BÁO CÁO THẢO LUẬN ĐỀ TÀI
TÌM HIỂU SỰ BIẾN
ĐỘNG CỦA LÃI SUẤT
TÍN DỤNG CỦA VIỆT
NAM THỜI GIAN QUA
1
2
3
I. NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ LÃI SUẤT TÍN DỤNG
1. Khái niệm về lãi suất tín dụng
Một trong những đặc trưng của tín dụng là sau một thời gian nhất định
người sử dụng phải hoàn trả cho người chuyển nhượng một lượng giá trị lớn hơn
giá trị ban đầu. phàn giá trị lớn hơn chính là lợi tức tín dụng. Lợi tức tín dụng
chính là phần người đi vay phải trả cho người cho vay. Lợi tức tín dụng được coi
như là một hình thái bí ẩn của giá cả vốn vay, vì nó phải trả cho giá trị sử dụng của
vốn vay (đó chính là khả năng đầu tư sinh lời hoặc đáp ứng nhu cầu tiêu dùng).
Lợi tức tín dụng cũng biến động theo quan hệ cung cầu trên thị trường vốn như giá
cả hàng hoá thông thường. Nhưng lợi tức tín dụng chỉ là hình thái bí ẩn của giá cả
vốn vay mà theo mức đó là hình thái giá cả phi lý, vì nó chỉ phải trả cho giá trị sử
dụng mà không phải là quyền sở hữu cũng không phỉ quyền sử dụng vĩnh viễn mà
chỉ là trong một thời gian nhất định hơn nữa lợi tức tín dụng cũng không phải là
biểu hiện bằng tiền của giá trị vốn vay như giá cả hàng hoá thông thường mà nó
độc lập tương đối hay nhỏ hơn nhiều so với giá trị vốn vay. Lợi tức tín dụng là số
tuyệt đối nên để biểu hiện một cách tổng quát về lợi tức tín dụng người ta sử dụng
chỉ tiêu tương đối là lãi suất tín dụng.
Lãi suất tín dụng là tỷ lệ %giữa số tiền mà người đi vay phải trả cho người
cho vay (lợi tức) trên tổng số tiền vay sau một thời gian nhất định sử dụng số tiền
vay đó.Lãi suất tín dụng có thể được tính theo tháng hoặc năm (ở việt năm thường
công bố theo tháng còn hầu hết các nước công bố theo năm). Tuỳ theo từng hình
thức tín dụng mà người ta phân biệt lãi suất tín dụng thành các loại khác nhau với
những qui địng cụ thể khác nhau.
+ Mức thu nhập: Sự gia tăng thu nhập trong nền kinh tế sẽ làm tăng các
khoản tiền dư thừa ngoài chi tiêu dẫn đến sự tăng lêncủa cung tiền vay qua đó kéo
lãi suất hạ xuống.
+ Mức lạm phát: Sự gia tăng lạm phát làm cho giá trị thực tế của các
khoản tiền giảm xuống làm cho giá trị các khoản tiền thu về khi cho vay giảm,
cung tiền giảm, đẩy lãi suất tăng lên.
+ Mức rủi ro của việc cho vay: Khi mức rủi ro trong cho vay tăng lên, làm
giảm bớt việc cho vay,cung về tiền vay giảm đẩy lãi suất lên cao.
Những yếu tố tác động đến cầu tiền vay:
+ Mức lợi tức dự tính của các cơ hội đầu tư: Khi mức lợi tức này tăng
làm tăng nhu cầu về vốn đầu tư,cầu tiền vay tăng đẩy lãi lên suất lên cao.
+Mức lạm phát: Sự gia tăng lạm phát làm giảm chi phí thực tế của việc sử
dụng tiền vay,cầu về tiền vay tăng đẩy lãi suất lên cao.
+Mức bội chi ngân sách nhà nước: Ngân sách nhà nước bội chi làm tăng
cầu tiền vay dẫn đến lãi suất tăng.
