PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ĐỊA LÍ
Người soạn: Trần Thị Hồng Sa
1. KHÁI NIỆM VÀ VAI TRÒ CỦA KHOA HỌC ĐỊA LÍ
1.1. Khái niệm
Tên gọi Địa lí xuất phát từ tiếng Hy Lạp là Geography.
Người xưa có những nhận biết sơ khai về địa lí thông qua việc mô tả các hiện tượng
như sự thay đổi thời tiết, khí hậu, tìm phương hướng… khi có chữ viết, các kiến thức
địa lí được ghi chép lại tạo nền móng cho sự phát triển của Khoa học địa lí ngày nay.
Theo Bách khoa toàn thư Xô Viết: “Địa lí học là một hệ thống các khoa học tự
nhiên và xã hội, nghiên cứu thể tổng hợp tự nhiên, thể tổng hợp sản xuất theo lãnh thổ và
các thành phần của chúng.”
Hệ thống khoa học: là sự kết hợp của nhiều bộ môn khoa học khác nhau với các chức
năng riêng nhưng đồng thời lại được thống nhất bởi 1 chức năng chung. Hay nói cách
khác, tất cả các khoa học thuộc 1 hệ thống đều có đối tượng nghiên cứu chung, mặc dù
mỗi khoa học có đối tượng nghiên cứu riêng. Các khoa học bộ phận đều sử dụng 1
phương pháp luận chung, 1 hệ thống khái niệm chung và có thể cùng sử dụng 1 số
phương pháp chung.
Sơ đồ thể hiện cấu trúc hệ thống của ngành Khoa học địa lí
Xét về cấu trúc, địa lí tự nhiên thuộc KHTN, địa lí KT – XH thuộc KHXH nhưng
không thể để chúng phát triển thành những ngành khoa học riêng biệt mà phải tập hợp
chúng thành địa lí học. Bởi:
1
Hệ thống các ngành KH Địa lí
KH Địa lí Tự nhiên KH Địa lí KT - XH
Địa lí TN bộ phận Địa lí TN tổng hợp Địa lí KT – XH bộ phận Địa lí KT – XH tổng hợp
- Cổ địa lí
- KH Trái đất
- Địa mạo học
- Khí hậu học
- ĐL thủy văn
nhân văn (TN – KT – XH – NV).
1.2. Vai trò
Địa lí học hiện đại có vai trò ngày càng quan trọng trong hoạt động giảng dạy, giáo
dục ở nhà trường, trong XH, trong giới KH và thực tiễn đời sống của con người.
1 - Địa lí học đụng chạm đến nhiều vấn đề rộng, phức tạp cả về tự nhiên lẫn KT – XH
nên cung cấp cho người học nhiều khái niệm cần thiết trong cuộc sống.
2 - Người học hiểu biết được đời sống của các dân tộc trên thế giới, mối quan hệ giữa
người với người, giữa sức sản xuất với quan hệ sản xuất và sự tiến bộ xã hội. Từ đó, họ
nắm được đặc điểm của các phương thức sản xuất và phương thức sản xuất nào là tối ưu.
3 - Địa lí trong nhà trường có khả năng giáo dục cho người học lòng yêu nước, tinh
thần quốc tế vô sản, bảo vệ và cải tạo tự nhiên, xã hội. Đồng thời, địa lí rèn luyện cho
người học những kĩ năng cần thiết trong cuộc sống hằng ngày, cho sản xuất, chiến đấu
như kĩ năng quan sát, kĩ năng đọc và vẽ bản đồ, xác định phương hướng…
4 - Tạo hiệu quả cao trong quản lí và sử dụng tài nguyên để đảm bảo duy trì sự phát
triển KT – XH. Không gian địa lí thống nhất là sản phẩm của con người, của xã hội, là
công cụ và môi trường để xã hội tự tái sản xuất. Như vậy, địa lí có vai trò tích cực trong
việc tổ chức không gian nhân sinh; trong việc bảo vệ, cải tạo và chống ô nhiễm môi
trường.
