Tiểu luận: Phân tích vai trò của thị trường chứng khoán. Đánh giá sự phát triển
của thị trường chứng khoán Việt Nam 10 năm qua. Bình luận về nhận định: “Thị trường
chứng khoán Việt Nam như 1 sòng bạc”
* *
*
Mục Lục
I)Cơ sở lý thuyết- tổng quan về thị trường chứng khoán
II) Đánh giá sự phát triển của TTCKVN trong 10 năm qua
III) Vai trò của TTCKVN đối với nền kinh tế
IV) Bình luận nhận định: “Thị trường chứng khoán Việt Nam như 1 sòng bạc”
Chương I: Cơ sở lý thuyết về TTCK
I- Khái niệm:
Thị trường chứng khoán (TTCK) là nơi diễn ra việc trao đổi, giao dịch mua bán các loại
chứng khoán nhằm mục đích kiếm lời.
KN TTCK kô xác định 1 không gian địa điểm cụ thể nào cả, mà có thể là bất cứ đâu nơi
người ta thực hiện mua bán trao đổi các chứng khoán, thậm chí là trên internet.
II- Đặc điểm :
1. Vị trí của TTCK trong TTTC:
Trên TTCK giao dịch 2 loại công cụ tài chính: công cụ trên thị trường vốn và công cụ
trên thị trường nợ. Trong đó, TTCK là hình ảnh đặc trưng của thị trường vốn.
TTCK là hạt nhân trung tâm của thị trường tài chính , nơi diễn ra quá trình phát hành,
mua bán các công cụ nợ và công cụ vốn.
2. Phân loại TTCK:
- Thị trường sơ cấp : nơi giao dịch các CK phát hành lần đầu giữa nhà phát hành và nhà
đầu tư.
Thị trường thứ cấp : nơi giao dịch các CK đã phát hành ở thị trường sơ cấp giữa các nhà
đầu tư với nhau.
3. Các chủ thể tham gia TTCK:
a) Nhà phát hành: Cty cổ phần, quĩ đầu tư
b) NĐT :
- Profession: những NĐT đưa ra quyết định mua bán ck dựa vào các phân tích kỹ
trường sơ cấp, nó có thể được mua đi bán lại nhiều lần trên thị trường thứ cấp. Thị trường
chứng khoán đảm bảo cho các nhà đầu tư có thể chuyển chứng khoán của họ thành tiền mặt bất
cứ lúc nào họ muốn.
III- Vai trò của thị trường chứng khoán:
Cụ thể :
1. Với doanh nghiệp :
a) Cung cấp 1 kênh huy động vốn cho các DN.
Sơ đồ các nguồn huy động vốn của doanh nghiệp:
Trong đó vốn chủ sở hữu từ cổ phiếu và vốn vay từ trái phiếu chính là huy động từ
TTCK.
Kênh huy động vốn quan trọng nhất đối với các DN là thông qua vay ngân hàng, song
việc vay vốn từ ngân hàng đòi hỏi nhiều qui trình kiểm tra chặt chẽ để thẩm định khả năng
thanh toán của DN, đặc biệt đòi hỏi DN phải cung cấp các tài liệu về tình hình hoạt động sản
xuất kinh doanh cho NH, do đó phương thức này gây ra một số bất tiện nhất định.
Trong khi đó, TTCK, với sự linh hoạt của nó, khắc phục được nhược điểm của hệ thống
NH, đã trở thành một kênh huy động vốn quan trọng của DN nói riêng và của toàn bộ nền kinh
tế nói chung.
