LỜI NÓI ĐẦU
Sau hơn hai mươi năm nước ta thực hiện nền kinh tế mở( nền kinh tế thị
trường ) nó đã làm cho nền kinh tế nước ta chuyển biến rõ rệt theo hướng tích
cực. Trong nền kinh tế cạnh tranh nhiều thành phần các doanh nghiệp sản
xuất, đặc biệt là các doanh nghiệp sản xuất hàng hoá không chỉ có nhiệm vụ
cho ra đời những sản phẩm tốt, có giá thành hạ mà còn có nhiệm vụ quan
trọng là tổ chức t
iêu thụ các hàng hoá đó. Mọi doanh nghiệp sản xuất kinh doanh đều lấy
lợi nhuận là nhiệm vụ đặt lên hàng đầu, vì vậy việc tiêu thụ sản phẩm tốt,
xác định chính xác kết quả kinh doanh thì doanh nghiệp mới có thể thực hiện
việc sản xuất kinh doanh thường xuyên liên tục.Thực hiện tốt việc bán sản
phẩm sẽ giúp cho doanh nghiệp thu hồi nhanh vốnđã bỏ ra, thanh toán được
mọi chi phí trong quá trình sản xuất và góp phần tích luỹ tái sản xuất mở rộng
nâng cao năng suất lao động, tăng thu nhập cho người lao động và tạo ra lợi
nhuận cho doanh nghiệp. Do đó hoạt động bán hàng có ý nghĩa rất quan trọng
đối với sự tồn tại và phất triển của doanh nghiệp đó.
Hoạt động bán hàng diễn ra rất phức tạp bởi nó chịu sự chi phối của rất
nhiều mối quan hệ nên không thể tránh khỏi những thiếu sót, tồn tại.Vì vậy
để đạt được hiệu quả trong hoạt động bán hàng đòi hỏi doanh nghiệp phải có
một hệ thống quản lý đồng bộ kết hợp với cơ chế hạch toán phù hợp. Đây
chính là công cụ điều hành và quản lý hiệu quả các hoạt động kinh tế phát
sinh trong doanh nghiệp, điều đó đòi hỏi các doanh nghiệp kinh doanh phải
thực hiện tốt công tác bán hàng một cách khoa học, hợp lý vì đây là điểm
mấu chốt để giải quyết các vấn đề của doanh nghiệpcó hiệu quả trong hoạt
động sản xuất kinh doanh hay không chính là nhờ vào sự chính xác đầy đủ
kịp thời của công tác kế toán bán hàng.
Nhận thức được tầm quan trọng của công tác bán hàng sau một thời gian
thực tập tạI công ty cổ phần Sông Lô, và quá trình học tập tại trường dưới sự
hướng dẫn của các thầy cô trong khoa kế toán với mục đích nâng cao năng
lực thực tế, thực hành các kiến thức đã học trong thực tế nên em đã chọn
chuyên đề thực tập là :”Tổ chức công tác kế toán bán hàng”.
cũng tồn tại hai chức năng mua bán. Hai chức năng này có sự liên hệ chặt chẽ
với nhau : mua tốt sẽ tạo điều kiện cho bán tốt. Để thực hiện tốt các nhiệm vụ
trên đòi hỏi phải có sự tổ chức hợp lý các hoạt động, đồng thời tổ chức
nghiên cứu thị trường nghiên cứu nhu cầu tiêu dùng. Như vậy tiêu thụ sản
phẩm là tổng thể các biện pháp về mặt tổ chức và nắm bắt nhu cầu của thị
trường. Chỉ có thông qua việc bán hàng giá trị sản phẩm dịch vụ mới được
thực hiện do đó mới có điều kiện thực hiện mục đích của nền sản xuất hàng
hoá và tái sản xuất kinh doanh không ngừng đựợc mở rộng.Doanh thu bán
hàng sẽ bù đắp được chi phí bỏ ra, đồng thời kết quả bán hàng sẽ quyết định
hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp.
