Tài liệu Lược sử về Vua Trần Nhân Tông doc - Pdf 92

Lược sử về Vua Trần Nhân Tông
HOÀNG ĐẾ TRÂN NHÂN TÔNG
TRÚC LÂM ĐỆ NHẤT TỔ ĐIỀU NGỰ GIÁC HOÀNG
竹 林 第 一 祖 調 御 覺 皇
1258 – 1308)
Là vị vua thứ ba nhà Trần, tên húy là Trần Khâm, lúc nhỏ còn có tên Phật
Kim, Nhật Tôn, con trưởng của vua Thánh Tông và Thái hậu Nguyên
Thánh, sinh ngày 11 tháng 11 năm Mậu Ngọ, niên hiệu Nguyên Phong
thứ 8, 1258.
Ngài sinh ra khi cuộc chiến tranh chống Nguyên lần thứ nhất của quân
dân Đại Việt vừa giành thắng lợi. Ngay từ nhỏ Ngài đã sớm chứng kiến
hậu quả tàn khốc của chiến tranh và nỗi nhục mất nước.
Năm 1274, vừa lúc 16 tuổi, Ngài được tấn phong làm Thái tử, lấy trưởng
nữ của Trần Hưng Đạo làm Thái tử phi (sau là Thái hậu Khâm Từ).
Tháng 10 năm Mậu Dần, 1278, vua cha Thánh Tông nhường ngôi cho
Ngài, Ngài nhận chiếu chỉ lên ngôi cửu ngũ, xưng là Hiếu Hoàng, lúc này
vừa 20 tuổi. Mùa xuân năm sau (1279), Ngài đổi niên hiệu Bảo Phù làm
Thiệu Bảo, ban chiếu đại xá thiên hạ, chính thức cùng quần thần lo ổn
định tình hình chính sự, xây dựng lực lượng quốc phòng, phát triển đất
nước.
Sau thất bại lần thứ nhất vào năm 1258, năm 1282, nhà Nguyên lại muốn
thôn tính Đại Việt, nhưng chưa trực diện tấn công, mà lấy cớ mượn
đường sang đánh Chiêm Thành. Hiểu rõ âm mưu thâm độc của chúng,
Ngài kiên quyết cự tuyệt, tìm mọi kế thoái thác kể cả đúc tượng vàng thế
mạng sang chầu nhà Nguyên; một mặt Ngài tích cực chuẩn bị lực lượng
để đối phó. Biết được thế giặc hung hãn sẽ tràn sang nước ta, Ngài cùng
Thượng hoàng Thánh Tông cho mở hội nghị dân chủ Bình Than, triệu tập
các vương hầu khanh tướng để bàn kế sách, thống nhất một lòng trong
triều đình quyết tâm đánh Nguyên Mông; đầu năm 1285, Ngài lại mở hội
nghị Diên Hồng mời bô lão trong nước đến dự nhằm thống nhất ý chí,
đoàn kết toàn dân chống giặc.