Trong 2 nguồn cổ phiếu và trái phiếu, vốn có đựơc từ phát hành cổ phiếu kô phải là 1
nguồn tài chính chiếm tỷ trọng lớn đối với 1 doanh nghiệp. Trong khi đó, số lượng trái phiếu
phát hành có thể ít hơn so với số lượng cổ phiếu phát hành, song giá trị lại cao hơn nhiều lần
giá trị khối cổ phiếu. Trên thực tế vốn huy động từ trái phiếu công ty chiếm một tỷ lệ khá cao
trong nguồn vốn của doanh nghiệp.
b) Tạo điều kiện tách biệt giữa sở hữu và quản lý DN :
Với một nền kinh tế, luôn tồn tại rất nhiều người vì nhiều lý do sở hữu lượng vốn lớn,
song điều đó không phải lúc nào cũng đi liền với năng lực quản lý và sử dụng lượng vốn trên
cho hiệu quả. Với nền kt không có thị trường ck, người tham gia góp vốn vào DN thì phải tham
gia điều hành doanh nghiệp. Song vì có thể phát hành cổ phiếu và trái phiếu ra công chúng, DN
sẽ có thể huy động vốn từ một bộ phận không nhỏ NĐT chỉ góp vốn mà không tham gia quản
lý DN. Đặc điểm này giúp thúc đẩy sự chuyên môn hoá trong hoạt động quản lý doanh nghiệp,
tăng hiệu quả điều hành DN.
- Người có vốn đem đi đầu tư thường muốn có thời hạn đầu tư ngắn để giảm rủi ro .
Trong khi đó các nhà phát hành ck lại muốn huy động vốn với thời hạn dài. Cùng với hệ thống
NH, TTCK đã thực hiện rất tốt việc chuyển thời hạn của vốn để 2 yêu cầu trên hoà hợp với
nhau.
-Vì TTCK là 1 kênh dẫn vốn trực tiếp, NĐT tự mình lựa chọn sẽ đầu tư vốn của mình
vào dn nào, hiển nhiên họ sẽ muốn tìm những DN có tình hình hoạt động kinh doanh tốt, hứa
hẹn phát triển mạnh mẽ. Do đó, trên TTCK, chỉ những DN nào chứng minh đựơc năng lực hoạt
động của mình mới có nhiều khả năng nhận đựơc vốn. Điều này tạo nên sự cạnh tranh mạnh
mẽ giữa các DN với nhau, cộng thêm hiệu quả của thông tin hoàn hảo trên TTCK, vốn luôn
đựơc ưu tiên rót vào những nơi sử dụng nó 1 cách tối ưu .
b)Cung cấp một dự báo tuyệt vời về các chu kỳ kinh doanh trong tương lai :
Diễn biến của ttck được cho là luôn đi nhanh hơn diến biến chu kỳ KD của nền kt, do
TT này có sự giao dịch sôi động và hiệu quả, nên nó phản ánh sớm nhất và rõ nét nhất những
thay đổi trong môi trường kt vĩ mô. Bởi vậy nó đựoc coi là hàn thử biểu hữu hiệu của nền kinh
tế.
c) Tạo điều kiện tái cấu trúc nền kinh tế.
Tái cấu trúc nền kinh tế là một quá trình tổ chức lại nền kinh tế, làm thay đổi thành
phần hay cấu tạo của nền kinh tế, giúp nền kt phát triển theo chiều sâu, đối mặt được với những
biến động tiêu cực.
Trong hoạt động tái cấu trúc nền kt, mỗi giai đoạn lại cần huy động vốn với qui mô,
mục đích, phương thức khác nhau, do đó luôn cần những nguồn cung vốn dồi dào . Thêm vào
đó NN , nhân tố chìa khoá trong quá trình trên, có một phương thức huy động vốn hiệu quả và
tránh đựơc nhiều tác động tiêu cực đến nền KT chính là thông qua thị trường chứng khoán.
Như vậy TTCK , cùng với hệ thống NHTM là 1 nguồn cung cấp vốn lớn nhất cho nền kt, do đó
nó đóng vai trò quan trọng trong quá trình tái cấu trúc nền kt.