Với những dự án tổ chức và quản lí lãnh thổ phức tạp mà làm theo phương pháp
thông thường là không thể được hoặc khó và lâu thì xây dựng hệ thông tin địa lí
(HTTĐL) là giải pháp tối ưu. Cụ thể: theo dõi diện tích rừng, nạn cháy rừng, biến đổi khí
hậu, sa mạc hóa, quản lí và sử dụng đất đai, quản lí hệ thống đường giao thông, quản lí
2
tài nguyên tự nhiên, chương trình KT – XH (phòng chống bệnh tật, quản lí các hoạt động
đô thị, quản lí dân số, xóa đói giảm nghèo)…
5 - Địa lí là khoa học tiếp cận hệ thống không gian, có thể giúp các nhà lãnh đạo hay
nhà quản lí điều hành tốt 1 lãnh thổ hay lãnh hải nào đó theo hướng phát triển bền vững.
Trong hệ thống tự nhiên thì cơ chế giữ cân bằng là cơ chế tự điều chỉnh. Còn trong hệ
thống thống nhất TN – KT – XH – NV thì phải có yếu tố chỉ huy để điều khiển. Khi đó
tiếp cận hệ thống là quá trình tìm ra các cơ sở, các giải pháp, các phương án (kịch bản)
theo hệ thống kinh – vĩ độ, chiều rộng không đi xa quá về phía bắc và nam Địa Trung
Hải, trên đó thể hiện châu Á, Âu, Phi.
- Thế kỉ II TCN đến đầu CN:
Crates xây dựng quả địa cầu và đã tưởng tượng ra 3 lục địa là Bắc Mĩ, Nam Cực, Úc.
Strabon chuyển sang nghiên cứu địa lí nhân văn, chú ý đến dân tộc và chiều lịch sử.
- Thế kỉ II SCN: Khoa học địa lí có bước thụt lùi với “Thuyết địa tâm hệ” của
Ptôlêmê. Song ông có những đóng góp lớn về bản đồ và trắc địa.
Công trình quan trọng nhất của ông là cuốn “Địa lí học” gồm 8 tập (Tập 1 – các
nguyên tắc, trong đó có cách xây dựng quả địa cầu và cách chiếu khi vẽ bản đồ; Tâp 2,
3,4,5,6,7 – danh mục gồm hơn 8000 địa danh kèm theo tọa độ kinh – vĩ để xác định vị trí;
Tập 8 – về địa lí, toán học, thiên văn học, phép chiếu hình nón; 1 bản đồ toàn thế giới, 26
bản đồ chi tiết các khu vực).
Theo bản đồ của ông, thế giới dài đến 180
0
(đảo Canari đến Trung Quốc) và rộng
70
0
B – 15
0
N, gồm châu Âu, Á, Phi, Đại Tây Dương, Địa Trung Hải, biển Caxpi, biển Đỏ,
Ấn Độ Dương.
2.2. Thời kì trung cổ (thế kỉ V SCN – đầu thế kỉ XV)
Đây là thời kì suy đồi của địa lí học vì nhiều thành tựu của khoa học địa lí đã đạt được
từ trước bị phủ định. Người ta bắt buộc phải chấp nhận lời phán có sẵn của nhà thờ như
quả đất là mặt phẳng hay dạng đĩa; Các bản đồ không thể hiện thực tại mà vẽ theo trí
tưởng tượng và theo giáo lí Thiên chúa giáo (bản đồ được đặt theo hướng Đông – Tây, có
thêm 1 vùng thiên đường của chúa ở chính giữa trên cùng).
Song vẫn có những thành tựu: Người Ả rập khẳng định lại chiều dài kinh tuyến, bắt
đầu nói Mặt trời là
trung tâm vũ trụ;
Nha) sang Châu Mĩ đến quần đảo
Bahama, Hati, Giamaica… (1492 –
1502) biết được những sinh vật
của “Tân thế giới”, dân cư, dòng
biển, tín phong…
- Vasco de Gama (Vatxcô đờ
Gama, 1469 – 1524, người Bồ Đào
Nha): đã tìm đường sang Ấn Độ
bằng cách đi vòng qua Châu Phi,
tìm được thị trường rộng lớn ở Nam
Á, Đông Nam Á.
