Lược sử Việt Nam tóm tắt
Last Updated on Thứ Ba, 18 Tháng Giêng 2011
20:31 Thứ Tư, 06 Tháng Chín 2006 23:02
THỜI KỲ DỰNG NƯỚC
Vào thế kỷ thứ 7đến thế kỷ thứ 6 trước
Công Nguyên, 15 bộ lạc sinh sống tại
vùng châu thổ sông Hồng, sông Mã,
miền bắc Việt Nam ngày nay thống nhất
lập nên nước Văn Lang, nhà nước đầu
tiên của người Việt. Kinh đô đóng tại
Phong Châu (Vĩnh Phú ngày nay). Vua
nước Văn Lang, tất cả 18 đời, đều
xưng là Hùng Vương.
Thế kỷ thứ 2 trước CN, sau cuộc kháng
chiến chống lại quân Tần Thủy Hoàng
(218-208), nhà nước phong kiến Trung
Quốc ở phương Bắc, Thục Phán lên
làm vua nước Văn Lang xưng là An
Dương Vương và đổi tên nước thành
Âu Lạc, xây thành ốc ở Cổ Loa (Đông
Anh - Hà Nội) làm kinh đô.
THỜI KỲ BỊ PHONG KIẾN PHƯƠNG BẮC
ĐÔ HỘ
Năm 179 trước CN, nước Âu Lạc bị
nước Nam Việt của Triệu Đà xâm lược.
(Triệu Đà là tướng quân của nhà Tần.
Sau khi Tần Thủy Hoàng chết, ông ta
nhân cơ hội chiếm phần đất do mình
được giao cai quản ở phía nam nước
Tần lập nên nước Nam Việt. Còn nhà
Lão. Tại đây ông bị bệnh chết. Triệu
Quang Phục lên thay. Triệu Quang Phục
lui quân về đầm Dạ Trạch thực hiện
chiến tranh du kích. Cuối cùng năm 550,
Triệu Quang Phục mới giành được thắng
lợi, khôi phục nước Vạn Xuân, tự xưng là
Triệu Việt Vương. Đến năm 571, Triệu
Quang Phục bị Lý Phật Tử cướp ngôi.
Năm 602-603, Lý Phật Tử không chống
được cuộc xâm lược của giặc, nước ta
lại rơi vào tay nhà Tùy, rồi nhà Đường.
Năm 722, Mai Thúc Loan phất cờ khởi
nghĩa. Thất bại.
Năm 905, Khúc Thừa Dụ khởi nghĩa
giành được chính quyền. Nhà Đường
công nhận chính quyền tự chủ của ông.
Năm 930, quân Nam Hán sang xâm
lược nước ta. Nam Hán là một nước do
Luu Ẩn, tướng của nhà Hậu Lương cát
cứ vùng đất Hoa Nam mà mình được
nhà Lương giao cho cai quản thành lập
(nhà Lương cướp ngôi nhà Đường vào
năm 907). Người đứng đầu nước ta lúc
đó là Khúc Thừa Mỹ không chống lại
được, bị bắt sang Nam Hán. Các tướng
lĩnh của họ Khúc tổ chức nhiều cuộc
kháng chiến.
Năm 931, cuộc kháng chiến do Dương
Đình Nghệ lãnh đạo thành công. Ông
được tôn làm Tiết Độ Sứ.
lĩnh địa phương thi nhau cát cứ. Đất
nước bị chia cắt thành 12 sứ quân.
THỜI KỲ CÁC NHÀ NƯỚC PHONG KIẾN
VIỆT NAM
Năm 967, Đinh Bộ Lĩnh thống nhất
được 12 sứ quân. Do ông đánh đâu
thắng đấy nên đuợc dân chúng tôn là
Vạn Thắng Vương. Năm 968, Vạn
Thắng Vương lên ngôi Hòang Đế xưng
là Đinh Tiên Hoàng, đặt tên nước là Đại
Cồ Việt, kinh đô đóng tại Hoa Lư.
Năm 979, Đỗ Thích ám hại Đinh Tiên
Hoàng cùng con là Đinh Liễn. Triều thần
bắt giết Đỗ Thích, lập Đinh Toàn, 5 tuổi,
lên làm vua. Thái hậu Dương Vân Nga
nhiếp chính, quyền phụ chính được giao
cho Lê Hoàn. Lúc này, nhà Tống thấy
tình hình nước ta rối ren, vua còn nhỏ
tuổi như vậy thì cho đó là cơ hội trời cho
để thôn tính bèn giao Hồ Nhân Bảo xua
quân xâm lược. Được tin, Thái Hậu
Dương Vân Nga cùng triều thần nhất trí
nhường ngôi báu cho Lê Hòan để ông
có được tòan quyền mà dốc sức chống
Tống.