Mặt khác, trong quá trình tích tụ và phân phối vốn ở TTCK, dòng vốn sẽ không ngừng
biến đổi, lựa chọn chảy vào những ngành nghề kinh doanh đang phát triển tốt, hoặc hứa hẹn
nhiều tiềm năng .NN có thể sử dụng chính sách phù hợp để hướng các dòng vốn trên vào các
ngành chủ chốt , ưu tiên phát triển của nền kinh tế.
d) Hiệu quả quốc tế hoá của TTCK:
hội mở rộng để có thể ảnh hưởng tới sự vận hành của nền kinh tế cũng như tới cuộc
sống của mỗi người dân.
- TTCK đang trong giai đoạn chuẩn bị tạo tiền đề cho sự phát triển với 2 sự kiện:
+ 19/02/2004: Chuyển UBCKNN vào Bộ Tài chính quản lý. Trước đó, 28/11/1996,
UBCKNN được thành lập và trực thuộc chính phủ, tuy nhiên, giai đoạn đầu TTCK
còn quá nhỏ bé, hoạt động khá sơ khai nên mô hình hoạt động chưa phù hợp và
chưa mang lại hiệu quả: chưa có sự gắn kết giữa các bộ, ban ngành liên quan để đưa
ra những chính sách phù hợp cho sự hoạt động của TTCK.
+ 08/03/2005: TTGDCK Hà Nội chính thức khai trương và đi vào hoạt động.
3. Giai đoạn 2006: sự phát triển đột phá của TTCK Việt Nam:
- Hoạt động giao dịch sôi nổi ở cả 3 sàn: SGD TP HCM
TTGDCKHN
TT OTC
- Trong vòng 1 năm:
+ Khối lượng vốn hóa tăng 15 lần: lên 13,8 tỷ USD (22,7% GDP)
+ VN Index cuối năm tang 146% so với đầu năm: từ hơn 300 điểm lên hơn 800
điểm.
+ Số công ty niêm yết tang 5 lần: từ 41 lên 193.
4. Giai đoạn 2007: TTCK bùng nổ:
- 3 tháng đầu năm: TTCK bùng nổ, VNIndex đạt mức đỉnh 1.170,67 điểm. Nguyên
nhân là do sức cầu tang đột biến.
- Ngày 01/07/2007 luật Chứng khoán chính thức có hiệu lực tạo khung pháp lý cho
hoạt động của TTCK. Từ đó thúc đẩy TTCK phát triển, tang cường khả năng hội
nhập vào TTTCQT.
- Qua 7 năm, với sự tăng trưởng của thị trường và hội nhập với TTCK Thế giới,
08/08/2007: SGDCK TP.HCM chính thức được khai trương.
5. Giai đoạn 2008: TTCK sụt giảm mạnh:
- CP đẩy mạnh cổ phần hóa DNNN, hàng loạt ngân hàng, cty chứng khoán, dn,…
phát hành TP,CP để tăng vốn điều lệ đã dẫn đến tình trạng thị trường có nguy cơ
thừa hàng.
- TTCK từ đầu năm đến nay không có sự bứt phá nào đáng chú ý. Xu hướng chủ đạo
vẫn là đi ngang và giảm điểm.
- Nguyên nhân là do quá nhiều loại cổ phiếu được tung ra, thêm vào đó giá vàng
trong nước và quốc tế liên tục tăng, các NĐT chuyển từ chứng khoán sang vàng để
bảo toàn vốn.
Sau 10 năm, những gì đã đạt được của thị trường chứng khoán Việt nam khiến nhiều
người không khỏi ngạc nhiên.
- 2 Sở giao dịch
- 1 thị trường UPCoM
- Hơn 550 mã cổ phiếu niêm yết
- 105 CTCK, 46 công ty quản lý quỹ
- Gần 1 triệu tài khoản giao dịch (khoảng 25% là của nhà đầu tư nước ngoài)
- Trên 3.000 phiên giao dịch (tại HOSE là 2.327 phiên, HNX là 1.163 phiên) và tất cả
đều diễn ra an toàn.