- Magellan (Magienlăng,
1470 – 1521, người Bồ Đào Nha):
là người đầu tiên đi vòng quanh thế giới bằng đường biển. Từ Tây Ban Nha vòng qua
Nam Mĩ ở eo Magellan Thái Bình Dương quần đảo Marian (Philippin) và ông mất
ở đây Đoàn người còn lại tiếp tục vòng quanh châu Phi về lại Tây Ban Nha (1519 –
5
1522). Lúc này, con người
đã khẳng định sự tồn tại
của đại dương nối liền với
nhau và phân cách bởi lục
địa, phát hiện ra các vành
đai gió trên địa cầu.
Chứng minh được
những thành tựu của địa lí
cổ đại: Trái đất hình cầu,
tính địa đới của khí hậu do
góc tới khác nhau của Mặt
trời và sơ bộ hình thành các quy luật địa lí, quan hệ giữa khí hậu – sinh vật – con người,
phát hiện thêm đặc điểm của các đới gió, hiểu thêm nhiều dân tộc địa phương…
Pháp của Cassini (1744). Nước Anh thành lập “Cục bản đồ quốc gia” năm 1791.
2.5. Thời kì TBCN (thế kỉ XIX)
- Đặc điểm: Khoa học địa lí có tính chuyên nghiệp, có đào tạo, có tổ chức nghiên cứu
rõ ràng và mang tính quốc tế. Sự phân ngành ngày càng mạnh với 2 bộ môn là khoa học
địa lí tự nhiên và khoa học địa lí kinh tế.
Có 3 khuynh hướng nghiên cứu chính:
Nghiên cứu vùng: Các vùng được phân ra dựa vào địa chất, địa hình, khí hậu, thủy
văn, sinh vật, thổ nhưỡng quy luật phân hóa không gian của lớp vỏ địa lí, có xét đến
đặc điểm riêng của mỗi vùng tạo ra bởi sự kết hợp giữa các hợp phần tự nhiên.
Nghiên cứu quan hệ con người – môi trường địa lí: Môi trường là điều kiện cơ bản,
tiền đề để phát triển KT – XH. Con người là chủ thể, quyết định cách sử dụng môi trường
sao cho có lợi nhất với mình. Cần giải quyết hài hòa, hợp lí mối quan hệ này theo đúng
quy luật quan hệ giữa con người và môi trường.
Nghiên cứu cảnh quan: Địa lí phải xuất phát từ việc nghiên cứu 1 cái gì cụ thể, trông
thấy và cảm nhận được – cảnh quan. Nó được nhào nặn, xây dựng từ sự phối hợp giữa
các lực lượng tự nhiên và các tác động của con người. Cảnh quan trở thành đối tượng
nghiên cứu của địa lí.
cả 3 khuynh hướng đều bổ sung cho nhau, mỗi khuynh hướng đi sâu vào 1 khía
cạnh của thực tại phân hóa không gian của tự nhiên và xã hội.
- Nhiều khoa học chuyên ngành mới tách ra từ địa lí: Địa chất, Khí hậu học, Thổ
nhưỡng học, Thực vật học, Động vật học, Thiên văn học, Trắc địa học – bản đồ, Hải
dương học Thế mạnh thuộc địa lí tự nhiên nên nó được xếp vào khoa học tự nhiên.
Tuy nhiên, sự phân ngành bộc lộ nhược điểm xuất hiện xu thế nghiên cứu địa lí tự
nhiên tổng hợp.
- Địa lí kinh tế ra đời cuối thế kỉ XIX – được kích thích bởi sự phân công lao động
theo lãnh thổ trong sản xuất hàng hóa TBCN, sự phát triển của Thống kê học và học
thuyết về sự định vị các ngành sản xuất.