2.Kết quả bán hàng:
Kết quả bán hàng là chênh lệch giữa doanh thu và chi phí tạo ra doanh
thu đó trong một kỳ.
Kết quả bán hàng =Doanh thu thuần-Giá vốn hàng bán-Chi phí.
Chi phí = Chi phí bán hàng +Chi phí quản lý doanh nghiệp.
Doanh thu thuần =Doanh thu – Doanh thu hàng trả lại -Giảm giá hàng
bán.
∗Vai trò của kế toán bán hàng và xác định kết quả kinh doanh.
2
Trong điều kiện các doanh nghiệp vừa và nhỏ được thành lập với số
lượng lớn và nhanh chóng với mục đích tăng cường sản xuất ra nhiều loại
hàng hoá cung cấp đa dạng phong phú đáp ứng nhu cầu lớn và ngày càng cao
của người tiêu dùng thì đòi hỏi nhà cung cấp phải cạnh trnah để không những
bán được nhiều sản phẩm mà còn phải tồn tại và ngày càng phát triển mở
rộng thị trường kinh doanh củng cố và khẳng định vị trí của mình trên thị
trường. Như vậy quá trình tiêu thụ sản phẩm là một trong những hoạt động
quan trọng đối với các doanh nghiệp nói chung và liên quan tới các doanh
nghiệp thương mại nói riêng.Tổ chức công tác kế toán bán hàng và xác định
kết quả bán hàng có vai trò đặc biệt quan trọng.
Bán hàng tự bản thân nó không phảI là quá trình sản xuất kinh doanh
hàng thêo một thể thức nhất định.
-Phải có sự chuyển giao quyền sở hữu hàng hoá.
3
-Hàng bán ra phải là hàng đã được thanh toán hàng mua trước đó hoặc
hàng sản xuất để bán.
Bên cạnh đó còn một số trường hợp khác còn được coi là hàng bán.
-Hàng hoá xuất ra để đổi lấy hàng hoá khác còn được gọi là hàng hoá đổi
lưu hay hàng đổi hàng.
-Hàng xuất ra để trả lương, tiền thưởng cho công nhân viên, thanh toán
thu nhập cho các thành viên của doanh nghiệp.
-Hàng hoá hao hụt tổn thất trong khâu bán do bên mau chịu.
Để nắm bắt được đặc điểm hàng hoá và thực hiện tốt việc tiêu thụ hàng
hoá thì công tác quản lý nghiệp vụ bán hàngvà xác định kết quả kinh doanh
thoả mãn yêu cầu sau:
-Lập kế hoạch và tổ chức thực hiện bán hàng cho từng thời kỳ. Trong
quá trình thực hiện kế hoạch cần phải căn cứ vào điều kiện cụ thể để có biện
pháp kịp thời thúc đẩy việc bán hàng.
-Quản lý chặt chẽ thường xuyên về giá cả: là một công tác quan trọng
trong quá trình bán hàng, việc định giá và thực hiện giá bán là nội dung trọng
tâm. Việc phản ánh giá cả hàng hoávào sổ kế toán phải căn cứ vào các chứng
từ xuất nhập hàng hoá, các chứng từ thanh toán tiền hàng, các chứng từ này
phải hợp pháp và có sự xác nhận của hai bên mua bán. Mặt khác quản lý giá
cả hàng hoá còn giúp phục vụ cho công tác kế toán hàng hoá trong hoạt động
kinh doanh.
-Nắm bắt theo dõi chặt chẽ từng phương thức bán hàng từng thể thức
thanh toán, từng thành phần đem bán và từng khách hàng, thu hồi nhanh
chóng tiền hàng tránh tình trạng chiếm dụng vốn.
-Tính toán xác định đúng đắn kết quả từng hoạt động và thực hiện
nghiêm túc cơ chế phân phối lợi nhuận.
-Thoả mãn được yêu cầu đó góp phần tăng hiệu quả sử dụng vốn trong
giao.