Chương III: Vai trò của thị trường chứng khoán trong 10 năm qua:
1. Tập trung tích tụ vốn cho thị trường
Quy mô thị trường có bước tăng trưởng mạnh mẽ, vững chắc, từng bước đóng vai trò là
kênh dẫn vốn trung và dài hạn quan trọng, đóng góp tích cực cho sự nghiệp công nghiệp hóa –
hiện đại hóa đất nước. Trong suốt thời kỳ từ 2000-2005, vốn hóa thị trường chỉ đạt trên dưới
1% GDP. Quy mô thị trường đã có bước nhảy vọt mạnh mẽ lên 22,7% GDP vào năm 2006 và
tiếp tục tăng lên mức trên 43,7% vào năm 2007. Trước biến động của thị trường tài chính thế
giới và những khó khăn của nền kinh tế trong nước, chỉ số giá chứng khoán đã sụt giảm liên
tục trong năm 2008 và làm mức vốn hóa thị trường giảm hơn 50%, xuống còn 18%. Khi nền
kinh tế trong nước và thế giới bắt đầu hồi phục nhẹ từ quý II/2009, chỉ số giá chứng khoán đã
bắt đầu tăng trở lại cùng với số lượng các công ty niêm yết trên thị trường cũng gia tăng nhanh
chóng. Giá trị vốn hóa thị trường cổ phiếu tính đến cuối năm 2009 đã đạt 37,71% GDP. Ước
tính đến cuối năm 2010 sẽ đạt khoảng từ 40-50% GDP.
Hoạt động phát hành huy động vốn trên TTCK thực tế chỉ mới phát sinh từ năm 2006
trở lại đây. Trong năm 2006, có 44 công ty cổ phần thực hiện việc chào bán hơn 203 triệu cổ
phiếu và đến năm 2007, hoạt động phát hành mới thực sự bùng nổ, khi có gần 200 đợt phát
vốn có dấu hiệu phục hồi nhưng cả năm 2009 vào khoản 600 triệu USD (tương đương với dòng vốn rút
ra của năm 2008).
3. Thị trường chứng khoán tạo điều kiện cho Chính phủ phát hành huy động nguồn tài
chính mà không tạo áp lực lạm phát. Chúng ta biết rằng Chính phủ đã không còn sử
dụng biện pháp in tiền để tài trợ cho chi tiêu. Chính vì thế, TTCK đã trở thành một
kênh huy động vốn quan trọng của Chính phủ, với cả thị trường trong nước và quốc
tế.
TPCP bằng ngoại tệ phát hành trong nước trong những đợt gần đây, đặc biệt trong năm
2009 đều không thu được kết quả như mong muốn, nguyên nhân chính là do vấn đề lãi suất
không hấp dẫn. Đợt phát hành thứ nhất vào tháng 3/2009, 3 lần đấu thầu chỉ huy động được
230,11 triệu USD trong tổng số 300 triệu USD được đưa ra mời thầu. Đợt 2 vào tháng 8/2009,
trái phiếu ngoại tệ kỳ hạn dài số lượng bỏ thầu rất ít. Trong đó, cả 3 phiên chỉ huy động được
100 triệu USD/100 triệu USD trái phiếu chào bán kỳ hạn 1 năm; 47 triệu USD/100 triệu USD
trái phiếu kỳ hạn 2 năm; và 10 triệu USD/50 triệu USD trái phiếu kỳ hạn 3 năm. Đợt phát hành
thứ 3, và thứ 4 vào ngày 29/12/2009, kết quả chỉ huy động được 73 triệu USD trong tổng số
200 triệu USD giá trị trái phiếu gọi thầu, đạt 36,5%. Tỷ lệ huy động thành công có xu hướng
giảm dần theo từng đợt phát hành kể từ đầu 2009 tới nay. Tính chung cả năm 2009, khối lượng
huy động đạt 530,2 triệu USD (tương đương 9.278 tỷ đồng, theo tỷ giá ước tính 17.500
đồng/USD) trên tổng số 850 triệu USD gọi thầu
Đối với trái phiếu bằng nội tệ, việc huy động cũng còn nhiều hạn chế.
