ngày nay tiếng Việt không chỉ là phương tiện giao tiếp của người Việt
trên mọi miền đất nước, mà còn là phương tiện giao tiếp chung của đại gia đình
các dân tộc Việt Nam, là phương tiện của Việt Nam trong giao lưu và hợp tác
quốc tế. Vì thế, tiếng Việt trở thành đối tượng học tập, nghiên cứu chẳng những
của người Việt Nam, mà còn của các dân tộc thiểu số ở Việt Nam và bạn bè quốc
tế.