VUA TRẦN NHÂN TÔNG VÀ SỰ NGHIỆP
XÂY DỰNG HÒA BÌNH THỜI HẬU CHIẾN
3
Cùng lúc với việc tiến hành các biện pháp nhằm gầy dựng lại đời sống vật chất và
tinh thần ấm no cho người dân sau chiến tranh, ngay khi đám bại tướng Thoát
Hoan và Áo Lỗ Xích đã tháo chạy về được bên kia biên giới và đóng quân tại Tư
Minh của Quảng Tây vào ngày Nhâm Dần 18 tháng 3 năm Mậu Tý, vua Trần
Nhân Tông lại bắt đầu thực hiện chính sách ngoại giao mềm dẻo và khôn khéo
nhằm vừa đè bẹp ý chí xâm lược của kẻ thù, vừa duy trì hoà bình cho đất nước.
Vào ngày Nhâm Dần đó, Bản kỷ của Nguyên sử 15 tờ 3a9 cho biết vua Trần Nhân
Tông “đã sai sứ đến tạ tội và dâng người vàng để thay thế bản thân mình”. Sự kiện
này không thấy sử ta ghi, nhưng An Nam chí lược 14 tờ 140 của tên Việt gian Lê
Thực có đề cập tới và ghi rõ tên họ của những người đi trong phái bộ này. Nó viết: “Mùa xuân năm Chí Nguyên Mậu Tý (1288), Trấn Nam Vương rút quân
về, Thế tử sai cận thị quan Lý Tu và Đoàn Khả Dung cống phương vật tạ tội”. Khi
viết vào mùa xuân Thoát Hoan rút quân về, và vua Trần Nhân Tông đã gửi Lý Tu
và Đoàn Khả Dung đi sứ qua Nguyên, An Nam chí lược chắc chắn nói tới thời
điểm tháng 3, cụ thể là ngày Nhâm Dần 18, bởi vì trong mùa xuân ấy, ngoài phái
bộ vừa nêu, vua Trần Nhân Tông và triều đình Đại Việt không thấy cử bất cứ phái
bộ nào khác. Đây chắc hẳn là một phái bộ đi thăm dò, tìm hiểu thái độ và tình hình
của địch sau khi ta đã quét sạch quân chúng ra khỏi bờ cõi.
Quả vậy, đúng một tháng sau khi khải hoàn về kinh đô Thăng Long, ngày Canh
Thìn, 27 tháng 4 năm Mậu Tý, vua Trần Nhân Tông đã sai trung đại phu Trần
Khắc Dụng đi cống phương vật, như Bản kỷ của Nguyên sử 15 tờ 3b13-4a1 đã
ghi. An Nam chí lược không nói tới phái bộ này. Tuy nhiên Thiên Nam hành ký
của Từ Minh Thiện trong Thuyết phu 51 tờ 18b4-19b6 chép lại lá thư vua Trần
Nhân Tông gửi cho Hốt Tất Liệt. Qua lá thư này, ta thấy phái bộ Trần Khắc Dụng
chiến tranh để vĩnh viễn dập tắt chiến tranh, mà phải có phương sách khác. Đó là
lòng nhân ái, nhân hậu. Phải nói đây là một trong những tác động sâu xa của giáo
lý Phật giáo trong cung cách hành sử việc đời không chỉ đối với Trần Nhân Tông,
mà còn đối với toàn bộ dân tộc ta lúc ấy, từ những tướng lĩnh cao cấp nhất như
Trần Hưng Đạo, Trần Quang Khải cho đến những người lính người dân bình
thường. Và thực tế trong lá thư ấy, sau khi lên án tội ác trời không dung đất không
tha của đám tướng tá nhà Nguyên trong hai cuộc chiến tranh vừa qua, vua Trần
Nhân Tông chủ động biểu thị lòng nhân ái của mình bằng cách tha các tù binh, mà
ta bắt được trong hai cuộc chiến vừa qua.