Năm 980, Lê Hoàn lên ngôi xưng là Đại
Hành Hoàng Đế (Lê Đại Hành). Ông
gấp rút tổ chức lại bộ máy hành chính,
chỉnh đốn quân đội chuẩn bị nghênh
trước bèn tập trung 10 vạn quân thủy bộ
chia làm hai đường đánh sang đất Tống
với mục đích phá hủy các kho dữ trữ
lương thảo hậu cần nằm ở Ung Châu và
Khâm Châu, Liêm Châu mà nhà Tống
đang chuẩn bị để phục vụ cho cuộc xâm
lược nước ta. Quân Thủy đánh Khâm
Châu, quận bộ đánh Ung Châu. Bị bất
ngờ nên quân Tống thua liên tiếp. Nửa
tháng sau chính quyền Tống ở trung
ương mới biết được tin. Vua Tống lập
tức chuẩn bị đại binh dự định đánh
thẳng vào nước ta để giải vây.
Năm 1076, tháng 3, sau sáu tháng tiến
công, quân ta đã đạt được mục đích và
rút về nước cũng là đề phòng bị đánh
úp. Khi đó, đại binh quân Tống còn
chưa kịp lên đường.
Năm 1076, tháng 8, sau khi củng cố lực
lượng, nhà Tống đem 30 vạn quân chia
hai đường thủy, bộ bắt đầu xâm lược
nước ta và cũng là để trả thù cho sự
kiện ở trên. Lý Thường Kiệt chọn địa
điếm quyết chiến tại sông Như Nguyệt,
xây dựng phòng tuyến phòng thủ tại bờ
nam chờ giặc.
Năm 1077, tháng 1, quân Tống đến
phòng tuyến Như Nguyệt và bị chặn
đứng ở đó. Thế trận giằng co kéo dài,
binh Tống ngày một hao tổn do thiếu
trong họ Trần. Tuy nhiên, thế lực của Trần
Thủ Độ quá lớn nên mọi việc cuối cùng
cũng êm xuôi. Triều đại nhà Trần dần phát
triển và kéo dài 175 năm qua 12 đời vua
(Trần Thái Tông, Trần Thánh Tông, Trần
Nhân Tông, Trần Anh Tông, Trần Minh
Tông, Trần Hiến Tông, Trần Dụ Tông,
Dương Nhật Lễ, Trần Nghệ Tông, Trần Duệ
Tông, Trần Phế Đế, Trần Thuận Tông, Trần
Thiếu Đế). Triều Trần hưng thịnh nhất sau
khi 3 lần đánh tan quân xâm lược Mông
Nguyên(Trung Quốc).
Năm 1258, quân Mông Cổ xâm lược
nước Đại Việt của nhà Trần. Khi ấy
Mông Cổ là một đại đế quốc lớn nhất
thế giới trong lịch sử có lãnh thổ bao
gồm khỏang 40 nước trải dài từ bờ Thái
Bình Dương cho tới Trung
Đông, Đông Âu và vẫn tiếp tục bành
trướng. "Vó ngựa Mông Cổ đi tới đâu,
nơi ấy cỏ cây không mọc được". Lần
xâm lược Đại Việt này nằm trong kế
họach bành trướng xuống phía Nam
của Đại hãn Mông Cổ lúc đó là Mông
Kha (Mong Ke).
Quân Mông Cổ do Ngột Lương Hợp Thai
chỉ huy chia làm nhiều cánh tràn vào Đại
Việt tới Bạch Hạc (Vĩnh Phú ngày nay) thì
hợp lại cùng tiến về Thăng Long. Vua Trần
Thái Tông và các tướng lĩnh lần đầu ra
chiếm Đại Việt. Đích thân con trai Hốt Tất
Liệt, thái tử Thoát Hoan, chỉ huy hai đạo
quân bộ từ hai hướng đông bắc, tây bắc
Đại Việt đánh xuống, đạo quân thủy do Toa
Đô từ nước Chiêm Thành (sau khi lập nhà
Nguyên, Hốt Tất Liệt đã sai Toa Đô đánh
Chiêm Thành trước), phía nam Đại Việt
đánh lên. Quân nhà Trần bị kẹp vào giữa.
