Đề tài: Phát triển nguồn nhân lực trong sự nghiệp công
nghiệp công nghiệp hóa và hiện đại hóa ở nước ta hiện nay.
A.CƠ SỞ LÝ THUYẾT:
I. Những khái niệm cơ bản về CNH, HĐH
Công nghiệp hóa trong một phạm vi hẹp thì là quá trình chuyển từ lao
động thủ công sang lao động thông qua máy móc.
Còn với quy mô một quốc gia thì công nghiệp hóa là quá trình chuyển từ
một nước nông nghiệp sang một nước công nghiệp
Tóm lại Công Nghiệp Hóa là quá trình chuyển đổi cơ bản toàn diện các hoạt
động sản xuất, kinh doanh, quản lý kinh tế, xã hội từ dựa vào lao động thủ
công là chính sang dựa vào lao động kết hợp cùng với phương tiện, phương
pháp công nghệ, kỹ thuật, tiên tiến hiện đại để tạo ra năng suất lao động cao
Công nghiệp 42%
Nông nghiệp 20%
Dịch vụ 38%
Hiện đại hóa là quá trình biến cái không hiện đại thành hiện đại hơn
Mục tiêu công nghiệp hóa ,hiện đại hóa thời kì đổi mới
Biến nước ta thành một nước công nghiệp có cơ sở vật chất kĩ thuật hiện
đại ,có cơ cấu kinh tế hợp lí ,quan hệ sản suất tiến bộ phù hợp với trình độ
phát triển của lực lượng sảng xuất ,mức sống vật chất và tinh thần cao,quốc
phòng an ninh vững chắc ,dân giàu nước mạnh xã hội công bằng dân chủ
văn minh.Đại hội X xác định mục tiêu đẩy mạnh công nghiệp hoa hiện đại
hóa gắn với phát triển kinh tế tri thức để sớm đưa nước ta ra khỏi tình trạng
kém phát triển ,tạo nền tảng để đến năm 2020 đưa nước ta thành một nước
công nghiệp hóa theo hướng hiện đại
Quan điểm công nghiệp hóa hiện đại hóa
Bước vào thời kì đổi mới trên cơ sở phân tích khoa học các điều kiện trong
nước và quốc tế ,Đảng ta nêu ra những quan điểm mới chỉ đạo quá trình thực
hiện công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước trong điều kiện mới.Những quan
điểm này được hội nghị trung ương khóa VII nêu ra và được phát triển bổ
sung qua đại hội VIII .IX .X :
lực để công nghiệp hóa được thực hiện bằng cơ chế kế hoạch hóa tập trung
của nhà nước,còn ở thời kì đổi mới được thực hiện chủ yếu bằng cơ chế thị
trường .Hội nhập kinh tế quốc tế mở rộng quan hệ kinh tế thu hút công nghệ
hiện đại nhằm học hỏi kinh nghiệm quản lí tiến tiến của thế giới … sớm đưa
nước ta ra khỏi tình trạng kém phát triển,
Ba là lấy phát huy nguồn lực con người là yếu tố cơ bản cho sự phát triển
nhanh và bền vững trong các yếu tố tham gia vào quá trình công nghiệp hóa
hiện đại hóa yếu tố con người luôn được coi là yếu tố cơ bản .Để tăng trưởng
kinh tế cần 5 yếu tố chủ yếu là :vốn, khoa học và công nghệ ,con người, cơ
cấu kinh tế,thể chế chính trị và quản lí nhà nước thì con người là yếu tố quan
trọng nhất.Công nghiệp hóa hiện đại hóa là sự nghiệp của toàn dân của mọi
thành phần kinh tế trong đó lực lượng cán bộ công nhân lành nghề giữ vai
trò đặc biệt quan trọng .Nguồn nhân lực cho công nghiệp hóa hiện đại hóa
đòi hỏi phải đủ số lượng cân đối về cơ cấu và trình độ có khả năng nắm bắt
và sử dụng các thành tựu khoa học và công nghệ tiến tiến của thế giới và có
khả năng sang tạo công nghệ mới.