7
- Bản đồ học có những bước tiến: Bản đồ thế giới không còn chỗ trắng; nền kinh tế cơ
giới hóa, mạng lưới đường sắt, đáy đại dương cũng được thể hiện; phương pháp bình độ
Địa lí văn hóa (sử dụng ngôn ngữ bản đồ để phân vùng văn hóa, rồi mô tả và giải
thích đặc trưng của các vùng văn hóa trong mối quan hệ với môi trường tự nhiên và cư
dân sinh sống ở đó),
Địa lí kinh tế (nghiên cứu sự phân bố trong không gian của các hiện tượng kinh tế và
các vùng địa lí kinh tế lớn nhỏ, xây dựng lí thuyết định vị cho từng ngành kinh tế, xác
định các mô hình không gian của kinh tế và chiến lược phát triển vùng kinh tế)…
- Trường phái địa lí Nga: Theo khuynh hướng cảnh quan với các đại diện Docussaep,
Vưxôxki, Becgơ, Pôlưnốp… Họ đã phát hiện ra thổ nhưỡng là 1 thành phần địa lí mới
với quan điểm tổng hợp; gọi đới tự nhiên là đới cảnh quan; phát hiện ra cấu trúc ngang
của cảnh quan địa lí với 2 đơn vị cấu tạo cơ bản cấp dưới là dạng và diện địa lí; đối tượng
và nhiệm vụ của địa lí là nghiên cứu lớp vỏ ngoài của Trái đất – lớp vỏ địa lí với ranh
giới và những quy luật chung.
Về mặt kinh tế, nổi bật là N.N.Baranxki với việc phân vùng và kế hoạch hóa nền kinh
tế Liên Xô; chú ý địa lí khu vực (địa lí kinh tế quốc gia) và đưa ra 1 kết cấu để đặc trưng
về địa lí kinh tế 1 nước; phân công lao động theo lãnh thổ và tổ chức xã hội theo lãnh thổ.
* Giai đoạn 1950 – 2000
+ Hoàn cảnh kinh tế – xã hội và khoa học - công nghệ
1 - Chiến tranh lạnh và chạy đua vũ trang giữa phe XHCN và TBCN chấm dứt khi
Liên Xô và Đông Âu sụp đổ.
2 - Đấu trang vũ trang, bán vũ trang của các nước thuộc địa đã khiến CN đế quốc bị
sụp đổ và sự ra đời hàng trăm quốc gia độc lập mới. Ngoài ra đã hình thành tình trạng
chia cắt 1 số nước làm đôi. Lúc này địa lí chính trị và địa chính trị được quan tâm.
3 - Các ngành KH XH phát triển (nhân chủng học, xã hội học) KH địa lí vận dụng
các thành tựu đó vào phân tích các thành phần cấu trúc xã hội. Vận dụng thành tựu của
sinh thái học để phân tích thành phần cấu trúc tự nhiên trong tổng hợp thể không gian
hoàn chỉnh TN – KT – XH – NV. Đưa ra các học thuyết về địa - sinh thái, kinh tế – sinh
thái, sinh thái – nhân văn.
4 - Từ 1950, KT – XH phát triển. Các nước giàu phát triển bằng mọi giá đã hủy hoại
môi trường nhưng đã thay đổi cơ cấu lao động, cơ cấu dân cư, dịch vụ phát triển từ
những năm 80 là khủng hoảng mà mầm móng là 2 cú sốc dầu mỏ năm 1973 và 1979.
thế hệ sau.
4 - Hệ thông tin địa lí (GIS - Geographic Information System) – công cụ đắc lực cho
việc phân tích hệ thống không gian, nhất là cho phép phân tích cấu trúc ngang với các
đặc tính không gian và quan hệ không gian.
Tóm lại: Địa lí học hiện đại phải giải quyết được 1 trong những vấn đề lớn nhất của
thời đại là vấn đề quan hệ giữa con người và môi trường sống. Địa lí trở thành 1 ngành
KH động với xu hướng dự báo, thực nghiệm và cải tạo.
3. ĐỐI TƯỢNG, NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU CỦA KHOA HỌC ĐỊA LÍ
* Đối tượng nghiên cứu:
Địa lí thống nhất TN – KT – XH – NV hiện đại là kết quả tất yếu của sự phát triển của
KH địa lí vào cuối thế kỉ XX. Theo đó, đối tượng nghiên cứu của địa lí học là tổng hợp
thể không gian hoàn chỉnh TN – KT – XH – NV.
10
Các phân hệ của hệ thống không gian địa lí hoàn chỉnh
1 - Phân hệ tự nhiên: Đây là cơ sở vật chất và năng lượng cho mọi hoạt động KT –
XH. Bên cạnh nghiên cứu về các điều kiện tự nhiên, cần đi sâu tìm hiểu các dòng vật
chất và năng lượng – bản chất của mối quan hệ tương tác trong môi trường tự nhiên.
