Lược sử Việt Nam vắn tắt 1 pot - Pdf 20

Lược sử Việt Nam vắn tắt
1
Thời Dựng Nước
Thời đồ đá cũ
Con người đã xuất hiện khá sớm trên đất Việt Nam. Cho đến nay, các nhà khảo cổ
học đã tìm thấy dấu vết của người vượn Homo erectus trong một số hang động ở
Lạng Sơn và Nghệ An. Ðặc biệt là ở hậu kỳ thời đá cũ (văn hoá Sơn Vi cách ngày
nay 10.000 - 23.000 năm), con người đã phân bố khá rộng và khá đông trên đất
Việt Nam. Ðến văn hoá Hoà Bình - Bắc Sơn (khoảng 6.000 - 10.000 năm), con
người đã biết dùng công cụ cuội được ghè đẽo một mặt, bắt đầu biết mài rìu đá,
làm đồ gốm và có khả năng đã biết đến trồng trọt sơ khai.
Thời đồ đá mới
Trong giai đoạn này trên đất Việt Nam, đã xuất hiện những nhóm cư dân tiền sử
có đặc trưng văn hoá là thuộc thời đại đá mới Con người trong giai đoạn này đã
biết dùng những chiếc rìu đá được mài nhẵn hoàn toàn, những chiếc vòng tay đá
được khoan rất khéo, và những đồ gốm có hoa văn rất đẹp.
Thời đồ đồng
Con người đã biết đúc các công cụ, vũ khí và đồ trang sức bằng đồng thau. Họ đã
biết trồng lúa và chăn nuôi một số gia súc như trâu, bò, lợn, gà. Có ba nhóm văn
hoá phân bố ở ba khu vực. Nhóm thứ nhất (văn hoá Tiền Ðông Sơn) phân bố trong
các lưu vực sông Hồng, sông Mã và sông Cả. Nhóm thứ hai (văn hoá Tiền Sa
Huỳnh) phân bố ở vùng Nam Trung Bộ. Và nhóm thứ ba, phân bố trong lưu vực
sông Ðồng Nai ở miền Ðông Nam Bộ. Ở miền Bắc Việt Nam, các văn hoá tiền
Tiền Ðông Sơn tương ứng với giai đoạn đầu của thời kỳ Hùng Vương.
Thời đồ sắt
Các nhóm văn hoá Tiền Ðông Sơn ở Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ đã hội tụ lại thành
một văn hoá thống nhất, đó là văn hoá Ðông Sơn, thuộc thời đại sắt sớm vì một số
công cụ bằng sắt đã xuất hiện. Nhưng các chế phẩm bằng đồng thau tinh xảo là
đặc trưng của văn hoá này. Hiện vật tiêu biểu là những chiếc trống đồng lớn có
hoa văn trang trí đẹp.
Chính quyền Trưng nữ vương

ở Biển Ðông, đánh đuổi quân ngô, cởi ách nô lệ cho nhân dân chớ không chịu
khom lưng làm tì thiếp người ta". Sau câu nói bừng bừng khẩu khí anh hùng đó,
Bà đã quả cảm phát động khởi nghĩa.
Quân Ngô sau nhiều phen thất bại, đã tìm đủ mọi thủ đoạn xảo quyệt, thậm chí đã
dùng cả tước hiệu Lệ Hải Bà Vương để chiêu dụ Bà, nhưng ý chí của Bà trước sau
vẫn không hề bị lung lạc.
Cuối cùng, nhà Ngô đã phải sai viên tướng lừng danh là Lục Dận đem đại binh
sang đàn áp. Bà triệu cùng hàng loạt nghĩa binh đã anh dũng hi sinh vào năm 248.
Về thực chất, bộ chỉ huy khởi nghĩa do Bà Triệu cầm đầu cũng là một guồng máy
chính quyền. Bà Triệu chưa xưng đế hay xưng vương, cũng chưa đặt quốc hiệu
hay niên hiệu, nhưng rõ ràng, guồng máy chính quyền sơ khai do Bà Triệu lập ra,
hoàn toàn biệt lập và đối nghịch sâu sắc với chính quyền đô hộ của quân Ngô.
Giai đoạn hình thành quốc gia Việt Nam - Thời Sơ Sử
Nước Văn Lang - Nước Âu Lạc
Thế thứ các triều vua thời Sơ sử ở Việt Nam
* Thế thứ thời Hùng Vương
Theo sách Ðại Việt sử kí toàn thư, nước Văn Lang " Ðông giáp Nam Hải, tây giáp
Ba Thục, bắc giáp Hồ động Ðình, nam giáp nước Hồ Tôn". Nam Hải tức biển
Ðông, Nước Ba Thục là nước cổ, nay là vùng biên giới Tứ Xuyên (Trung quốc).
Hồ Ðộng Ðình là một thắng cảnh nổi tiếng ở tỉnh Hồ Nam (Trung quốc), Hồ Tôn
là một trong các tên gọi quốc gia của người Chăm.
Về dân số của nước Văn Lang, không có tài liệu đáng tin cậy nào nhưng dựa vào
cơ sở thống kê hộ tịch của nhà Hán thống trị sau này và căn cứ vào một số cơ sở
khác, các nhà nghiên suy đoán định rằng dân số nước Văn Lang chừng một triệu
người.
Các bộ sử cũ đều chép rằng, mở đầu lịch sử nước ta là họ Hồng Bàng. Mở đầu họ
Hồng Bàng là Kinh Dương Vương ( tức Lộc Tục), làm vua nước Xích Quỷ. Kinh
Dương Vương lấy con gái của Ðộng Ðinh Quân là Thần Long, sinh ra Lạc Long
Quân. Lạc Long Quân lấy Âu Cơ, sinh ra 100 người con. Sau, con trưởng của Lạc
Long Quân được phong làm Hùng Vương. Hùng triều ngọc phả cho hay họ Hồng


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status