Khi cung tiền vay nhỏ hơn cầu tiền vay thì lãi suất tăng và ngược lại. Khi
cung tiền vay bằng cầu tiền vay thì lãi suất ổn định.
2.2.Căn cứ vào thời hạn cho vay:
Lãi suất Lãi suất Lãi suất
tín dụng < tín dụng < tín dụng
ngắn hạn trung hạn dài hạn
6
2.3.Căn cứ vào cơ chế lãi suất dương:
Tỷ lệ Lãi suất Lãi suất Tỷ suất
lạm phát < huy động < cho vay ≤ lợi nhuận
bình quân vốn bình quân bình quân bình quân.
3. Các loại lãi suất tín dụng
3.1 Theo ảnh hưởng của lạm phát
a. Lãi suất danh nghĩa: Được công bố trên bảng niêm yết lãi suất, trên các
hợp đồng tín dụng và các công cụ nợ.
khi cho nhau vay vốn trên thị trường liên ngân hàng. Lãi suất thị trường liên ngân
hàng được ấn định hàng ngày vào mỗi buổi sáng. Nó được hình thành bởi quan hệ
cung cầu vốn của các ngân hàng thương mại và tổ chức tín dụng khác và chịu sự
chi phối bởi lãi suất chiết khấu.
3.4 Các loại lãi suất tín dụng khác:
Lãi suất LIBOR và PIBOR là lãi suất trên thị trường liên ngân hàng
London và Paris, là lãi suất đối với tiền gửi bằng đôla hay ngoại tệ khác mà theo
đó các ngân hàng lớn làm căn cứ để đi vay và cho vay trên thị trường tiền tệ châu
Âu. LIBOR phản ánh điều kiện thị trường nên được các ngân hàng sử dụng rộng
rãi làm cơ sở để ấn định lãi suất các món vay.
8
4. Các yếu tố ảnh hưởng đến lãi suất tín dụng.
4.1 Quan hệ cung cầu về vốn trên thị trường:
Quan hệ cung cầu tín dụng tác động và làm thay đổi lãi suất trên từng loại
thị trường tín dụng (ngắn hạn, trung hạn, dài hạn), loại tiền cho vay, khu vực và
trong toàn bộ nền kinh tế quốc dân.
Nếu cung lớn hơn cầu tín dụng thì mức lãi suất tín dụng sẽ hạ xuống, còn
cung tín dụng nhỏ hơn cầu tín dụng thì mức lãi suất sẽ tăng lên.
4.2 Lạm phát:
Lạm phát ảnh hưởng rất lớn tới lãi suất, khi lạm phát tăng lên trong một
thời kỳ nào đó thì lãi suất có xu hướng tăng lên. Thực tế khi lam phát tăng, NHTW
sẽ tăng lãi suất tín dụng để “hút” bớt lượng tiền trong lưu thông, đồng thời người
có vốn và các nhà kinh doanh vốn sẽ không dám cho vay vì họ sợ vốn của mình bị
“mất giá”, do đó thay vì cho vay vốn họ chuyển sang dự trữ hàng hóa, ngoại tệ,
kim loại quý hoặc đầu tư ra nước ngoài, dẫn đến cung vốn giảm cho nên lãi suất
tín dụng tăng.
4.3 Rủi ro và kỳ hạn tín dụng:
Mức độ rủi ro của các khoản vay càng cao thì lãi suất cho vay càng lớn do
phần bù rủi ro làm cho lãi suất tăng lên. Kỳ hạn cho vay càng dài thì lãi suất cho
vay càng cao, do thời hạn cho vay dài thường làm rủi ro đối với các khoản vay lớn
.tác dụng của lãi suất được thể hiện ở những nội dung sau đây.