Bốn là khoa học và công nghệ là nền tảng và động lực của công nghiệp hóa
và hiện đại hóa.Khoa học và công nghệ có vai trò quyết định đến tăng năng
suất lao động,giảm chi phí sản xuất ,nâng cao lợi thế cạnh tranh và tốc độ
phát triển kinh tế nói chung.Nước ta đi lên từ một nước xã hội chủ nghĩa với
nền kinh tế yếu kém muốn đẩy nhanh quá trình công nghiệp hóa hiện đại hóa
gắn liền với kinh tế tri thức thì phát triển khoa học và công nghệ là yêu cầu
tất yếu và bức xúc.phải đẩy mạnh việc chọn lọc nhập công nghệ nội sinh để
nhanh chóng đổi mới và nâng cao trình độ công nghệ nhất là công nghệ
thông tin ,công nghệ sinh học và công nghệ vật liệu mới.
Năm là phát triển nhanh ,hiệu quả và bề vững ,tăng trưởng kinh tế đi đôi với
thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội ,bảo vệ môi trường tự nhiên bảo tồn
đa dạng sinh học.xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta thực chất là nhằm
thực hiện mục tiêu dân giàu nước mạnh xã hội công bằng dân chủ văn
minh .Để thực hiện mục tiêu đó .trước hết kinh tế phải phát triển nhanh,hiệu
Đó có thể là những ngành mới như CNTT, các ngành công nghiệp,dịch vụ
mới dựa vào công nghệ cac,và cũng có thể là những ngành truyền thống
được cải tạo bằng khoa hoc, công nghệ.
Ví dụ: Ngành công nghiệp sản xuất ô tô thông minh không cần người lái
,nông nghiệp sử dung công nghệ sinh học ,tự động điều khiển ,hầu như
không có người lao động,ngành công nghiệp dệt may sử dụng internet để sản
xuất và cung cấp hang may mặc theo yêu cầu của khách hàng trên khắp thế
giới…
Một nước có thể được gọi là nền kinh tế tri thức khi :
- Có hơn 70% GDP đóng góp do ngành kinh tế tri thức
- Cơ cấu giá trị gia tăng có trên 70% giá trị do lao động trí óc mang lại.
- Cơ cấu lao động có hơn 70% là công nhân trí thức
- Cơ cấu tư bản trên 70% là tư bản con người.
Một số đặc điểm của kinh tế tri thức:
-Sự chuyển đổi cơ cấu kinh tế, ý thức đổi mới và công nghệ mới trở thành
chìa khóa cho việc tạo ra việc làm mới và nâng cao chất lượng cuộc sống.
nền kinh tế có tốc độ tăng trưởng cao, dịch chuyển cơ cấu nhanh
-Sản xuất công nghệ trở thành lọa hình sản xuất quan trọng nhất, tiên tiến
nhất. các doanh nghiệp đều có sản xuất công nghệ, trong đó khoa học và sản
xuất được thể chế hóa, không còn phân biệt giữa phòng thí nghiệm và công
xưởng.
-Ứng dụng CNTT được tiến hành rộng rãi trong mọi lĩnh vực, mạng thông
tin đa phương tiện đươc phủ khắp nước, nối hầu hết các tổ chức, gia đình.
-Dân chủ hóa đươc thúc đẩy. mọi người đều dễ dàng truy cập thông tin mà
mình cần.
-Xã hội học tập. Giáo dục phát triển. Đầu tư cho giáo dục và khoa học chiếm
tỷ lệ cao. Phát triển con người trở thành nhiệm vụ trọng tâm
-Tri thức trơ thành vốn quý nhất, nguồn nhân lực hàng đầu tạo tăng trưởng,
không như các nguồn vốn khác bị mất đi khi sử dụng, tri thức và thông tin
có thể được chia sẻ, tăng lên khi sư dụng và hầu như không tốn kém khi
tăng giá trị các mặt hàng nông - lâm - thủy sản.
