ĐỀ TÀI THẢO LUẬN : PHÁT HUY NGUỒN NHÂN LỰC TRONG
SỰ NGHIỆP CÔNG NGHIỆP HÓA – HIỆN ĐẠI HÓA ĐẤT NƯỚC
PHẦN MỘT : ĐỀ CƯƠNG SƠ LƯỢC
A. LỜI MỞ ĐẦU
B. NỘI DUNG
I. Khái niệm công nghiệp hóa – hiện đại hóa và cơ sở lý luận của việc phát huy nguồn
nhân lực
1. Khái niệm công nghiệp hóa – hiện đại hóa
2. Cơ sở lý luận của việc phát huy nguồn nhân lực
a) Khái niệm, phân loại nguồn nhân lực
* Khái niệm
* Phân loại nguồn nhân lực
b) Các nhân tố tác động đến phát huy nguồn nhân lực
* Đường lối CNH - HĐH của Đảng
* Thực trạng tình hình kinh tế xã hội
* Quy hoạch phát triển kinh tế
3. Quan điểm và chủ trương của Đảng về phát huy nguồn nhân lực trong sự nghiệp
công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước
II. Thực trạng nguồn nhân lực và một số giải pháp phát huy nguồn nhân lực trong
thời kỳ công nghiệp hóa – hiện đại hóa ở Việt Nam hiện nay
1. Thực trạng nguồn nhân lực
a) Nguồn nhân lực từ nông dân
b) Nguồn nhân lực từ công nhân
c) Nguồn nhân lực từ trí thức , công chức , viên chức
2. Đánh giá vai trò nguồn nhân lực trong sự nghiệp công nghiệp hóa – hiện đại hóa
3. Các giải pháp nhằm phát huy nguồn nhân lực trong sự nghiệp công nghiệp hóa –
hiện đại hóa ở Việt Nam hiện nay
a) Định hướng phát triển kinh tế - xã hội của nước ta những năm tới
b) Hoàn thiện chính sách phát huy nguồn nhân lực:
c) Nâng cao chất lượng lao động
d) Tăng cường phát triển kinh tế và tạo việc làm
và công nghệ là nguồn lực quan trọng nhất - nguồn năng lực nội sinh”. Vậy nguồn nhân lực
là gì?
Hiện nay có nhiều quan điểm khác nhau về nguồn nhân lực. Định nghĩa của Ngân
hàng Thế giới : “Nguồn nhân lực là toàn bộ vốn người (thể lực, trí lực, kỹ năng, nghề
nghiệp v.v ) mà mỗi cá nhân sở hữu, có thể huy động được trong quá trình sản xuất, kinh
doanh, hay trong một hoạt động nào đó”. Định nghĩa của Liên Hợp Quốc : “Nguồn nhân
lực là trình độ lành nghề, là kiến thức và năng lực của toàn bộ cuộc sống con người hiện có
thực tế hoặc tiềm năng để phát triển kinh tế - xã hội trong một cộng đồng.
Qua các định nghĩa khác nhau có thể hiểu , nguồn nhân lực là tổng thể những yếu tố
thuộc về thể chất, tinh thần, đạo đức, phẩm chất, trình độ tri thức, vị thế xã hội v v tạo nên
năng lực của con người, của cộng đồng người có thể sử dụng, phát huy trong quá trình phát
triển kinh tế - xã hội của đất nước và trong những hoạt động xã hội
* Phân loại
Sự phân loại nguồn nhân lực theo ngành nghề, lĩnh vực hoạt động (công nghiệp,
nông nghiệp, dịch vụ) đang rất phổ biến ở Việt Nam hiện nay, nhưng khi chuyển sang nền
kinh tế tri thức phân loại lao động theo tiếp cận công việc nghề nghiệp của người lao động
sẽ phù hợp hơn. Lực lượng lao động được chia ra lao động thông tin và lao động phi thông
tin. Lao động thông tin lại được chia ra hai loại: lao động tri thức và lao động dữ liệu. Lao
động dữ liệu (thư ký, kỹ thuật viên ) làm việc chủ yếu với thông tin đã được mã hoá, trong
khi đó lao động tri thức phải đương đầu với việc sản sinh ra ý tưởng hay chuẩn bị cho việc
mã hoá thông tin. Lao động quản lý nằm giữa hai loại hình này. Lao động phi thông tin
được chia ra lao động sản xuất hàng hoá và lao động cung cấp dịch vụ. Lao động phi thông
tin dễ dàng được mã hoá và thay thế bằng kỹ thuật, công nghệ. Như vậy, có thể phân loại
lực lượng lao động ra năm loại: lao động tri thức, lao động quản lý, lao động dữ liệu, lao
động cung cấp dịch vụ và lao động sản xuất hàng hoá. Mỗi loại lao động này có những đóng
góp khác nhau vào việc tạo ra sản phẩm.