10
5.1 Lãi suất tín dụng là công cụ điều tiết “kinh tế vĩ mô”:
Tăng hay giảm lãi suất cho vay, sẽ làm vốn của doanh nghiệp giảm xuống
hay tăng lên. Như vậy quyết định đến việc thu hẹp hay mở rộng sản suất. Tình
trạng này sẽ dẫn đến số lượng công việc làm trong xã hội tăng lên hay giảm
xuống. Điều đó có nghĩa rằng, lãi suất tín dụng đã có ảnh hưởng trực tiếp đến việc
giải quyết tình trạng thất nghiệp trong xã hội.
Mặt khác, tăng hay giảm lãi suất tiền gửi đặc biệt là lãi suất tái chiết khấu
sẽ có ảnh hưởng trực tiếp đến số lượng ngoại tệ đi vào trong nước. Do đó sẽ ảnh
hưởng đén cung cầu ngoại tệ dẫn đến sự thay đổi tỷ giá và quan hệ xuất nhập khẩu
trong từng thời kỳ. Như vậy, có thể khẳng định lãi suất là công cụ điều tiết kinh tế
vĩ mô.
5.2 Lãi suất tín dụng là công cụ điều chỉnh “kinh tế vi mô”.
Trong nền kinh tế, thường xảy ra những đột biến ở từng khu vực hay trong
toàn bộ nền kinh tế quốc dân do những nguyên nhân không lường trước được. Khi
xảy ra những hiện tượng như vậy chính phủ thường sử dụng những công cụ kinh
tế trong đó có lãi suất tín dụng để điều chỉnh lại những quan hệ tạo điều kiện cho
kinh tế khu vực, ngành hay toàn bộ nền kinh tế phát triển. Chẳng hạn,trong điều
kiện lạm phát, chính phủ có thể tăng lãi suất tiền gửi để rút bớt tiền trong lưu
thông về, hoặc có thể áp dụng mức lãi suất khác nhau giữa các khu vực, để điều
hoà lưu thông tạo mặt bằng giá cả hợp lý, đảm bảo cho sản suất và lưu thông hàng
hoá phát triển.
Là công cụ điều chỉnh kinh tế vi mô nên lãi suất tín dụng phải được xử lý
kịp thời và chính xác. Điều đó đòi hỏi hệ thống ngân hàng phải nắm vững thông
tin kinh tế, biết xử lý thông tin, để có những quyết định chính xác trong việc thực
hiện chính sách lãi suất.
11
5.3 Lãi suất tín dụng là công cụ khuyến khích cạnh tranh giữa các ngân
hàng thương mại.
NHÀ NƯỚC THỜI GIAN QUA
1. Các cơ chế điều hành lãi suất
Quá trình điều hành cơ chế lãi suất qua các thời kỳ phát triển của nền kinh
tế chính là quá trình tư do hóa lãi suất ở VN, quá trình đó đựoc thể hiện như sau:
1.1 Lãi suất ở thời kỳ thực thi cơ chế quản lý nền kinh tế theo phương
thức quản lý kế hoạch hóa tập trung (trước năm 1988):
Đặc trưng cơ bản của lãi suất thời kỳ thực thi chế độ quản lý nền kinh tế
theo cơ chế kế hoạch hóa tập trung kéo dài, đó là áp dụng chính sách lãi suất bao
cấp khá nặng nề, lãi suất đựơc xây dựng thoát ly lãi suất của nền kinh tế thế giới.
Dẫn đến lãi suất thực thi trong thời kỳ này với tình trạng “lãi giả và lỗ thật” làm
cho ngân hàng không thể bảo toàn vốn của mình do lạm phát tăng cao và lãi suất
thực là số âm, vì tỷ lệ lạm phát đã lớn hơn lãi suất danh nghĩa.
1.2. Lãi suất thời kỳ nền kinh tế bắt đầu chuyển sang nền kinh tế thị
trường phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa có sự quản lý của Nhà
nước (từ năm 1988 đến 2006).