Lá thư năm 1288 vua Trần Nhân Tông viết: “Thấy trăm họ đưa đến một người là
đại vương Tích Lệ Cơ, nói là bậc quý thích của đại quốc, Thần từ hôm đó đã lấy lễ
đối đãi rất mực tôn trọng. Kính hay không kính thì đại vương tất rõ. Còn những
hành vi tàn bạo của Ô Mã Nhi, đại vương trông thấy tận mắt, vi thần không dám
nói dối. Tiểu quốc, thủy thổ độc, viêm chướng nhiều, thần lo ở lại lâu ngày sinh ra
bệnh tật. Tuy vi thần có hết sức phụng dưỡng, cũng không khỏi bị những bọn tham
công ngoài biên giới vu tấu đặt điều cho nên tội. Vi thần kính xin sắm đủ lễ vật đi
đường, sai người đến biên giới đưa đại vương về nước ( ). Ngoài ra, đại quân rơi
rớt lại còn hơn nghìn người, thần đã ra lệnh cho trở về hết. Sau này, nếu còn tìm
được người nào, thần cũng sẽ cho về”. Rõ ràng dù bọn tướng tá ở biên giới do tham công mà gây chiến, thì tội ác chúng
cũng đáng để bị trừng trị vì không chỉ chúng đã manh động gây chiến, mà còn phá
hoại sự sống hòa bình của những cộng đồng dân tộc khác. Và đấy là chưa kể
những hành động tàn ác dã man vừa giết người đốt nhà cướp của, thậm chí “treo
trói, xẻ, mổ cắt, đầu mình khắp chốn” đối với dân lành của chúng. Đứng trước
những tội ác và hành động dã man như vậy, thế mà khi bắt sống được chúng, dân
tộc ta vẫn tỏ lượng bao dung nhân ái, tha chết cho chúng để chúng có thể về đoàn
tụ với gia đình cha mẹ vợ con. Người Việt thời bấy giờ hình như có một cảm nhận
Vì vậy, việc vua Trần Nhân Tông đề nghị và thả các tù binh ta đã bắt được, không
chỉ thể hiện một sách lược ngoại giao mềm dẻo, nhân hậu, mà còn bộc lộ tình
thương đối với từng con người một trong từng cảnh khổ của họ của dân tộc ta,
trong đó có bản thân vua. Truyền thống thương người này, hơn một trăm năm sau,
vị anh hùng dân tộc Lê Lợi lại có dịp kế thừa và phát huy bằng việc thả tự do cho
hơn mấy vạn quân Minh về nước. Không những thế vua Lê Lợi còn sửa đường,
làm cầu, cung cấp thuyền bè, xe ngựa, lương thực đeå cho đám tù binh ấy được về
nhà an toàn khỏe mạnh. Cho nên, dù trong văn bia của Lý Thiên Hựu có nói đến
cảnh Hựu “bị bắt liền cắt ngắn tóc, hoặc không cho ăn, lăng nhục khốn khổ muôn
bề”, thì trường hợp này nếu có, cũng chỉ là một trường hợp cá biệt, đặc biệt trong
bối cảnh Ô Mã Nhi cho quật mộ của chính vua Thái Tông.
Sáu tháng sau phái bộ của Trần Khắc Dụng, vua Trần Nhân Tông gửi tiếp phái bộ
Đỗ Thiên Hứ, như ĐVSKTT 5 tờ 56a4 đã ghi: “Mùa đông tháng 10, sai Đỗ Thiên
Hứ đi sang Nguyên (Thiên Hứ là em của Khắc Chung). Đỗ Khắc Chung đi sứ
quân Nguyên có công đến đó bèn tiến cử em là Thiên Hứ. Vua y theo”. Sứ bộ này
không thấy Nguyên sử và An Nam chí lược ghi lại. Phải nói đây là những động
thái ngoại giao làm dịu bớt tình hình, nhất là sau khi ta đã thắng lớn qua hai cuộc
chiến tranh, tiêu diệt hay bắt sống gần hết những tên tướng chỉ huy dày dạn kinh
nghiệm của hai cuộc chiến tranh ấy như Toa Đô, Ô Mã Nhi, Phàn Tiếp, Đường
Ngột Đãi, A Bát Xích.v.v.
Sau ba phái bộ của ta, ngày Kỷ Hợi 18 tháng 11 năm Mậu Tý, Hốt Tất Liệt mới cử
một phái bộ của mình do Lý Tư Diễn cầm đầu với mục đích đòi vua ta vào chầu
và đe dọa nếu không vào chầu thì sẽ đem quân tiến đánh, như Bản kỷ của Nguyên
sử 15 tờ 7a5-6 đã ghi: “Ngày Kỷ Hợi (tháng 11) sai Lý Tư Diễn làm lễ bộ thị lang
sung Quốc tín sứ, lấy Vạn Nô làm binh bộ lang trung làm phó, cùng đi sứ An
Nam, đem chiếu bảo Trần Nhật Huyên từ thân vào chầu. Nếu không thì chắc chắn
sẽ bị đem quân đánh lần nữa”. Phái bộ đầu tiên này như vậy chỉ có Lý Tư Diễn và
Vạn Nô, chứ không có tên của Lưu Đình Trực, mà các tư liệu khác đều có ghi với