b) Các nhân tố tác động đến phát huy nguồn nhân lực
* Đường lối công nghiệp hóa – hiện đại hóa của Đảng
Thực hiện Nghị quyết của Trung ương và của Đảng bộ thành phố về công nghiệp hóa
- hiện đại hóa, nước ta đã xây dựng các chương trình mục tiêu cụ thể, trên cơ sở tiềm năng,
lịch sôi nổi, lượng khách quốc tế đến Việt Nam tăng 36,2% so với cùng kỳ năm trước.
_ Thực hiện vốn đầu tư toàn xã hội ước tính tăng 26,23% so với cùng kì năm trước đặc biệt
là khu vực ngoài nhà nước tăng tới 46,38%
Tuy nhiên, nền kinh tế vẫn còn tồn tại nhiều khó khăn vừa có tính trước mắt vừa có
tính lâu dài. Chất lượng, hiệu quả tăng trưởng hạn chế; sức cạnh tranh của nền kinh tế nói
chung và của nhiều ngành, nhiều loại sản phẩm hàng hóa, dịch vụ còn thấp. Một số cân đối
kinh tế vĩ mô chưa được cải thiện đáng kể, thiếu tính bền vững, nhất là cân đối xuất nhập
khẩu hàng hóa, dịch vụ; cân đối thu chi ngân sách Nhà nước; cân đối vốn đầu tư phát triển;
chỉ số giá tiêu dùng tăng cao. Những khó khăn, thách thức đó đã tác động không nhỏ đến
sản xuất và đời sống dân cư.
Công tác bảo đảm an sinh xã hội tiếp tục được triển khai tích cực tại các địa phương
nhằm ổn định và nâng cao đời sống nhân dân. Ban hành chính sách tăng mức hỗ trợ 1,5 lần
so với trước cho các đối tượng bảo trợ xã hội. Các giải pháp hỗ trợ hộ nghèo phát triển sản
xuất kinh doanh, tạo việc làm, tăng thu nhập đã được coi trọng. Các đối tượng cứu trợ xã
hội được hưởng chính sách trợ giúp thường xuyên như: hỗ trợ xây dựng và sửa chữa nhà ở,
cấp thẻ bảo hiểm miễn phí, thẻ y tế và những hỗ trợ khác.
Ở khu vực nông thôn, do thiên tai xảy ra cuối năm 2009 gây thiệt hại nặng về người
và tài sản; đồng thời ảnh hưởng lớn đến sản xuất và đời sống dân cư nên trong 3 tháng đầu
năm 2010, cả nước có 236,1 nghìn lượt hộ với 934 nghìn lượt nhân khẩu thiếu đói. Tình
trạng thiếu đói tập trung chủ yếu ở các tỉnh vùng Trung du và miền núi phía Bắc, vùng Bắc
Trung Bộ và duyên hải miền Trung và vùng Tây Nguyên. Để giúp đỡ đồng bào khắc phục
thiếu đói, từ đầu năm, Chính phủ và chính quyền các cấp, các ngành, các tổ chức cá nhân
trong nước và quốc tế đã hỗ trợ các hộ thiếu đói 12,5 nghìn tấn lương thực và 4,6 tỷ đồng.