Bước ngoặt trong tiến trình đổi mới, cải cách nền kinh tế VN trong lĩnh vực
ngân hàng bắt đầu bằng Nghị định 53/HĐBT ngày 26.3.1988 của Hội đồng bộ
trưởng (nay là Thủ tướng Chính phủ). Nội dung cơ bản của Nghị định 53/HĐBT
13
đó là “Đã hình thành việc phân định rõ ràng chức năng, nhiệm vụ của Ngân hàng
Nhà nước và các ngân hàng chuyên doanh, làm tiền đề cho hai pháp lệnh về: Ngân
hàng Nhà nước và pháp lệnh về ngân hàng, hợp tác xã tín dụng và công ty tài
chính ngày 23.5.1989 của Hội đồng nhà nước. Hai pháp lệnh này có hiệu lực từ
ngày 1.10.1990 với nội dung chủ yếu: Xóa hẳn mô hình ngân hàng một cấp và xây
dựng mô hình ngân hàng hai cấp phù hợp với mô hình của ngân hàng các nước có
nền kinh tế thị trường phát triển. Trong đó Ngân hàng Nhà nước VN thực hiện
chức năng ngân hàng của các ngân hàng, quản lý hoạt động kinh doanh của các
ngân hàng thương mại, các tổ chức tín dụng trong nền kinh tế, còn ngân hàng
thương mại, các tổ chức tín dụng, thực hiện chức năng kinh doanh trực tiếp về lĩnh
vực tiền tệ, tín dụng và ngân hàng trong nền kinh tế. Từ Pháp lệnh ngân hàng có
quan của các đồng tiền trong khu vực do có khủng hoảng tiền tệ năm 1997-1998 ở
các nước Đông Nam Á.
d. Cơ chế điều hành lãi suất cơ bản kèm biên độ (8.2000-5.2002):
Nội dung của cơ chế điều hành lãi suất cơ bản kèm biên độ là Ngân hàng
Nhà nước đã điều hành cơ chế lãi suất theo luật ngân hàng để thay thế cho cơ chế
lãi suất trần. Lãi suất cơ bản và biên độ được công bố định kỳ hàng tháng, trường
hợp cần thiết, Ngân hàng Nhà nước sẽ công bố điều chỉnh kịp thời.
Đối với lãi suất cho vay bằng ngoại tệ, về cơ bản các ngân hàng thương
mại, các tổ chức tín dụng được ấn định lãi suất cho vay trên cơ sở lãi suất thị
trường quốc tế và cung cầu vốn trong nước của từng loại ngoại tệ. Theo cơ chế lãi
suất này cho thấy Ngân hàng Nhà nước VN đã quyết tâm đổi mới chính sách lãi
suất theo hướng tự do hóa và từng bước gắn lãi suất trong nước vào thị trường khu
vực và thế giới.
e. Cơ chế lãi suất thỏa thuận (6.2002 – 2006):
15
Trong thực tế, cơ chế lãi suất này được Ngân hàng Nhà nước chuyển đổi
từng bước bắt đầu từ tháng 5.2001 áp dụng cho hình thức vay bằng ngoại tệ, tiếp
theo 5.2002 là áp dụng cơ chế lãi suất thỏa thuận trong hoạt động tín dụng trong
nước. Nhìn một cách tổng quát thì quá trình thực thi cơ chế tự do hóa lãi suất ở
VN bước đầu đã có kết quả nhất định.
Trong năm 2008, Ngân hàng nhà nước Việt Nam đã tăng lãi suất cơ bản 3
lần và tới thời điểm tháng 6/2008, mức lãi suất đang là 14%, mức cao nhất ở Châu
Á, từ mức 12% trước đó. NHNN cũng giảm giá đồng VND 2% trong tháng này
nhằm giải tỏa áp lực đối với đồng tiền trong nước.
2 Các chính sách điều chỉnh lãi suất
Trong quá trình hội nhập quốc tế, chúng ta từng bước nới lỏng các rào cản
mang tính hành chính để trả về cho nền kinh tế vận hành theo đúng các quy luật
vốn có của nó. Và một trong những lĩnh vực thể hiện rõ cơ chế này là chính sách
điều hành lãi suất huy động vốn và cho vay của Ngân hàng Nhà nước (NHNN).