7.Nguyên tắc phù hợp. Theo ngyên tắc này thì tất cả giá phí gánh chịu
trong việc tạo ra doanh thu bất kể giá phí xuất hiện ở thời kỳ nào thì cũng
phải phù hợp với kỳ mà trong đó doanh thu thực hiện đã ghi nhận.
8.Nguyên tắc nhất quán : thực hiện nguyên tắc này là trong quá trình kế
toán tất cả các khái niệm, nguyên tắc, chuẩn mực, các phương pháp tính toán
phải được thực hiện nhất quán thống nhất từ kỳ này sang kỳ khác, từ phạm vi
này sang phạm vi khác.
9.Nguyên tắc công khai :các tài liệu liên quan đến tình hình tài chính, đến
kết qủa sản xuất kinh doanh phải được công khai báo cáo.Nguyên tắc này
đảm bảo cho những báo cáo tài chính không bị hiểu lầm và đạt kết quả cao.
10.Nguyên tắc thận trọng: Nguyên tắc này đảm bảo hai yêu cầu về việc
tăng nguồn vốn chủ sở hữu thì phải dựa trên những chứng từ chắc chắn và
việc ghi giảm nguồn vốn chủ sổ hữu thì được ghi nhận ngay khi có bằng
chứng(Có thể chưa chắc chắn).
11.Nguyên tắc trọng yếu : Nguyên tắc này chỉ chú trọng đến những vấn
đềmang tính chủ yếu quyết định nội dung bản chất của sự vật hiện tượng,
không quan tâm đến yếu tố ít tác dụng trong báo cáo tài chính của người sử
dụng báo cáo.
IV.Nhiệm vụ của kế toán bán hàng và xác định kết quả kinh doanh.
Kế toán bán hàng và xác định kết quả kinh doanh có các đối tượng là tài
sản và sự vận động của tài sản hay tài sản của hoạt động kinh tế tài chính
phát sinh trong quá trình bán hàng của doanh nghiệp. Nó trực tiếp thu nhận,
xử lý và cung cấp thông tin về qúa trình bán hàng của doanh nghiệp và thực
hiện các nhiệm vụ cụ thể sau:
-Ghi chéo đầy đủ kịp thời khối lượng thành phẩm, hàng hoá dịch vụ bán
ra và tiêu thụ nội bộ, tính toán đúng đắn giá trị vốn đã bán, chi phí bán hàng
và các chi phí khác nhằm xác định đúng kết quả bán hàng.
5
-Kiểm tra giám sát tiến độ thực hiện kế hoạch bán hàng kế hoạch lợi
thu tiền và giao hàng là do hai người khác nhau đảm nhận, hình thức này áp
dụng với quy mô kinh doanh lớn, lượng khách hàng nhiều.
c.Hình thức bán lẻ tự phục vụ(ở các siêu thị): theo hình thức này khách
hang ftự chọn lấy hàng hoá và mang hàng đến bàn tính tiền để tính tiền và
thanh toán tiền hàng.
d.Hình thức bán lẻ tự động: Trong đó các doanh nghiệp thương mại sử
dụng các máy bán hàng tự động chuyên dùng cho một hoạc một vài hàng hoá
nào đó, thường đặt ở những nơi công cộng, sau khi khách hàng bỏ tiền vào
máy, máy sẽ tự động đẩy tiền ra cho khách.
e.Phưong thức bán hàng trả góp :Hình thức bán hàng trả góp là một
hình thức bán hàng làm tăng doanh thu phù hợp với nhu cầu của dân cư. Bán
hàng trả góp là một phương thức bán hàng thu tiền nhiều lần, người mua phải
6
thanh toán tiền lần đầu ngay tại thời điểm mua một phần tiền hàng, số còn lại
người mau chấp nhận trả dần vào các kỳ tiếp theo và phải chịu một tỷ lệ lãi
suất nhất định. Thông thường ssố tiền phải trả ở kỳ sau bằng nhau trông đó
bao gồm doanh thu gốc và phần lãi trả chậm. Theo phương thức này hàng
được giao cho người mua hàng được xác định ngay là tiêu thụ. Doanh nghiệp
bán trả góp nộp thuế GTGT trên giá bán trả một lần chưa có thuế GTGT của
số hàng đó (không bao gồm trả góp) không tính theo số tiền trả góp từng thời
kỳ.
f.Phương thức bán hàng đại lý.