Trong lĩnh vực lao động, đã tạo việc làm cho 323 .500 người, trong đó xuất khẩu lao động là
16.850 người. Riêng tháng 3/2010 ước tính tạo việc làm đã tạo khoảng 123.500 người, cao
hơn 2 tháng đầu năm, xuất khẩu lao động đạt khoảng 4.876 người…
Bên cạnh những kết quả quan trọng nêu trên, tình hình kinh tế - xã hội trong thời
gian này vẫn còn những tồn tại, hạn chế, nếu không tích cực tìm các giải pháp khắc phục có
hiệu quả thì sẽ ảnh hưởng rất lớn đến việc thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế- xã hội
trong các năm tiếp theo. Đặc biệt là các yếu tố do tác động từ phục hồi kinh tế, lạm phát và
suốt là huy động tối đa các nguồn lực trong và ngoài nước nhằm gia tăng quy mô phát triển
khu vực dịch vụ thương mại theo hướng công nghiệp hóa - hiện đại hóa; đồng thời tạo ra sự
thay đổi nhanh chóng về chất, tăng tỷ trọng các ngành dịch vụ - thương mại trong cơ cấu
kinh tế.
Ngoài việc tập trung đẩy nhanh quá trình công nghiệp hóa - hiện đại hóa các ngành, lĩnh
vực kinh tế chủ yếu nêu trên, nước ta cũng đã triển khai các chương trình hiện đại hóa các
lĩnh vực kinh tế - xã hội khác, như đổi mới cơ chế, chính sách, khuyến khích và tạo điều
kiện phát triển kinh tế tư nhân; đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả kinh tế tập thể; đổi
mới và nâng cao chất lượng hệ thống chính trị ở cơ sở xã, phường, thị trấn nhằm tạo sự
chuyển biến mạnh mẽ, đồng bộ góp phần thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hóa –
hiện đại hóa của đất nước.
3. Quan điểm và chủ trương của Đảng về phát huy nguồn nhân lực trong sự nghiệp
công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước
Trong tiến trình của các cuộc cải biến cách mạng xã hội theo hướng tiến bộ, con
người luôn là mục tiêu, đồng thời là động lực của tiến trình đó. Như vậy vai trò của nhân tố
con người được xem như chủ thể của toàn bộ tiến trình cách mạng. Quan niệm này xuất
phát từ một nguyên lý căn bản của chủ nghĩa Marx : “Con người là chủ thể của các quan hệ
xã hội”.
Cách mạng xã hội chủ nghĩa là cuộc cách mạng do con người, vì con người. Chính vì
mục tiêu cao cả của cuộc cách mạng đó mà khi hình dung trên những nét đại thể về xã hội
tương lai. Marx và Engels đã đặt con người vào vị trí trung tâm. Con người là chủ thể xây
dựng, đồng thời là kết quả của sự phát triển xã hội đó.
Công cuộc đổi mới theo định hướng xã hội chủ nghĩa hiện nay ở nước ta do Đảng
Cộng sản Việt Nam khởi xướng cũng là nhằm đạt tới mục tiêu cao cả trên. Để đạt tới mục
tiêu đó, nhiệm vụ trung tâm của thời kỳ quá độ là thực hiện thành công sự nghiệp công
nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước. Tức là phải làm sao phát huy vai trò tích cực của con
người Việt Nam cho sự nghiệp công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước. Điều đó có nghĩa
là phải tìm ra những giải pháp tốt nhất nhằm phát huy nhân tố con người – chủ thể của toàn
bộ tiến trình đó. Nhận thức được tầm quan trọng của nhân tố đó, trong các Nghị quyết Ban
chấp hành trung ương Đảng khóa VII, VIII, IX, X, Đảng ta luôn đánh giá cao sự phát huy
1. Thực trạng nguồn nhân lực
Nhận thức về nguồn nhân lực của Việt Nam đang còn có những ý kiến khác nhau.