2.1 Đối với lãi suất huy động vốn
- Áp dụng mức trần lãi suất cho vay (Từ ngày 01/01/1996 – 05/8/2000):
Với quyết định 381/QĐ-NH1 ngày 28/12/1995, NHNN chính thức bỏ mức sàn mà
chỉ áp dụng trần lãi suất cho vay.
- Lãi suất cho vay được vận dụng bằng cơ chế lãi suất cơ bản cộng với biên
độ giao động trong từng thời kỳ (Từ ngày 05/8/2000 – 01/6/2002):
* Theo quyết định số 241/2000/QĐ-NHNN1 ngày 02/8/2000, lãi suất cho
vay của các NHTM không phải tuân theo mức trần.
* NHNN chính thức công bố định kỳ lãi suất cơ bản và biên độ giao động.
NHTM sẽ tự mình đưa ra các mức lãi suất cho phù hợp với tình hình hoạt động
sản xuất kinh doanh.
-Lãi suất thỏa thuận (Từ ngày 01/6/2002 – 19/5/2008):
* Theo quyết định số 546/2002/QĐ-NHNN ngày 30/5/2002 lãi suất cho vay
được hoàn toàn thả nổi theo nguyên tắc tự do thỏa thuận giữa bên đi vay và
NHTM.
* Cũng cần nói thêm rằng, trước đó vào ngày 29/5/2001 NHNN đã chính
thức thả nổi lãi suất cho vay bằng USD cho các NHTM theo Quyết định số
718/2001/QĐ-NHNN.
-Áp dụng mức trần lãi suất cho vay (Từ ngày 19/5/2008 đến nay)
* Cũng như quy định tại quyết định 381/QĐ-NH1 ngày 28/12/1995 về mức trần
cho vay nhưng tại Quyết định số 16/2008/QĐ-NHNN ngày 16/5/2008 NHNN đưa
ra cách xác định mức trần có khác đó là lãi suất cho vay không
3. Biến động lãi suất từ 1996 đến nay
3.1 Giai đoạn từ năm 1996 đến tháng 7/2000
18
NHNN tiếp tục ấn định mức lãi suất tái cấp vốn và có những đổi mới
căn bản về điều hành lãi suất:
- Thay vì qui định khung lãi suất tối thiểu về tiền gửi - lãi suất tối đa
về tiền vay, NHNN chỉ qui định các mức lãi suất “trần” theo thời hạn cho vay và
khống chế chênh lệch giữa lãi suất cho vay và lãi suất huy động vốn bình quân là
0,35%/tháng (4,2%/năm) để khắc phục tình trạng hầu hết các ngân hàng thương
các công cụ tài chính, có nguy cơ làm suy yếu năng lực tài chính của TCTD
3.2 Giai đoạn từ giữa năm 2000 đến nay
Vào tháng 8 năm 2000, NHNN đưa ra một cơ chế lãi suất mới trong
đó lãi suất cho vay nội tệ của ngân hàng được điều chỉnh theo lãi suất cơ bản do
NHNN. Tuy nhiên, các ngân hàng không được tính lãi suất cho vay vượt quá lãi
suất cơ bản + 0,3%/tháng đối với vốn ngắn hạn và + 0,5%/tháng đối với vốn trung,
dài hạn.
Cơ chế giới hạn biên độ lãi suất so với lãi suất cơ bản về bản chất không
khác gì so với trần lãi suất áp dụng trước đây. Tuy nhiên, trên thực tế mức trần (lãi
suất cơ bản cộng biên độ) được định ở mức cao hơn trần lãi suất theo cơ chế cũ rất
nhiều. Hình 1 cho thấy lãi suất cho vay của ngân hàng luôn thấp hơn giới hạn biên
độ cho phép. Trước thời điểm áp dụng lãi suất cơ bản, lãi suất cho vay bình quân
của bốn ngân hàng thương mại quốc doanh đã kịch trần (0,85%/tháng). Thực tế là
trong năm 1999, các NHTM không theo kịp 5 đợt hạ trần lãi suất của NHNN, và
kết quả, như trên Hình 1, là LSCV ngắn hạn bình quân vượt trên trần lãi suất.
Từ tháng 8/2000, lãi suất cơ bản được đặt ở mức mà khi cộng với biên độ
0,3%/tháng đã cao hơn hẳn lãi suất cho vay thực tế. Như vậy, từ khi có cơ chế lãi
suất cơ bản, các ngân hàng đã bắt đầu ấn định lãi suất trên cơ sở thỏa thuận với
khách hàng.
20
Một điểm đáng chú ý nữa là LSCV của các NHTM, mặc dù luôn cao hơn
lãi suất cơ bản, nhưng thay đổi theo lãi suất cơ bản. Trong năm 2000 và 2001, cả
hai mức lãi suất này đều giảm. Nhưng trong thời gian đó, lãi suất tiền gửi lại tăng
lên. Cạnh tranh giữa các ngân hàng đã dẫn tới gia tăng lãi suất huy động vốn,
nhưng LSCV vẫn không tăng và nằm trong biên độ lãi suất cơ bản. Chênh lệch lãi
suất, do vậy, đã giảm đi rõ rệt.
Hình 1: Từ trần lãi suất đến lãi suất cơ bản rồi tự do hóa lãi suất, 1998-
2002
Nguồn: Tính toán từ cơ sở dữ liệu tài chính quốc tế IFS của IMF.
Vào tháng 11/2001, trần lãi suất cho vay ngoại tệ được xóa bỏ, từ đó cho
Nam.”
(VNExpress lấy từ Báo Thanh Niên, “Tự do hóa lãi suất cho vay: Cởi trói
các tổ chức tín dụng”, 31/5/2002.)
Thực tế từ khi cơ chế lãi suất thỏa thuận được đưa vào thực hiện
cho thấy, lãi suất vẫn cYn thiếu tính thị trường. Nguyên nhân, theo tác giả, chủ
22
yếu vZ: tính độc quyền của các NHTM nhà nước và những ưu đãi trong cho vay
chỉ định của Chỉnh phủ. Trong mảng tín dụng thì “bốn đại gia” NHTM nhà nước
đã chiếm trên 70% thị phần nên chưa tránh được việc lãi suất bị các ngân hàng này
chi phối. Trong khi đó, Chính phủ hạn chế việc tiếp cận thị trường ngân hàng của
các Ngân hàng liên doanh và chi nhánh Ngân hàng nước ngoài ở Việt Nam. Hiện
nay theo qui định các Ngân hàng liên doanh và chi nhánh Ngân hàng nước ngoài
(trừ các ngân hàng Mỹ), không được phép huy động tiền gửi tiết kiệm VND từ tổ
chức và cá nhân Việt Nam, lượng huy động tiền gửi VND không kỳ hạn không
được quá 50% /tổng số vốn của chi nhánh. Thêm vào đó, quá nhiều ưu đãi về lãi
suất của Chỉnh phủ thông qua con đường cho vay chỉ định cũng làm mất đi tính thị
trường của lãi suất.
Từ năm 2003, lãi suất cho vay cầm cố được điều chỉnh dần để đóng vai trò
là lãi suất trần của thị trường liên ngân hàng. Lãi suất tái chiết khấu được qui định
làm sàn của thị trường liên ngân hàng. Mức chênh lệch giữa lãi suất trần và lãi
suất sàn đã được nới rộng từ 0,05%/tháng tức là 0,6%/năm (tháng 3/2003) lên
2,4%/năm (tháng 6/2003) và từ tháng 9/2003 là 2%/năm phù hợp với thông lệ
quốc tế và tạo ra một khung lãi suất để cho các mức lãi suất liên ngân hàng biến
động. Lãi suất thị trường mở được điều hành linh hoạt trong khung lãi suất cho
vay cầm cố và lãi suất tái chiết khấu. Từ khi thực hiện cơ chế lãi suất thỏa thuận,
lãi suất thị trường có lúc tăng lên, rồi lại giảm do NHNN đã điều chỉnh giảm tỷ lệ
dự trữ bắt buộc, giảm lãi suất cho vay cầm cố và lãi suất tái chiết khấu, sửa đổi cơ
chế cho vay ngắn hạn, chiết khấu giấy tờ có giá của NHNN đối với NHTM để mở
rộng khả năng tiếp cận kênh tái cấp vốn cho các NHTM, các NHTM Nhà Nước đã
hiệp thương thoả thuận thống nhất việc giảm LSTG và khống chế chung mức trần
trong trước mắt. Thực tế đã có một số NHTM cổ phần với nhận thức như vậy đã
cố tình đẩy lãi suất huy động lên làm cho thị trường tiền tệ có nhiều biến động
mạnh.
24
Sau khi NHNN có công điện số 02/CĐ-NHNN ngày 26/02/2008 về việc
chốt trần lãi suất huy động VNĐ ở mức 12%/năm thì ngày 24/3/2008, Hiệp hội
các Ngân hàng có họp và có sự đồng thuận về lãi suất, các NHTM mới có sự điều
chỉnh lãi suất với mức 10,5%/năm (dưói 6 tháng) và 11%/năm (trên 6 tháng). Đến
đầu tháng 4 năm 2008 lãi suất huy động VNĐ kỳ hạn 1 năm ở mức 11,5-12%, lãi
suất cho vay VNĐ ở mức16-18%/năm, lãi suất huy động USD kỳ hạn 6 tháng đến
1 năm ở mức 6%-6,5%/năm. Đến ngày 16/4/2008, Thủ tướng Chính phủ đã yêu
cầu NHNN bỏ trần lãi suất huy động, để thị trường tự điều tiết vì thấy các NHTM
đều huy động với lãi suất thấp hơn lãi suất trần. Tuy nhiên, thực tế cho thấy sau
khi có ý kiến của Thủ tướng Chính phủ, một vài NHTM cổ phần đã tranh thủ đẩy
lãi suất huy động lên cao hơn mức trần 12%. Việc đẩy lãi suất huy động lên trên
12% của một vài NHTM cổ phần là nhằm thu hút được nhiều vốn vì họ vẫn có lãi
khi cho vay với lãi suất cao 18-20%.
Lãi suất thực dương cao có tác dụng kiềm chế lạm phát nhưng cao quá mức
thì có thể là một tai hoạ cho nền kinh tế trong các năm tiếp theo. Việc cho vay với
lãi suất quá cao 18-20% của một số NHTM cổ phần là một sự bảo đảm có lợi
nhuận lớn cho các ngân hàng này vì chênh lệch giữa lãi suất cho vay và lãi suất
huy động là quá lớn 6-7%, trước đây ta chỉ cho mức chênh lệch này ở mức không
quá 0,35%. Lãi suất cho vay lên cao đã tạo ra gánh nặng cho các doanh nghiệp sản
xuất kinh doanh vì không có mấy hoạt động có thể có lãi trên 20%, tức là đủ trả lãi
cho NHTM cổ phần và một phần để cho doanh nghiệp.
Việc NHNN tái cấp vốn với lãi suất 0,9%/tháng cho các NHTM cổ phần
thiếu vốn cho vay thực tế là làm cho tiền trong lưu thông lại tăng lên và vòng tiếp
theo là lạm phát tăng cao. Hành động này cũng khuyến khích các NHTM cổ phần
cứ cho vay ra với lãi suất cao mà không có điểm dừng, hậu quả lạm phát cao và
mất ổn định hệ thống ngân hàng trong thời gian tới vì đến tháng 4/2008 dư nợ tín