-Coi trọng cả số lượng và chất lượng tăng trưởng kinh tế trong mỗi bước
phát triển của đất nước, ở từng vùng, từng địa phương, từng dự án kinh tế
- xã hội
Tăng trưởng kinh tế của Việt Nam chủ yếu vẫn là về số lượng, theo chiều
rộng, chất lượng tăng trưởng vẫn thấp.Kinh nghiệm lịch sử của nhiều nước
trên thế giới đã cho thấy, để đạt được mục tiêu trong dài hạn, cần có sự tăng
trưởng bền vững, mà muốn tăng trưởng bền vững thì tăng trưởng phải có
chất lượng.
Tăng trưởng của Việt Nam không chỉ chủ yếu theo chiều rộng mà cơ cấu
kinh tế còn lạc hậu, chuyển dịch cơ cấu kinh tế chậm, năng lực cạnh tranh
quốc gia chưa cao.
-Xây dựng cơ cấu kinh tế hiện đại và hợp lý theo ngành,lĩnh vực và lãnh
thổ
Xây dựng chương trình, mục tiêu chuyển dịch cơ cấu kinh tế cho phù hợp để
phát huy tiềm năng, thế mạnh của địa phương.
Cơ cấu kinh tế là tổng thể các bộ phận hợp thành cùng với vị trí, tỷ trọng và
quan hệ tương tác phù hợp giữa các bộ phận trong hẹ thống kinh tế quốc
dân. Cơ cấu kinh tế được xem xét dưới góc độ: cơ cấu ngành (công nghiệp,
nông nghiệp, dịch vụ) cơ cấu vùng (các vùng kinh tế theo lãnh thổ) và cơ
cấu thành phần kinh tế
Xây dựng cơ cấu kinh tế đươc gọi là tối ưu khi nó đáp ứng được yêu cầu
sau:
-Phản ánh được và đúng các quy luật khách quan, nhất là các quy luật kinh
tế và xu hướng vận động phát triển kinh tế -xã hội của đất nước
-Nông nghiệp phải giảm dần về tỷ trọng, công nghiệp và dịch vụ phải tăng
dần về tỷ trọng
-Phù hợp với xu hướng tiến bộ của khoa học và công nghệ đã và đang diên
ra như vũ bão trên thế giới
-Cho phép khai thác tối đa mọi tiềm năng của đát nước, của các ngành, các
hội, "Mà đặc điểm to nhất của ta trong thời kỳ quá độ là từ một nước nông
nghiệp lạc hậu tiến thẳng lên chủ nghĩa xã hội không phải kinh qua giai đoạn
phát triển tư bản chủ nghĩa. Do đó, chúng ta phải công nghiệp hóa, hiện đại
hóa nông nghiệp, nông thôn, mới tạo tiền đề vững chắc để thực hiện thắng
lợi sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Bởi nông nghiệp,
nông thôn là khu vực đông dân cư nhất, lại có trình độ phát triển nhìn chung
là thấp nhất so với các khu vực khác của nền kinh tế. Nông dân chiếm hơn
70% dân số và hơn 76% lực lượng lao động cả nước, đóng góp từ 25% -
27% GDP của cả nước...
Hơn thế nữa, Đảng ta coi đây là một nhiệm vụ hết sức quan trọng, còn vì
nông dân, nông thôn Việt Nam có ý nghĩa chiến lược trong sự nghiệp cách
mạng của đất nước trước đây và trong sự nghiệp đổi mới hiện nay. Khu vực
nông nghiệp, nông thôn hiện có tài nguyên lớn về đất đai và các tiềm năng
thiên nhiên khác: hơn 7 triệu ha đất canh tác, 10 triệu ha đất canh tác chưa
sử dụng; các mặt hàng xuất khẩu của Việt Nam chủ yếu là sản phẩm nông -
lâm - hải sản (như cà-phê, gạo, hạt tiêu...). Nông nghiệp, nông thôn còn giữ
vai trò chủ đạo trong cung cấp các nguồn nguyên, vật liệu cho phát triển
công nghiệp - dịch vụ.