Tính đến hết năm 2009, có khoảng 70 đợt phát hành trái phiếu được thực hiện bao gồm trái
phiếu: kho bạc nhà nước (KBNN), ngân hàng phát triển, ngân hàng chính sách xã hội và các
trái phiếu chính quyền địa phương. Theo thống kê của Ngân hàng Đầu tư - Phát triển Việt Nam
(BIDV), chỉ có trên 2.000 tỷ đồng giá trị trái phiếu KBNN được phát hành trên tổng số 15.000
tỷ đồng gọi thầu. Nguyên nhân do thị trường trái phiếu thứ cấp ảm đạm, thanh khoản ở mức
thấp, thể hiện qua giá trị trái phiếu được chuyển nhượng trên thị trường cũng như các số liệu
thống kê giao dịch trung bình trong phiên. Tổng giá trị trái phiếu được chuyển nhượng qua sàn
trong năm 2009 vào khoảng 77.500 tỷ đồng, chỉ bằng 40% so với mức 195.600 tỷ đồng của
năm 2008. Giá trị trái phiếu được chuyển nhượng trung bình trong một phiên giao dịch cũng
giảm mạnh, xoay quanh mức 300 tỷ đồng/phiên, thấp hơn nhiều so với mức 800 tỷ đồng/phiên
04 phiếu
9
Tổng số tiền đăng ký đấu thầu hợp
lệ
3.300 tỷ đồng
10 Lãi suất đăng ký thấp nhất 11.10%/năm
11 Lãi suất đăng ký cao nhất 11.50%/năm
12 Lãi suất trần 11.20%/năm
13 Lãi suất trúng thầu 11.20%/năm
14 Khối lượng trúng thầu 1200 tỷ đồng
15 Tổng số tiền thanh toán trái phiếu 1.208.194.028.244 đồng
trúng thầu
11/06/2010 như sau:
STT
Nội
dung
5 năm
1 Loại trái phiếu Trái phiếu Chính phủ
2 Ngày phát hành 15/06/2010
3 Ngày đáo hạn 01/06/2015
4 Lãi suất danh nghĩa 11.33%/năm
5 Mệnh giá 100.000 đồng/trái phiếu
6 Tổng khối lượng gọi thầu 1.000 tỷ đồng
7
Tổng số thành viên tham gia đấu
thầu
11 thành viên
8
Tổng số phiếu đăng ký đấu thầu hợp
10
Tổng số phiếu đăng ký
đấu thầu hợp lệ
14 phiếu 15 phiếu 4 phiếu
11
Tổng số tiền đăng ký đấu
thầu hợp lệ
2.985 tỷ đồng 4.785 tỷ đồng 900 tỷ đồng
12
Lãi suất đăng ký thấp
nhất
9,50% 10,19% 10,79%
13 Lãi suất đăng ký cao nhất 9,80% 10,45% 10,90%
14 Lãi suất trần 9,65% 10,29% 10,80%
15 Lãi suất trúng thầu 9,65% 10,29% 10,80%
16 Khối lượng trúng thầu 2.135 tỷ đồng 2.485 tỷ đồng 850 tỷ đồng
17
Tổng số tiền thanh toán
trái phiếu trúng thầu
2.135 tỷ đồng 2.485 tỷ đồng 850 tỷ đồng
Tuần trước đó, ngày 7/10, Kho bạc Nhà nước chào thầu 6.000 tỷ đồng trái phiếu với
các kỳ hạn 3, 5 và 10 năm; huy động được 3.965 tỷ đồng với lãi suất trúng thầu ở các kỳ hạn
lần lượt là 9,68%, 10,3% và 10,8%/năm.