Trên phương tiện thông tin đại chúng, người ta thường nói đến thế mạnh của Việt Nam là
nguồn nhân công rẻ mạt và kêu gọi các nhà đầu tư hãy đầu tư vào Việt Nam vì Việt Nam có
nguồn nhân công rẻ mạt. Tại sao lại nói như vậy? Một số người chưa đánh giá đúng về
nguồn nhân lực của Việt Nam. Quan điểm chỉ đạo về vấn đề này cũng chưa rõ ràng. Khả
năng để tổ chức khai thác nguồn nhân lực còn bất cập. Vì vậy, để nghiên cứu nó, phải tìm
hiểu xem nguồn nhân lực ở Việt Nam xuất phát từ đâu và đang ở trong tình trạng nào?
a) Nguồn nhân lực từ nông dân
Tính đến năm 2007, số dân của cả nước là 84,156 triệu người, trong đó, nông dân
chiếm khoảng hơn 61 triệu 433 nghìn người, bằng khoảng 73% dân số của cả nước. Số liệu
trên đây phản ánh một thực tế là nông dân nước ta chiếm tỷ lệ cao về lực lượng lao động xã
hội. Theo các nguồn số liệu mà nhóm chúng tôi thống kê được, đến năm 2007, cả nước có
khoảng 113.700 trang trại, 7.240 hợp tác xã nông, lâm nghiệp, thủy sản; có 217 làng nghề
và 40% sản phẩm từ các ngành, nghề của nông dân được xuất khẩu đến hơn 100 nước. Như
vậy, so với trước đây, nông thôn nước ta đã có những chuyển biến tích cực.
Tuy nhiên, nguồn nhân lực trong nông dân ở nước ta vẫn chưa được khai thác, chưa
được tổ chức, vẫn bị bỏ mặc và từ bỏ mặc đã dẫn đến sản xuất tự phát, manh mún. Người
nông dân chẳng có ai dạy nghề trồng lúa. Họ đều tự làm, đến lượt con cháu họ cũng tự làm.
Có người nói rằng, nghề trồng lúa là nghề dễ nhất, không cần phải hướng dẫn cũng có thể
làm được. ở các nước phát triển, họ không nghĩ như vậy. Mọi người dân trong làng đều
được hướng dẫn tỉ mỉ về nghề trồng lúa trước khi lội xuống ruộng. Nhìn chung, hiện có tới
90% lao động nông, lâm, ngư nghiệp và những cán bộ quản lý nông thôn chưa được đào tạo.
Điều này phản ánh chất lượng nguồn nhân lực trong nông dân còn rất yếu kém. Sự yếu kém
này đẫ dẫn đến tình trạng sản xuất nông nghiệp nước ta vẫn còn đang trong tình trạng sản
xuất nhỏ, manh mún, sản xuất theo kiểu truyền thống, hiệu quả sản xuất thấp. Việc liên kết
"bốn nhà" (nhà nước, nhà nông, nhà khoa học, nhà doanh nghiệp) chỉ là hình thức.
Tình trạng đất nông nghiệp ngày càng thu hẹp, làm cho một bộ phận lao động ở nông
thôn dôi ra, không có việc làm. Từ năm 2000 đến năm 2007, mỗi năm nhà nước thu hồi
khoảng 72 nghìn ha đất nông nghiệp để phát triển công nghiệp, xây dựng đô thị và rơi vào
40%. Sự già đi và ít đi của đội ngũ công nhân Việt Nam đã thấy xuất hiện. Với tình hình
này, công nhân khó có thể đóng vai trò chủ yếu trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại
hóa đất nước. Về mặt chính trị, thực chất, công nhân Việt Nam chưa có địa vị bằng trí thức,
công chức, viên chức, rất khó vươn lên vị trí chủ đạo trong đời sống xã hội và trong sản
xuất, kinh doanh.
Nguyên nhân dẫn đến tình trạng trên là do sự quan tâm chưa đầy đủ và chưa có chính
sách có hiệu quả trong việc xây dựng giai cấp công nhân.