Tiếp tục khuyến khích phát triển mạnh thêm du lịch sẽ giúp cho nông thôn
giải quyết hàng loạt vấn đề: tạo công ăn việc làm, nâng cao dân trí, phát triển
kết cấu hạ tầng nông thôn, từ đó, làm thay đổi cơ cấu kinh tế và lao động
trong nông thôn theo hướng tăng tỷ trọng dịch vụ, phát triển nông thôn văn
minh, hiện đại, phù hợp với sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất
nước.
Chuyển dịch kinh tế nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa lớn, gắn với
công nghiệp chế biến và thị trường; thực hiện cơ khí hóa, hiện đại hóa, thủy
lợi hóa, ứng dụng các thành tựu khoa học đưa vào sản xuất nhằm nâng cao
năng suất, chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh của nông sản hàng hóa
trên thị trường.
Chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tăng nhanh tỷ trọng giá trị sản phẩm
mại, du lịch, tài chính, ngân hàng... để trở thành những lĩnh vực kinh tế có
hàm lượng tri thức lớn. Với tính chất là ngành kinh tế tổng hợp mang tính
liên ngành, liên vùng và xã hội hóa cao, du lịch phát triển sẽ tạo nhiều công
ăn việc làm cho lao động nông thôn mà không cần phải đào tạo công phu, từ
đó góp phần từng bước nâng cao tích lũy và chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông
thôn. Khuyến khích phát triển mạnh thêm du lịch sẽ giúp cho nông thôn giải
quyết hàng loạt vấn đề: tạo công ăn việc làm, nâng cao dân trí, phát triển kết
cấu hạ tầng nông thôn, từ đó, làm thay đổi cơ cấu kinh tế và lao động trong
nông thôn theo hướng tăng tỷ trọng dịch vụ, phát triển nông thôn văn minh,
hiện đại phù hợp với sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Cần
tăng cường đầu tư cơ sở vật chất cho lĩnh vực du lịch ở các vùng nông thôn
có nhiều tiềm năng du lịch theo hướng khai thác các nguồn vốn trong nước,
ngoài nước, đặc biệt là vốn trong dân. Từ đó tạo ra những sản phẩm du lịch
đặc thù mang đậm bản sắc nông thôn Việt Nam (như du lịch đồng quê, du
lịch làng nghề, du lịch sinh thái, văn hóa và sông nước).Phục hồi và phát
triển các nghề truyền thống của làng quê Việt Nam, tạo ra những sản phẩm
phục vụ khách du lịch. Tuyên truyền sâu rộng trong nhân dân ý thức bảo vệ
và tôn tạo các di tích lịch sử, văn hóa dân tộc, từ đó quảng bá, giới thiệu
nhằm thu hút khách du lịch trên thế giới.Nâng cao ý thức của nhân dân ở các
vùng nông thôn trong việc bảo vệ môi trường sinh thái, làm đẹp quê hương,
bản làng, giữ gìn nếp văn hóa làng quê Việt Nam để tạo ra những sản phẩm
du lịch văn hóa làng quê, văn hóa lễ hội nông thôn Việt Nam. Đây chính là
nét đặc sắc rất hấp dẫn khách du lịch quốc tế. Gắn quy hoạch vùng du lịch
với quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội nói chung nhằm bảo đảm phát triển
du lịch và kinh tế bền vững.Cần có các đề án thiết thực về đào tạo nguồn
nhân lực cho ngành du lịch, sao cho để mỗi vùng quê, mỗi bản làng có đủ
năng lực phát triển du lịch, làm cho du lịch thật sự trở thành một ngành kinh
tế có hiệu quả của địa phương.
-Phát triển kinh tế vùng
Chúng ta phải có cơ chế giữa các vùng. Phát triển các vùng trong cả nước và