Vua Trần lúc này là Trần Nhân Tông cử
Trần Quang Khải làm Thượng Tướng Thái
Sư, Trần Quốc Tuấn làm Quốc Công Tiết
Chế thống lĩnh ba quân chống giặc.
Quốc Công Tiết Chế đem quân chặn đánh
quân bộ phía đông của Thoát Hoan trước.
Trần Nhật Duật thì chặn cánh quân phía
Tây do Nạp Tốc Lạt Dinh chỉ huy. Trước thế
giặc mạnh, vua tôi nhà Trần vừa đánh vừa
rút lui chiến thuật. Quân Nguyên cứ thế
chiếm Nội Bàng, Vạn Kiếp Khi quân
Nguyên tới Thăng Long thì vua Trần đã rút
về Thiên Trường (Nam Định) bỏ lại kinh
thành trống không như lần kháng Mông Cổ
lần trước. Về Thiên Trường, Trần Quốc
Tuấn cử Trần Nhật Duật, Trần Quang Khải
trấn giữ Hoan Châu (Nghệ An) chặn đường
tiến quân Toa Đô. Khi Thoát Hoan chiếm
Thăng Long thì Trần Quốc Tuấn lại kéo
quân ra lấy lại Vạn Kiếp đánh sau lưng
Thoát Hoan. Thoát Hoan bị vây liền cho
người về nước xin thêm binh cứu viện. Lúc
Quân Trần tập trung đánh Thăng Long.
Thoát Hoan thua to, bỏ thành rút chạy về
Bắc Ninh. Khi Toa Đô kéo lên Thăng Long
định hội quân với Thoát Hoan thì Thóat
Hoan đã chạy rồi . Toa Đô lui về đóng ở
Tây Kết. Đến đây, Toa Đô bị đại quân của
vua Trần bắn chết, Nguyên quân bị đánh
tan tác chết vô số kể. Các tướng Ô Mã Nhi,
Lưu Khuê dắt tàn quân chạy vào Ái Châu.
Quân Trần truy đánh rất rát cuối cùng Ô Mã
Nhi, Lưu Khuê phải bỏ thuyền tướng lấy
thuyền nhỏ tháo chạy ra biển về nước,
quân Trần bắt sống được vài vạn tàn quân.
Phía Thóat Hoan, sau khi về Bắc Ninh lại bị
quân Trần đón đánh thì chạy sang Vạn
Kiếp nhưng ở đây Trần Quốc Tuấn cũng đã
bố trí sẵn quân mai phục. Giữa lúc quân
Nguyên đang vượt sông Thương, quân
Trần đổ ra đánh. Quân Nguyên chết vô số
kể. Thoát Hoan cùng bộ tướng Lý Hằng
gom tàn quân chạy về nước. Tới biên giới
thuộc Lạng Sơn, quân Trần phục sẵn trên
núi bắn tên xuống như mưa, Lý Hằng trúng
tên độc chết liền. Thoát Hoan được hộ
tướng giấu vào một vật dụng bằng đồng bỏ
lên xe cho lính kéo chạy nhờ vậy sống sót,
chạy thoát về nước. Đại Việt sạch bóng
quân Nguyên.
Cuối năm 1287, Hốt Tất Liệt gom 30 vạn
quân giao Thoát Hoan chỉ huy thẳng tiến
bới lăng mộ vua Trần Cảnh,
Không ở được Thăng Long, Thoát Hoan
cho quân lui về Bắc Giang, Vạn Kíếp sai Ô
Mã Nhi ra biển tìm đoàn thuyền lương của
Trương Văn Hổ. Ô Mã Nhi ra đến cửa biển
Đại Bàng (Hải Phòng) thì bị đánh tơi bời.
Quân Trần bắt được 300 chiến thuyền. Ô
Mã Nhi quay về Vạn Kiếp. Vua Trần cho
người mang theo tù binh bắt được của
đoàn thuyền lương sang trại Thoát Hoan
thông báo đoàn thuyền lương Trương Văn
Hổ đã bị diệt rồi. Tin đó làm quân Nguyên lo
sợ vì lương thực đã hết. Cùng lúc quân
Trần phản công ở khắp nơi. Sợ nguy, Thoát
Hoan vội bàn với các tướng rút quân về
nước. Tất cả tướng Nguyên đều đồng ý.