Con người là 1 bậc trong tháp địa – sinh thái. Khi tham gia vào dòng năng lượng và
chu trình ấy, con người đã làm nhiễu loạn chúng, gây ra những tác hại mà cuối cùng con
người phải trả giá. Do vậy, tìm hiểu hoạt động của hệ địa – sinh thái, tác động qua lại
giữa hệ địa – sinh thái với con người là nhằm mục đích điều chỉnh các quan hệ giữa XH
và môi trường sao cho hợp lí để phát triển bền vững.
2 - Phân hệ KT: KT là hoạt động sản xuất ra của cải, phân phối chúng đến thị trường
để đáp ứng sự tiêu dùng của XH. Nhiệm vụ là tìm hiểu thực trạng nền sản xuất; giải
thích và đánh giá thực trạng đó; đề ra các giải pháp khắc phục những nhược điểm và
đẩy mạnh các ưu điểm để đưa nền KT phát triển bền vững. Trong đó, chú ý đến sự cân
bằng không gian của các hoạt động KT mà đô thị là đối tượng quan tâm đặc biệt.
3 - Phân hệ XH: Khi khai thác TN để sản xuất và sinh hoạt, con người hoạt động
trong 1 cộng đồng, 1 XH có tổ chức. Nghiên cứu sự phân bố không gian của các hoạt
Quan điểm của địa lí thống nhất
1 – Đặt con người vào vị trí trung tâm Trái đất và vũ trụ. Không gian địa lí là “của
con người, do con người, vì con người” con người cần chủ động tạo ra “không gian
địa lí hoàn chỉnh” với môi
trường tự nhiên xanh, sạch,
đẹp; sản xuất nhiều của
cải; con người khỏe mạnh,
no ấm, hạnh phúc. Địa lí
thống nhất có nhiệm vụ tạo
ra không gian lãnh thổ như
vậy.
2 – Không gian địa lí
hoàn chỉnh được hình
thành trong mối quan hệ
tổng hòa giữa các hoạt
động cơ bản của con người là: chiếm hữu, cư trú, khai thác, giao lưu – trao đổi, quản lí.
3 – Con người đang sống trong 2 MT. MT tự nhiên không còn nguyên sinh nhưng vẫn
hoạt động theo quy luật tự nhiên
nghiên cứu ảnh hưởng của MTTN đến con người và
cảnh báo nguy cơ MT có thể bị tàn phá tới mức không phục hồi được
Yêu cầu ĐTM.
MT nhân tạo nếu không được chăm sóc sẽ không thể phục hồi + các công trình không
đáp ứng nhu cầu phát triển KT - XH
có thể là gánh nặng cho XH
nên việc ra quyết
3 - Đưa ra các mô hình để tổ chức không gian lãnh thổ sao cho hoạt động KT – XH
diễn ra đạt hiệu quả tốt nhất.
Mô hình là sự khái quát hóa và đơn giản hóa thực tế để có thể phát hiện ra bản chất
của hiện tượng, sự vật hay vấn đề đang xét. Từ mục đích nghiên cứu, ta chỉ cần đưa ra
mô hình những hợp phần, bộ phận, quan hệ cấu trúc thật cần thiết cho phép hiểu được sự
vận hành của hệ thống cùng với dòng vào, dòng ra, dòng hồi tiếp, loại bỏ những gì rườm
rà, làm nhiễu công việc. Mô hình tổng quát của hệ thống không gian địa lí hoàn chỉnh cần
bao gồm các yếu tố như tài nguyên tự nhiên, lao động, công cụ sản xuất, vốn, thông tin
và chỉ huy.
- Có trung tâm điều khiển (thủ đô, tỉnh lị, huyện lị, trụ sở xã)
- Có tính đơn trị, các điểm phụ thuộc vào trung tâm cùng mức độ
- Có trật tự vì nằm trong 1 vùng hành chính cấp trên
- Có sự ăn khớp vì ranh giới không được chờm lên nhau
- Có tính trọn vẹn vì mỗi vùng được phủ kín bởi các vùng cấp dưới
- Có tính đồng giá trị vì các vùng cùng cấp đều ngang nhau
- Có mục đích vì việc phân chia hệ thống vùng hành chính đều nhằm thực hiện 1 mục
đích quản lí đất đai và con người nhất định.
13