Như vậy có thể nói TTCK đã tạo ra một kênh huy động vốn khá tiềm năng cho Chính
phủ, cung cấp lượng vốn đáng kể cho việc đầu tư cũng như thực hiện các chính sách tiền tệ của
nhà nước.
4. Một trong những vai trò của TTCK là cung cấp một dự báo tuyệt vời về các chu kì kinh
doanh trong tương lai (hay nói cách khác là hàn thử biểu của nền kình tế. Tuy nhiên khi xem
xét vấn để này cần nhận thức một điều là TTCK Việt Nam chưa phải là hàn thử biểu của nền
kinh tế. Lý do được đưa ra là:
Phản ánh tương đối chính xác sự biến động của nền kinh tế
Hai năm qua, chúng ta đã chứng kiến những bước thăng trầm của TTCK Việt Nam.
Ngày 8/11/2006, VN-Index xuất phát với mức 525,99 điểm, chỉ 4 tháng sau (ngày 12/3/2007)
VN-Index đã leo lên tới đỉnh 1.170,67 điểm, để rồi hiện tại VN-Index đã quay trở lại và thậm
chí phá mốc 400 điểm. Tất nhiên, lên xuống là chuyện bình thường của thị trường, nhưng lên
xuống với biên độ lớn trong thời gian ngắn là bất thường. Và điều này có phản ánh chính xác
sự biến động của nền kinh tế hay không?
Câu trả lời là không! Dễ dàng nhận thấy, từ cuối năm 2007 đến nay, VN-Index đã giảm quá
sâu, bất chấp những thông tin rất tốt về hiệu quả sản xuất - kinh doanh của đại đa số công ty
niêm yết trên sàn, bất chấp nỗ lực chống lạm phát đã có kết quả bước đầu của Chính phủ.
Ngoài ra, nếu nền kinh tế Việt Nam chủ yếu có 4 kênh đầu tư: TTCK, thị trường tín dụng trung
và dài hạn, thị trường bất động sản và thị trường tiền tệ thì trong thời gian qua, sự ảm đạm của
TTCK dường như cũng chưa ảnh hưởng nhiều tới các thị trường còn lại, nếu có, thì cũng chỉ
như sự ảnh hưởng của một hàng hóa này tới một hàng hóa thay thế khác. Nhìn vào TTCK,
chưa thấy được bức tranh khái quát của toàn bộ nền kinh tế.
Như vậy, rõ ràng VN-Index hiện chưa phải là hàn thử biểu của kinh tế Việt Nam.
Tuy nhiên, bên cạnh những vai trò trên, có thể nói thị trường chứng khoán Việt Nam
vẫn còn rất nhiều hạn chế. Trước hết là nói đến vấn đề thông tin không cân xứng. Ở Việt Nam
hiện nay có thể nói thông tin được chuyển đến các nhà đầu tư là không đầy đủ và không giống
nhau. tình trạng tùy tiện trong công bố thông tin, công bố thông tin chậm, thiếu chính xác,
không trung thực đang gây bức xúc cho cộng đồng đầu tư và ngày càng đặt ra nhiều thách thức
đối với cơ quan quản lý.
Vẫn có những hoạt động làm giá, thao túng cổ phiếu, thao túng thị trường khiến cho nhà đầu tư
(NĐT) bất an, họ rất ngại trong việc đầu tư giá trị, mà dần dần chuyển sang lướt sóng nhiều
hơn.
Hiện trạng sử dụng nguồn vốn không đúng mục đích. Hoạt động phát hành của các
công ty đại chúng vẫn còn mang tính tự phát, không hoàn toàn dựa trên nhu cầu sử dụng vốn
của doanh nghiệp, làm giảm hiệu quả sử dụng vốn. Không ít tổ chức phát hành huy động vốn
trên TTCK để đầu tư trở lại vào chứng khoán mà không phải để mở rộng sản xuất kinh doanh,
góp phần tạo nên bong bóng thị trường và rủi ro mất vốn khi thị trường sụt giảm. Hoạt động
chuyển tiền từ kẻ thua sang người thắng, tổng giá trị tài sản xã hội là không đổi.