Thoát Hoan rút theo đường bộ theo ngả
Lạng Sơn, Ô Mã Nhi rút theo sông Bạch
Đằng. Nhưng Trần Quốc Tuấn đã cho quân
mai phục tất cả mọi nẻo đường rút chạy. Ô
Mã Nhi, cùng bộ tướng là Phàn Tiếp lọt vào
trận địa bãi cọc ở cửa sông Bạch Đằng, bị
bắt sống, máu quân Nguyên nhuộm đỏ
nước sông. Trên bộ, Thoát Hoan cũng bị
chặn đánh nhiều trận. Xác quân Nguyên
trải dài từ Vạn Kiếp tới biên giới Lạng Sơn.
Cuối tháng 4/1288, Thoát Hoan mới về
được châu Tư Minh (Quảng Tây, Trung
Quốc). Đại Việt lại sạch bóng giặc ngoại
xâm.
sang Trung Quốc. Nhà Minh nhập Đại Ngu
thành quận Giao Chỉ của họ. Lúc đó nhân
dân Đại Ngu mới bắt đầu khởi nghĩa ở
nhiều nơi. Hic.
Năm 1407, Trần Ngỗi rồi Trần Quý Khoáng
là quý tộc tôn thất nhà Trần, tiến hành khởi
nghĩa chống quân Minh. Ban đầu cũng
giành được một số thắng lợi đáng kể nhưng
sau đó trong nội bộ mất đoàn kết nên nghĩa
quân suy yếu và bị dập tắt vào năm 1412.
Năm 1418, sau khi quy tụ được nhiều hào
kiệt khắp nơi trong nước, trong đó có
Nguyễn Trãi, Lê Lợi phất cờ khởi nghĩa tại
núi Lam (thuộc Thanh Hóa ngày nay). Ban
đầu lực lượng nghĩa quân còn yếu, chừng
vài nghìn người, nhưng cũng dùng mưu
thắng được nhiều trận lớn gây thanh thế
như ở Lạc Thủy, Mường Một Quân Minh
tăng cường đàn áp với sự giúp đỡ của
nhiều kẻ bán nước, chỉ điểm nên có lúc
chúng đẩy nghĩa quân lâm vào tình trạng
hiểm nghèo. Ba lần nghĩa quân phải trốn
lên núi Chí Linh, chịu cảnh đói khát, thiếu
thốn trăm bề. Ở lần thứ hai rút lên núi Chí
Linh, năm 1419, nhờ 500 quân cảm tử do
Lê Lai dẫn đầu đánh xông ra, mạo danh Lê
Lợi để cho giặc bắt giết nên nghĩa quân mới
được bảo tòan xuống núi. Nghĩa quân Lê
Lợi chiến đấu như vậy ròng rã mấy năm trời
cho đến năm 1424 thì mới tạo nên chuyển
Đến đời vua Lê Uy Mục thì bắt đầu xuống dốc.
Năm 1527, Mạc Đăng Dung ép Lê Cung Hoàng
nhường ngôi vua cho mình. Trước đó, ông ta
cậy có nhiều công nên lạm quyền, kết bè cánh
và đã phế truất ngôi của Lê Chiêu Tông giao
cho Lê Cung Hoàng. Nhà Mạc thành hình. Ở
trong nước là thế nhưng khi lên ngôi, Mạc
Đăng Dung lại hèn kém trong ngọai giao với
nhà Minh, nhún nhường nhận chức An Nam đô
thống sứ do vua Minh “trao tặng” khiến nhân
dân và nhiều quan lại phẫn nộ.
Năm 1530, Lê Ý ở Thanh Hóa nổi quân chống
lại nhà Mạc.
Năm 1532, Nguyễn Kim tôn con của Lê Chiêu
Tông lên làm vua (Lê Trang Tông), đóng ở
Thanh Hóa, nhiều quan lại của cũ của nhà Lê
cũng theo về phò tá tạo nên một triều đình mới
đối lập với nhà Mạc ở phía bắc. Đại Việt lúc đó
vì thế có hai triều đình ở hai miền nam, bắc.
Sau khi Nguyễn Kim chết (1546), vua Lê phong
con rể Nguyễn Kim là Trịnh Kiểm lên thay. Trịnh
Kiểm tiến hành lọai trừ phe cánh của Nguyễn
Kim để tập trung quyền lực vào tay mình. Các
con của Nguyễn Kim, Nguyễn Uông bị bắt giết,
Nguyễn Hoàng lo sợ nên tìm cách lánh bằng
cách xin trấn giữ ở vùng Thuận Hóa. Trịnh
Kiểm thuận ý cho vào. Họ Nguyễn vào vùng đó
ngấm ngầm có ý lập nên “vương quốc” riêng
của mình chống lại họ Trịnh nhưng bên ngoài
vẫn tỏ về thuần phục, giúp họ trịnh chống họ