KHẢO SÁT TỔN THƯƠNG TIM MẠCH TRÊN BỆNH NHÂN KAWASAKI
GIAI ĐOẠN CẤP TÓM TẮT
Mục tiêu: mô tả đặc điểm tổn thương tim mạch trên bệnh nhân Kawasaki giai đoạn
cấp.
Đặt vấn đề: Kawasaki là bệnh lí viêm mạch máu cấp tính, trong đó có những tổn
thương trên hệ tim mạch là nguyên nhân gây tử vong như viêm màng ngoài tim, viêm
cơ tim, viêm nội tâm mạc và mạch vành. Nghiên cứu của chúng tôi được thực hiện để
xác định đặc điểm và tần suất các tổn thương tim mạch trong bệnh Kawasaki giai
đoạn cấp.
Phương pháp: thiết kế nghiên cứu cắt ngang phân tích. Chúng tôi tiến hành nghiên
cứu trên những bệnh nhân được chẩn đoán Kawasaki theo tiêu chuẩn của CDC và
được nhập viện vào bệnh viện Nhi Đồng 1 trong giai đoạn cấp. Đặc điểm về dịch tễ
học, lâm sàng, cận lâm sàng và điều trị sẽ được mô tả chi tiết. Chúng tôi chia những
bệnh nhân nghiên cứu thành 2 nhóm, nhóm có tổn thương tim và nhóm không tổn
thương tim, sau đó tìm những yếu tố có liên quan đến tổn thương tim.
Kết quả: có 73 trường hợp Kawasaki nghiên cứu, trong đó có 41 trường hợp (56,2%)
có tổn thương tim. Các tổn thương gồm dãn mạch vành (26%), rối loạn nhịp (20,5%),
nhịp nhanh (19,8%), giảm phân suát tống máu (15%), hở van tim (8,2%), tim to
(4,1%), tràn dịch màng tim (4,1%), ST-T chênh (2,7%), suy tim (2,7%), sốc tim
(1,3%), điện thế thấp trên ECG (1,3%). Những trẻ trên 12 tháng tuổi, sống ở các tỉnh,
có xét nghiệm CRP và tiểu cầu tăng cao, được chẩn đoán sau 7 ngày, được điều trị
sau 9 ngày của bệnh là những yếu tố có liên quan đến tổn thương tim mạch (p <
0,05). Với giá trị CRP > 108 mg/L có khả năng tiên đoán tổn thương tim là 73%.
Kết luận: hơn 50% bệnh nhân Kawasaki giai đoạn cấp có tổn thương tim. Chúng ta
nên chú ý đến những trẻ bệnh Kawasaki trên 12 tháng tuổi, sống ở các tỉnh, có xét
nghiệm CRP và tiểu cầu tăng cao, được chẩn đoán sau 7 ngày, được điều trị sau 9
ngày của bệnh là những yếu tố có liên quan đến tổn thương tim mạch.
ABSTRACT
Conclusion: more than 50% of patients with Kawasaki’s disease had cardiovascular
manifistations in acute phase. Children older than 12 months of age, living in
provinces, having very high CRP and platelet, diagnosed Kawasaki’s disease after 7
th
day and given globulin after 9
th
day of disease are factors relating to the cardiac
lesion
TỔNG QUAN
Bệnh Kawasaki là bệnh sốt, viêm mạch máu cấp tính ở trẻ em, trước đây được biết
dưới dạng hội chứng da, niêm, hạch, hoặc viêm đa động mạch nút ở trẻ nhũ nhi. Bệnh
được mô tả lần đầu tiên bởi bác sĩ Tomisaku Kawasaki vào năm 1961. Ông phát hiện
lần đầu tiên là một trường hợp sốt kèm phát ban ở bé 4 tuổi, tại bệnh viện Red Cross,
Tokyo, Nhật Bản năm 1961. Trong 6 năm tiếp theo ông đã phát hiện 50 trường hợp
tương tự và báo cáo lần đầu tiên tại Nhật Bản vào năm 1967, tại Anh vào năm
1974
(Error! Reference source not found.)
.
Tần xuất mắc bệnh ở người Châu Á cao gấp 5-10 lần người da trắng
(Error! Reference
source not found.,Error! Reference source not found.)
. Bệnh thường xảy ra ở trẻ dưới 5 tuổi
khoảng 80% trường hợp, đỉnh cao ở trẻ < 2 tuổi, nam nhiều gấp 1,5 lần nữ. Bệnh
có thể khởi phát từ một tháng tuổi, cao nhất là một tuổi, hiếm gặp ở trẻ trên 10
tuổi. Bệnh xảy ra không theo mùa rõ rệt, tăng nhẹ vào mùa đông-xuân.
Nguyên nhân và cơ chế bệnh sinh của bệnh vẫn chưa được biết rõ. Dấu ấn miễn dịch
CD4 trên tế bào T, tiểu cầu tăng cao, yếu tố tăng trưởng tế bào nội bì mạch máu, hóa
chất, yếu tố hoạt hoá của bạch cầu đơn nhân, yếu tố hoại tử u và những interleukine
đóng vai trò quan trọng trong quá trình viêm mạch máu trong bệnh Kawasaki. Ngày
chiếm khoảng 50%, viêm màng ngoài tim khoảng 30%, rối loạn nhịp tim, thay đổi
trên điện tim như PR, QT dài, sóng Q bất thường, thay đổi ST-T, điện thế thấp… và
quan trọng nhất là dãn động mạch vành chiếm tỉ lệ 15-25% trường hợp. Đây là
nguyên nhân quan trọng gây đột tử ở trẻ bị bệnh Kawasaki
(Error! Reference source not
found.,Error! Reference source not found.,Error! Reference source not found.,Error! Reference source not found.,Error!
Reference source not found.)
.
Trên thế giới có nhiều công trình nghiên cứu về tỉ lệ các tổn thương tim trong bệnh
Kawasaki. Tại Việt Nam đã có những nghiên cứu về tổn thương mạch vành trong
bệnh Kawasaki nhưng chưa có nghiên cứu nào về tỉ lệ của các tổn thương tim khác
trong giai đoạn cấp của bệnh. Tuy các biến chứng tim mạch này không nguy hiểm
như biến chứng dãn mạch vành nhưng vẫn có thể ảnh hưởng đến tính mạng bệnh
nhân và cần phải điều trị kịp thời. Chúng tôi tiến hành nghiên cứu về vấn đề này với
mong muốn giúp các nhà lâm sàng chú ý đến các bệnh cảnh khác nhau trong giai
đoạn cấp của bệnh để việc điều trị và theo dõi được tốt hơn.
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Mục tiêu nghiên cứu
Xác định tỉ lệ từng loại tổn thương tim ở bệnh nhân Kawasaki giai đoạn cấp và đặc
điểm của chúng. Tìm mối liên quan giữa các yếu tố dịch tễ, cận lâm sàng và điều trị
với tổn thương tim trong giai đoạn cấp của bệnh Kawasaki.
Thiết kế nghiên cứu
Cắt ngang phân tích.
Đối tượng nghiên cứu
Dân số nghiên cứu
Tất cả những bệnh nhi từ 0-15 tuổi nhập viện Nhi Đồng 1 từ tháng 1 năm 2005 đến
tháng 1 năm 2006 được chẩn đoán là bệnh Kawasaki theo tiêu chuẩn của Hiệp Hội
tim mạch Hoa Kỳ và trung tâm nghiên cứu bệnh Kawasaki Nhật Bản năm 1993 và
APP (2004).
Cỡ mẫu
Đặc diểm của dân số nghiên cứu
Trong 73 trường hợp Kawasaki nghiên cứu có tỉ lệ nam:nữ = 1,5:1.
Tuổi trung bình là 19,7 20,4 tháng, nhỏ nhất là 3 tháng và tuổi lớn nhất là 10 tuổi.
Nhóm tuổi <1 tuổi là 51%, nhóm 1-5 tuổi là 44% và nhóm > 5 tuổi là 4%.
Phân bố về nơi cư ngụ giữa các tỉnh và thành phố Hồ Chí Minh với tỉ lệ 1:1.
Thời điểm chẩn đoán xác định: trung bình ở ngày bệnh thứ 6,9 2,8 ngày (5- 21
ngày)
Tỉ lệ bệnh nhân được điều trị globulin lần đầu là 93%, ngày điều trị bệnh trung bình
là 8,5 2,7 ngày (5- 23 ngày). Tỉ lệ đáp ứng điều trị globulin lần đầu là 93%.
Có 56,2% có biểu hiện tổn thương tim mạch, ngày bệnh phát hiện trung bình 8
3,14 ngày (4-20 ngày) với các đặc điểm sau:
Tổn thương động mạch vành 26% trong giai đoạn cấp của bệnh nhân Kawasaki đã
được điều trị -globulin hoặc không điều trị -globulin do bệnh tự thuyên giảm trước
khi điều trị. Ngày bệnh phát hiện dãn động mạch vành trung bình là 8,1 2,9 ngày.
Dãn động mạch vành trái là thường gặp nhất (26%), sau đó là dãn động mạch vành
phải (16,4%), dãn nhánh động mạch vành mũ (2,7%) và nhánh xuống trái trước
(1,4%). Trong nghiên cứu của chúng tôi đa số các trường hợp dãn động mạch vành
mức độ nhẹ, tại thời điểm nhập viện chiếm 84,2%, ngày thứ 14 của bệnh chiếm
72,2% và tại thời điểm 6 tuần của bệnh chiếm 71,4%. Tỉ lệ hồi phục sau 6 tuần theo
dõi là 9 trong 19 trường hợp (47,36%) tương tự như y văn.
Giảm phân suất tống máu 15% các trường hợp bệnh Kawasaki theo dõi trên siêu
âm tim, ngày trung bình phát hiện giảm EF là 5,8 1,25 ngày (ngày bệnh thứ 5-8).
Mức độ giảm EF thường nhẹ với giá trị EF giảm khoảng 45-59%, hồi phục 10 trong
11 trường hợp (90,9%) sau 6 tuần theo dõi.
Hở van tim 8,2%, ngày bệnh trung bình phát hiện hở van tim là 12,4 5 ngày. Trong
đó 5 trong 6 trường hợp (83,3%) là hở van 2 lá, 1 trong 6 trường hợp (16,7%) hở van
3 lá (đi kèm với hở van 2 lá) và 2 trong 6 trường hợp (33,4%) là hở van động mạch
chủ. Mức độ hở van từ 1/4 đến 4/4, tỉ lệ hồi phục của hở van tim là 50% sau 6 tuần
theo dõi.
Viêm màng ngoài tim hay tràn dịch màng ngoài tim chiếm tỉ lệ 4,1%. Cả ba trường
tổn thương tim chiếm 34,1% và 22 trong 32 bệnh nhân không tổn thương tim chiếm
68,8%) có ý nghĩa thống kê với mức p < 0,005 và OR 4,24 (khoảng tin cậy 95% là
1,6 -11,4). Nghĩa là bệnh nhân ở tỉnh có nguy cơ tổn thương tim nhiều hơn bệnh nhân
ở thành phố. Điều này có thể lý giải là do bệnh nhân ở tỉnh thường được chẩn đoán và
điều trị muộn hơn do nhập viện tại địa phương vài ngày trước khi được chuyển đến
bệnh viện Nhi Đồng 1, mà chẩn đoán và điều trị muộn có liên quan đến tổn thương
tim.
Trong quá trình nghiên cứu, nhóm bệnh nhân có tổn thương tim được chẩn đoán
trung bình ở ngày thứ 7,7 3,4 của bệnh, muộn hơn so với nhóm không có tổn
thương tim với ngày chẩn đoán trung bình 5,9 1,2 ngày khác biệt có ý nghĩa thống
kê với p < 0,005. Nhóm bệnh nhân có tổn thương tim có thời gian điều trị trung bình
ở ngày thứ 9,25 3,3 của bệnh muộn hơn so với nhóm không tổn thương tim ở ngày
bệnh thứ 7,1 1, có ý nghĩa thống kê so với p < 0,005.
Khi phân nhóm tiểu cầu ≥ 350.000 /mm
3
là yếu tố nguy cơ tổn thương tim với OR =
2,6 (khoảng tin cậy 95% là 1-6,7), p = 0,047. Khác với tiêu chuẩn Harada tiểu cầu ≤
350.000 là yếu tố nguy cơ tổn thương mạch vành, nghiên cứu của chúng tôi tiểu cầu >
350.000 /mm
3
có liên quan đến tổn thương tim chung. Điều này có thể lí giải vì tổn
thương tim mạch chủ yếu là do quá trình viêm, mà tiểu cầu tăng là một trong những
biểu hiện của đáp ứng viêm trong bệnh Kawasaki.
Nồng độ CRP trung bình ở nhóm có tổn thương tim là 130,3 86,3 mg/L cao hơn
nhóm không tổn thương tim là 83,4 54,5 mg/L có ý nghĩ thống kê với p = 0,005. Vẽ
đường cong ROC của CRP trong tổn thương tim, diện tích dưới đường cong là 0,68;
với giá trị CRP ở điểm cắt 107,6 mg/L giá trị tiên đoán dương đối với tổn thương tim
là 73,3 %.
KẾT LUẬN