Đây là phương thức mà chủ hàng giao cho bên nhận đại lý để bán. Bên
nhận đại lý sẽ được hưởng hoa hồng từ việc nhận đại lý. Theo luật thuế nếu
bên nhận đại lý bán hàng theo đúng giá của bên giao quy định thì phần hoa
hồng được hưởng không chịu thuế GTGT,tất cả các khoản thế GTGT phảI
nộp đêu do bên chủ hàng chịu, còn nếu bên nhận đại lý bán hàng hưởng
khoản chênh lệch giá thì bên nhận đại lý phải chịu thuế GTGT theo phạm vi
doanh thu của mình.
1.2.Bán buôn hàng hoá.
kho của người bán. Sau khi giao nhận đại diện của bên mua ký nhận đủ
hàng, bên mau thanh toán tiền hàng hoặc chấp nhận nợhàng hoá được xác
định là tiêu thụ.
-Hình thức vận chuyển thẳng (chuyển bán hay gửi bán) theo hình thức
này doanh nghiệp sau khi mua hàng sẽ dùng phương tiện vận chuyển của
mình hoặc thuê ngoài vận chuyển hàng đến giao cho bên mua tại địa điểm hai
bên đã thoả thuận, hàng hoá chuyển bán trong trường hợp này vẫn thuộc
quyền sở hữu của doanh nghiệp. Khi nhận được tiền của bán mau thanh toán
hoặc giấy báo của bên mua đã nhận được hàng và chấp nhận thanh toán thì
hàng hoá mới xác định được tiêu thụ.
2.Phương pháp tính giá hàng xuất bán.
Trong quá trình kinh doanh để xác định kết quả kinh doanh và trị giá
vốn còn lại cuối kỳ, kế toán cần xác định được trị giá hàng xuất kho trong kỳ.
Về nguyên tắc giá thực tế của hàng xuất kho phảI tính trên cơ sở giá mua
nhập kho. Tuy nhiên cần căn cứ vào đặc điểm của doanh nghiệp mà lựa chọn
phương pháp tính hàng xuất kho cho phù hợp. Các phương pháp tính giá xuất
kho được áp dụng :
-Đơn giá thực tế bình quân gia quyền :
8
PHẦN II
Thực trạng về tổ chức công tác kế toán bán hàng tại công ty cổ
phần Sông Lô
I. Đặc điểm tình hình chung của công ty Sông Lô.
1.Quá trình hình thành và phát triển.
Công ty cổ phần Sông Lô tên giao dịch đối ngoại là SONG LO JOINT
STOCK COMPANY là công ty thuộc hình thức công ty cổ phần hoạt động
theo luật doanh nghiệp và các quy định khác của nước Cộng Hoà Xã Hội Chủ
Nghĩa Việt Nam tại giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh số 0130116 do sở kế
hoạch và đầu tư thành phố Hà Nội cầp ngày 08 tháng 12 năm 2005.
Nghành nghề công ty kinh doanh:
2.3.Quyền hạn.
9
Công ty cổ phần Sông Lô có những quyền hạn cơ bản sau:
-Được ký kết các hợp đồng kinh tế với tổ chức cá nhân trong và gnoài
nước.
Được quản lý và sử dụng vốn tài sản của công ty theo chế độhiện hành của
nhà nước.
-Được chủ động định giá bán hàng phù hợp với giá cả thị trường và với
chính sách của Nhà nước.
-Được tham gia hội thảo, chuyên đề có liên quan đến hoạt động sản xuất
kinh doanh của công ty.
-Được mở tài khoản vay vốn tại Ngân Hàng.
3.Mạng lưới kinh doanh của công ty.