- Rủi ro trong thị trường chứng khoán là có cơ sở kiểm soát, còn rủi ro trong chơi bạc
hoàn toàn không có khả năng kiểm soát.
Đồng hồ đầu tư: Đồng hồ đầu tư là 1 trong những chỉ báo tốt nhất nhằm dự báo sự vận
động và điều kiện của thị trường chứng khoán nói riêng cũng như nền kinh tế nói chung. Bất kỳ
1 thị trường chứng khoán nào, bất kỳ 1 nền kinh tế nào trên thế giới cũng đều phải trải qua
những chu kỳ kinh tế. Mỗi vòng đồng hồ đại diện cho 1 chu kỳ kinh tế. Một nhà đầu tư có kiến
thức, có kinh nghiệm khi bước vào thị trường, dù không biết được chính xác nhưng cũng có thể
dự đoán được TTCK đang ở khoảng mấy giờ của đồng hồ, dựa vào đó họ sẽ điều chỉnh danh
mục đầu tư cho phù hợp.
Ví dụ thị trường Việt Nam: nhìn trên đồng hồ, từ 9 đến 12 giờ là giai đoạn thị trường
bùng nổ, tương ứng với TTCKVN năm 2006 và 3 tháng đầu năm 2007, khoảng từ 12 giờ đến 3
giờ là giai đoạn thị trường đi xuống, tương ứng khoảng thời gian nửa cuối năm 2007 và năm
2008, từ 3 giờ đến 6 giờ là giai đoạn thị trường suy thoái tương ứng với khoảng thời gian 2009,
2010, thực sự chúng tôi cũng không biết chắc là đến nay thị trường đã thoát khỏi suy thoái và
đang đi vào giai đoạn hồi phục chưa.
Đó mới chỉ là 1 trong rất nhiều ví dụ cho thấy việc có khả năng kiểm soát rủi ro của thị
trường chứng khoán.
(*) Các công ty niêm yết trên sàn phải công khai tình hình tài chính,
kinh doanh => giảm tiêu cực trong kinh doanh
+)Để được nhà đầu tư đánh giá cao, các công ty phải cạnh tranh với nhau => tăng
năng suất lao động, nâng cao đời sống XH
II) Nguyên nhân gây ra nhầm lẫn
a) Tâm lý bầy đàn của nhà đầu tư Việt Nam:
Tại các định chế tài chính lớn trên thế giới như Anh, Mỹ. Thị trường chứng khoán đã
tồn tại cả trăm năm, vì thế nhà đầu tư đa phần có kiến thức tài chính tốt, số nhà đầu tư nhỏ lẻ
không nhiều mà phần lớn là các quỹ đầu tư, tổ chức tài chính… vì thế đầu tư chứng khoán có
tính bầy đàn không cao. TTCK Việt Nam còn non trẻ, theo như thống kê thì có hơn 80% nhà
đầu tư trên thị trường là nhà đầu tư nhỏ lẻ, phần lớn trong đó là những "Free Rider"
Những free rider chơi chứng khoán theo đám đông làm cho thị trường lên xuống thất
2. Ta muốn kiếm bao nhiêu tiền?
3. Ta thuộc nhóm nhà đầu tư nhỏ hay lớn?
4. Kiến thức và kinh nghiệm đầu tư có phải là thứ quan
trọng nhất?
5. Lựa chọn phương thức đầu tư.
6. Thông tin là yếu tố cốt lõi.
7. Thận trọng trước tin đồn
8. Lựa chọn danh mục đầu tư.
9. Phân tích cơ bản hay phân tích kỹ thuật
10. Kế hoạch giải ngân.