chơi cung Vũ Lâm, nguyên là chốn trước đây ông nội Thái Tông, vua cha
Thánh Tông từng lui tới học Phật, và cũng là căn cứ địa của vua Trần
trong kháng chiến chống Nguyên Mông lần thứ ba, chỉ cách Thiên trường
vài chục dặm – nay còn ngôi đền Thái Vi, thờ các vua Trần và thờ cả
Quốc công Tiết chế Trần Hưng Đạo, Thái sư Trần Quang Khải - thuộc
thôn Văn Lâm, Ninh Hải, Hoa Lư, Ninh Bình. Thấy cảnh đẹp hùng vĩ của
sông núi Vũ Lâm, Ngài tính chuyện xuất gia. Nhưng khi nghe tin giặc
xâm lấn Nghệ An, Ngài liền bỏ cuộc du ngoạn, tự thân làm tướng, thống
lĩnh đại quân đi đánh dẹp. Gần một năm chiến trận, toàn thắng quân Ai
Lao, mùa hạ năm Ất Mùi, 1295, Ngài trở về Thăng Long, sai ban thưởng
tướng sĩ, cất gươm đao, phủi bụi chiến bào rồi Ngài lại thả bộ về phủ
Thiên Trường chăm lo học Phật…
Trải qua mấy mùa kiết hạ, thấm nhuần hơn về giáo lý thiền tông. Tháng 8
năm Kỷ Hợi, 1299, lúc vừa 41 tuổi, Ngài rũ bỏ bụi trần, Ngài xuất gia lên
núi Yên Tử làm vị Sơn Tăng, tu dòng khổ hạnh “Mặc áo cà sa nằm
trướng giấy/ Màng chi châu đầy lẫm, ngọc đầy rương”, Ngài lấy hiệu
Hương Vân Đầu Đà, sau đổi là Trúc Lâm Đầu Đà, kế thừa nghiệp Tổ,
Ngài nối pháp làm tổ thứ 6 của phái thiền Yên tử. Thời gian tinh cần kinh
kệ tu 12 hạnh đầu đà, Ngài vân du nhiều nơi, làm nhiều thơ văn về giáo lý
nhà Phật, với tinh thần “Ở đời vui đạo hãy tùy duyên/ Đói đến thì ăn mệt
ngủ liền/ Trong nhà có báu thôi tìm kiếm/ Đối cảnh vô tâm chớ hỏi thiền”
mở ra một dòng thiền mới – thiền Trúc Lâm, với tư tưởng minh triết của
sự nhập thế đạo và đời là một mang đậm bản sắc văn hóa Đại Việt, sau
Ngài trở thành Sơ Tổ của phái thiền này…
Tháng 3 năm Tân Sửu, 1301, Ngài vân du các nơi trong nước, đến trại Bố
Chính lập am Tri Kiến cư trú (chỗ ấy nay thuộc Lệ Thủy, Quảng Bình),
rồi sang Chiêm Thành. (Hiện có tư liệu khẳng định rằng, Ngài đã dừng
chân tại thành Châu Lý – nay thuộc huyện Quảng Điền, tỉnh Thừa Thiên
Huế; Ngài ở lại đây ít ngày và đã khất thực trong thành này, rồi mới sang
Chiêm Thành. Xem như vậy, lộ trình này Ngài đã mở ra cho Công chúa

về Yên Tử tổ chức lễ tang, thu xá lợi chia làm ba: một cất ở bảo tháp Huệ
Quang trên núi Yên Tử (nay còn tháp có tên Phật Hoàng), một đưa vào
chùa Tư Phúc trong kinh thành sau lại đưa về thờ tại tháp Phổ Minh ở phủ
Thiên Trường (nay thuộc thành phố Nam Định); phần nữa rước về táng ở
Đức Lăng, phủ Long Hưng, cạnh Chiêu Lăng của vua Thái Tông, Dụ
Lăng của vua Thánh Tông (ba lăng mộ ấy bây giờ thuộc xã Tiến Đức,
Hưng Hà, Thái Bình); tôn miếu hiệu Nhân Tông; thụy hiệu là: “Đại
Thánh Trần Triều Trúc Lâm Đầu Đà Tịnh Tuệ Giác Hoàng Điều Ngự Tổ
Phật”; dân gia xưng tụng là Giác Hoàng Điều Ngự, hay Trúc Lâm Đại Sĩ.
Trần Nhân Tông là vị vua anh hùng cứu nước, vị vua thân dân, nhà chiến
lược tài ba, nhà chính trị, quân sự, ngoại giao xuất sắc, là nhà thơ, nhà văn
hóa lớn, vị thiền sư lỗi lạc của dân tộc ở đầu thế kỷ XIV- vị Tổ của Phật
giáo Việt Nam. Thời của Ngài đất nước hùng cường, văn hóa phát triển
rực rỡ, nhân tài nhiều vô kể, Phật giáo đạt đến cực thịnh, bờ cõi giang sơn
mở rộng về Nam…trong đó có một phần là tỉnh Thừa Thiên Huế ngày
nay.
Bàn về Trần Nhân Tông, sách Đại Việt sử ký toàn thư khen rằng: “Vua
nhân từ hòa nhã, cố kết lòng dân, sự nghiệp trùng hưng sáng ngời thuở
trước, thực là bậc vua hiền của nhà Trần”. Dương Phước Thu


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status