Do đặc điểm phạm vi kinh doanh của công ty chủ yếu là sản xuất mua bán
vật liệu, thiết bị phục vụ cho nhu cầu của các đơn vị, các cửa hàng và dân cư.
Vì vậy khâu tiêu thụ hàng hoá là khâu then chốt và được công ty đặc biệt quan
tâm.
Nắm bắt được nhu cầu của thị trường công ty không ngừng phát triển
mạng lưới kinh doanh nhằm đáp ứng những điều kiện cần thiết của nền kinh tế
mặt khác đem lại hiệu quả kinh doanh giúp doanh nghiệp đứng vững và phát
triển. Hàng hoá của công ty bao gồm nhiều chủng loại, mặt hàng chất lượng tốt
và được sản xuất ở nhiều nước khác nhau. Nhờ sự nhạy bén trong kinh doanh
hiện nay công ty không những có chỗ đứng vững chắc trên thị trường mà còn
có nhiều bạn hàng thường xuyên lớn nhỏ : công ty cơ khí lắp máy điện nước,
công ty TNHH Ngôi Sao Sáng….
4.Đặc điểm về vốn kinh doanh.
Công ty CP Sông Lô được thành lập với số vốn điều lệ là 1989.000.000.
Cùng với sự hoạt động của công ty số vốn kinh doanh cũng tăng dần. Với sự
tăng của vốn kinh doanh cho ta thấy công ty đang trên đà đi lên và ngày càng
phát triển giữ quan trọng trong nền kinh tế quốc dân.
trách nhiệm về công tác khoa học kỹ thuật, nên kế hoạch sản xuất kinh
doanh…và các công tác về kỹ thuật của công ty.
-Phòng kế toán: có trách nhiệm giúp đỡ GĐ trong việc lập các chứng từ sổ
sách, thu chi, báo cáo với GĐ về kết quả sản xuất kinh doanh theo chế độ kế
toán nhà nước, quy chế của công ty. Chịu trách nhiệm trước pháp luật, trước
GĐ công ty về mọi quyết định tài chính trong toàn công ty.
-Phòng Hành chính: tham mưu cho GĐ xây dựng và áp dụng các chế độ
quy định về quản lý, sử dụng lao động trong công ty,chịu trách nhiệm trước
pháp luật trước GĐ công ty trong quản lý nhân sự.
11
SƠ ĐỒ TỔ CHỨC BỘ MÁY QUẢN LÝ CỦA CÔNG TY
6.Tổ chức công tác kế toán và bộ máy kế toán của công ty.
6.1.Đặc điểm của bộ máy kế toán tại công ty:
Phòng kế toán được trang bị 4 máy vi tính để đáp ứng đầy đủ yêu cầu quản
lý kinh doanh và đảm bảo phản ánh một cách chính xác kịp thời các nghiệp vụ
kinh tế phát sinh tại công ty.
Nội dung chính của công tác kế toán tại công ty là tổ chức hạch toán đầu ra
và đầu vào, xác định được kết quả hoạt động kinh doanh của công ty. Các công
việc kế toán bao gồm:
-Theo dõi tình hình nhập, xuất, tồn kho của hàng hoá.
-Theo dõi tình hình tiêu thụ hàng hoá.
-Theo dõi tài sản cố định, công cụ dụng cụ.
-Theo dõi tình hình hoạt động dịch vụ.
Từ đặc điểm kinh doanh hàng hoá và đặc điểm của bộ máy quản lý công ty
áp dụng hình thức tổ chức công tác kế toán tập trung. Mọi công việc đều tập
Phòng
kinh
doanh
Phòng
KH-
kho, hoá đơn bán hàng (hoá đơn GTGT), bảng chấm công, bảng thanh toán
tiền lương.
-Hệ thống chứng từ hướng dẫn như: giấy đề nghị tạm ứng, biên lai thu tiền,
biên bản giao nhận tài sản cố định.