c) Nguồn nhân lực từ trí thức, công chức, viên chức
Nếu tính sinh viên đại học và cao đẳng trở lên được xem là trí thức, thì đội ngũ trí
thức Việt Nam trong những năm gần đây tăng nhanh. Riêng sinh viên đại học và cao đẳng
phát triển nhanh: năm 2000, cả nước có 899,5 nghìn người; năm 2002: 1.020,7 nghìn người;
năm 2003: 1.131 nghìn người; năm 2004: 1.319,8 nghìn người. Năm 2005: 1,387,1 nghìn
người; năm 2006 (mới tính sơ bộ: prel): 1.666, 2 nghìn người,… Cả nước đến năm 2007 có
14 nghìn tiến sĩ và tiến sĩ khoa học; 1.131 giáo sư; 5.253 phó giáo sư; 16 nghìn người có
trình độ thạc sĩ; 30 nghìn cán bộ hoạt động khoa học và công nghệ; 52.129 giảng viên đại
học, cao đẳng, trong đó có 49% của số 47.700 có trình độ thạc sĩ trở lên, gần 14 nghìn giáo
viên trung cấp chuyên nghiệp, 11.200 giáo viên dạy nghề và 925 nghìn giáo viên hệ phổ
thông; gần 9.000 tiến sĩ được điều tra, thì có khoảng 70% giữ chức vụ quản lý và 30% thực
sự làm chuyên môn. Đội ngũ trí thức Việt Nam ở nước ngoài, hiện có khoảng 300 nghìn
người trong tổng số gần 3 triệu Việt kiều, trong đó có khoảng 200 giáo sư, tiến sĩ đang
giảng dạy tại một số trường đại học trên thế giới. Số trường đại học tăng nhanh. Tính đến
đầu năm 2007, Việt Nam có 143 trường đại học, 178 trường cao đẳng, 285 trường trung cấp
chuyên nghiệp và 1.691 cơ sở đào tạo nghề. Cả nước hiện có 74 trường và khối trung học
phổ thông chuyên với tổng số 47,5 nghìn học sinh tại 63/64 tỉnh, thành phố trực thuộc trung
ương và 7 trường đại học chuyên. Tỷ lệ học sinh trung học phổ thông chuyên so với tổng
dân số của cả nước đạt 0,05%, còn chiếm rất thấp so với thế giới.
Bên cạnh nguồn nhân lực là trí thức trên đây, nguồn nhân lực là công chức, viên chức
(cũng xuất thân từ trí thức) công tác tại các ngành của đất nước cũng tăng nhanh: Tổng số
công chức, viên chức trong toàn ngành xuất bản là gần 5 nghìn người làm việc tại 54 nhà
xuất bản trong cả nước (trung ương 42, địa phương 12). Tổng số nhà báo của cả nước là 14
2007, kinh tế Việt Nam xếp thứ 91/178 nước được khảo sát.
Có thể rút ra mấy điểm về thực trạng nguồn nhân lực ở Việt Nam:
_ Nguồn nhân lực ở Việt Nam khá dồi dào, nhưng chưa được sự quan tâm đúng mức, chưa
được quy hoạch, chưa được khai thác, còn đào tạo thì nửa vời, nhiều người chưa được đào
tạo.
_ Chất lượng nguồn nhân lực chưa cao, dẫn đến tình trạng mâu thuẫn giữa lượng và chất.
_ Sự kết hợp, bổ sung, đan xen giữa nguồn nhân lực từ nông dân, công nhân, trí thức,…
chưa tốt, còn chia cắt, thiếu sự cộng lực để cùng nhau thực hiện mục tiêu chung là xây dựng
và bảo vệ đất nước.
2. Đánh giá vai trò nguồn nhân lực trong sự nghiệp công nghiệp hóa – hiện đại hóa
Công nghiệp hóa, hiện đại hóa đã và đang lôi cuốn, tác động đến tất cả các nước
cũng như đến tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội. Đối với nước ta, từ xuất phát điểm là
nền kinh tế tiểu nông, muốn thoát khỏi nghèo nàn lạc hậu và nhanh chóng đạt đến trình độ
của một nước phát triển theo mục tiêu "dân giàu, nước mạnh", tất yếu phải tiến hành thực
hiện sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa như là "một cuộc cách mạng toàn diện và sâu
sắc trong tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội". Đây cũng là nhiệm vụ trung tâm có tầm
quan trọng hàng đầu trong thời gian tới của cách mạng nước ta. Trong hàng loạt
phương thức và biện pháp để thực hiện sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, vấn đề xây
dựng và phát triển nguồn nhân lực kỹ thuật cho các khu công nghiệp là hết sức cần thiết và
có tính chiến lược lâu dài.