Hệ thống tài khoản kế toán mà công ty sử dụng là hệ thống các tài khoản
kế toán cho doanh nghiệp do bộ tài chính ban hành ngày 1/1/1995 và được sửa
đổi bổ sung theo thông tư số 100/1998/TT-BTC ngày 15/7/1998 của Bộ tài
chính cụ thể là:
Đối với hàng mua sử dụng tài khoản: 1561,1562.
Đối với hàng xuất bán sử dụng tài khoản: 511,156,632.
Đối với kế toán tiền lương sử dụng tài khoản 334,338.
Đối với kế toán thanh toán sử dụng tài khoản :111,112.
Theo dõi TSCĐ sử dụng tài khoản: 211,214.
Kế toán trưỏng
Kế toán
thanh toán
Kế toán
vật tư
hàng hoá
Thủ quỹ
13
6.3.Hình thức kế toán đang áp dụng tại công ty.
Công ty cổ phần Sông Lô là đơn vị hạch toán độc lập có đầy đủ tư cách
pháp nhân, được mở giao dịch tại Ngân Hàng. Căn cứ vào quy mô, trang thiết
bị, trình độ nhân viên kế toán hiện nay công ty sử dụng hình thức kế toán Nhật
ký chung theo quy định chế độ kế toán do Bộ trưởng Bộ tài chính ban hành
ngày 1/1/1995.
Sổ kế toán bao gồm sổ Nhật ký chung, sổ cái, sổ thẻ, kế toán chi tiết. Đặc
trưng cơ bản của hình thức kế toán Nhật ký chung là tất cả các nghiệp vụ kinh
tế tài chính phát sinh đều được ghi chép vào sổ Nhật ký chung theo trình tự
hợp với yêu cầu của họ.
Do tính chất của mặt hàng kinh doanh nên công ty bán hàng chủ yếu theo
phương thức giao hàng đúng địa điểm yêu cầu. Hiện nay các hình thức thanh
toán ở công ty chủ yếu là:
-Hình thức bán hàng thu tiền ngay: theo hình thức này hàng hoá tiêu thụ
đến đâu tiền thu ngay đến đấy như tiền măt, sec, ngân phiếu…
-Hình thức bán hàng chưa thu được tiền: theo hình thức này khách hàng
mua hàng nhưng chưa thanh toán tiền. Để bắt kịp tốc độ nền kinh tế trong nước
cũng như trên thế giới đang ngày một phát triển, công ty phải mở rộng thêm thị
trường, tăng uy tín với khách hàng, kem theo dịch vụ như : quảng cáo, khuyến
mại…
Do vậy phòng kế toán có trách nhiệm kiểm tra giám sát và phản ánh kịp
thời cả về số lượng và chất lượng trong quá trình nhập xuất, tồn kho. Tổ chức
công tác ghi chép từ khâu hạch toán ban đầu đến khi xác định kết quả kinh
doanh.
1.2.Hệ thống chỉ tiêu quản lý.
-Về sổ sách: công ty sử dụng hệ thống chứng từ kế toán theo đúng quy
định do Bộ tài chính ban hành như phiếu nhập kho hàng hoá, phiếu xuất kho
hàng hoá, hoá đơn bán hàng, bảng chấm công, bảng thanh toán tiền lương,
phiếu thu, phiếu chi….
-Về hệ thống tài khoản sử dụng : công ty đã sử dụng hệ thống tài khoản kế
toán doanh nghiệp do Bộ tài chính ban hành 1/1/1995 và được sửa đổi bổ sung
theo thông tư số 100/1998/TT- BTC ngày 15/7/1998 của Bộ tài chính.
-Việc hạch toán tổng hợp đựơc tiến hành cho từng nghiệp vụ kinh tế phát
sính và theo dõi cho từng loại hàng hoá ở từng bộ phận. Hạch toán kết quả
kinh doanh được tiến hành chung cho toàn bộ công ty theo từng quý, hàng
tháng.
-Công ty áp dụng phương pháp tính thuế GTGT theo phương pháp khấu
trừ cho hầu hết hàng hoá bán tại công ty.
2.Hạch toán quá trình bán hàng tại công ty.