Ngày nay, không ai có thể phủ nhận vị trí, vai trò đặc biệt quan trọng của nguồn nhân
lực nói chung, nguồn nhân lực kỹ thuật nói riêng đối với sự nghiệp cách mạng và sự nghiệp
công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Bởi vì, nguồn nhân lực, nhất là nhân lực kỹ thuật
chính là lực lượng lao động đã, đang và sẽ tham gia đắc lực vào tiến trình công nghiệp hóa,
hiện đại hóa; là nguồn lực có ý nghĩa quyết định đối với các nguồn lực khác cũng như quyết
định sự thành bại của sự nghiệp cách mạng.
Sau gần 20 năm thực hiện sự nghiệp đổi mới, trên địa bàn cả nước ta nói chung
nguồn nhân lực kỹ thuật tại các khu công nghiệp đã khẳng định vai trò quan trọng trong việc
tạo ra khối lượng lớn sản phẩm hàng hóa lớn, phong phú và đa dạng, tạo tiền đề vững chắc
cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Xu thế thời đại, vấn đề toàn cầu hóa, nhất là
trí tuệ minh mẫn. Về vấn đề này, Việt Nam còn kém xa so với nhiều nước.
Ba là: Nhà nước xây dựng chiến lược nguồn nhân lực gắn với chiến lược phát triển kinh tế -
xã hội, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, hội nhập kinh tế quốc tế; xác định thật rõ
xây dựng nguồn nhân lực là trách nhiệm của các nhà hoạch định và tổ chức thực hiện chính
sách, trách nhiệm của cả hệ thống chính trị.
Bốn là: Chính phủ và các cơ quan chức năng của Chính phủ có biện pháp giải quyết hiệu
quả những vấn đề vừa cấp bách, vừa lâu dài của nguồn nhân lực, trong đó có vấn đề khai
thác, đào tạo, sử dụng nguồn nhân lực, tạo một chuyển biến thật sự mạnh mẽ trong việc khai
thác, đào tạo, sử dụng từ nguồn nhân lực trong công nhân, nông dân, trí thức, doanh nhân,
dịch vụ,…
Năm là: Nhà nước phải có kế hoạch phối hợp tạo nguồn nhân lực từ nông dân, công nhân,
trí thức; có kế hoạch khai thác, đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng các nguồn nhân lực cho đúng.
Sáu là: Không ngừng nâng cao trình độ học vấn. Hiện nay, nhìn chung, trình độ học vấn
bình quân của cả nước mới khoảng lớp 6/ đầu người (có người tính là lớp 7). Tỷ lệ biết chữ
mới đạt khoảng 93% (có người tính là 94 - 95%). Vì vậy, vấn đề đặt ra một cách gay gắt là
phải bằng mọi biện pháp và đầu tư để nâng cao trình độ học vấn của cả nước lên, bằng
không, sẽ ảnh hưởng rất nhiều đến phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội. Thực hiện toàn xã hội
học tập và làm việc.
Bảy là: Đảng và Nhà nước cần có chính sách rõ ràng, minh bạch, đúng đắn đối với việc việc
sử dụng, trọng dụng nhân tài, nhất là trọng dụng các nhà khoa học và chuyên gia thật sự có
tài năng cống hiến. Phải có sự phân biệt rành mạch giữa tài thật và tài giả, giữa những người
cơ hội và những người chân chính trong các cơ quan công quyền. Không giải quyết được
vấn đề này một cách rõ ràng, thì nhân tài của đất nước sẽ lại "rơi lả tả như lá mùa thu",
"vàng thau lẫn lộn", làm cho những người thật sự có tài năng không phát triển được, trong
khi đó, những người cơ hội, “ăn theo nói leo”, xu nịnh, bợ đỡ lại tồn tại trong các cơ quan
công quyền.
Tám là: Chính phủ cần có những quyết định đúng đắn về việc được phép đầu tư vào cái gì
trong nguồn nhân lực; cải thiện chính sách tiền tệ và tài chính, phát triển cơ sở hạ tầng, hiện
đại hóa giáo dục là những vấn đề quan trọng vào thời điểm hiện nay.
Chín là: Cải thiện thông tin về nguồn nhân lực theo hướng rộng rãi và dân chủ, làm cho mọi
làm được những điều kì diệu trong lịch sử và chắc chắn sẽ còn làm được nhiều điều kì diệu
hơn nữa trong tương lai, trong sự nghiệp công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước.