Con người và vấn đề phát triển nguồn nhân lực cho sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở nước ta trong giai đoạn hiện nay - Pdf 30

Website: Email : Tel (: 0918.775.368
I. PHÁT BIỂU VẤN ĐỀ
Trong lịch sử tư tưởng nhân loại đã từng tồn tại rất nhiều quan điểm khác nhau
xung quanh vấn đề nguồn gốc và bản chất con người. Trước C.Mác, vấn đề bản chất
con người chưa được giải đáp một cách khoa học. Khi hình thành quan niệm duy vật
về lịch sử, các nhà sáng lập chủ nghĩa Mác đã khẳng định vai trò cải tạo thế giới, làm
nên lịch sử của con người, con người không chỉ là chủ thể của hoạt động sản xuất vật
chất, đóng vai trò quyết định trong sự phát triển của lực lượng sản xuất, mà nó còn là
chủ thể của quá trình lịch sử, của tiến bộ xã hội.
Trong giai đoạn hiện nay, Công nghiệp hóa - hiện đại hóa (CNH – HĐH) đã và
đang lôi cuốn, tác động đến tất cả các nước cũng như đến tất cả các lĩnh vực của đời
sống xã hội. Đối với nước ta, từ xuất phát điểm là nền kinh tế tiểu nông, muốn thoát
khỏi nghèo nàn lạc hậu và nhanh chóng đạt đến trình độ của một nước phát triển theo
mục tiêu "dân giàu, nước mạnh", tất yếu phải tiến hành thực hiện sự nghiệp CNH -
HĐH như là "một cuộc cách mạng toàn diện và sâu sắc trong tất cả các lĩnh vực của
đời sống xã hội".
Việc đẩy mạnh công cuộc CNH - HĐH đất nước đòi hỏi chúng ta phải nhận thức
một cách sâu sắc đầy đủ những giá tị lớn lao và có ý nghĩa quyết định của nhân tố con
người chủ thể của mọi sáng tạo, mọi nguồn của cải vật chất và văn hoá tinh thần. Phải
có sự thay đổi sâu sắc cách nhìn, cách nghĩ, cách hành động của con người và coi việc
bồi dưỡng phát huy nhân tố con người Việt Nam hiện đại như một cuộc cách mạng.
Hơn nữa, với tinh tất yếu khách quan của sự nghiệp xây dựng đất nước theo định
hướng xã hội chủ nghĩa, CNH - HĐH đất nước và cách mạng con người phải được
nhận thức là hai mặt thống nhất, không thể tách rời của sự nghiệp xây dựng đó.
Đó cũng là lý do vì sao tôi chọn đề tài nghiên cứu “Con người và vấn đề
phát triển nguồn nhân lực cho sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở nước
ta trong giai đoạn hiện nay”.
Do kiến thức còn hạn chế về nhiều mặt nên bài viết không tránh khỏi những thiếu
xót. Em rất mong được sự đóng góp và bổ sung của TS. PHẠM VĂN SINH.
Em xin thành cảm ơn!
Nguyễn Thị Thanh Tú – Lớp Cao học 17P 1

dụng cũng như đào tạo. Vì thế nó chưa thực sự đáp ứng được những đòi hỏi và nhu
cầu của công cuộc CNH – HĐH đất nước trong giai đoạn hiện nay. Cụ thể:
Nguyễn Thị Thanh Tú – Lớp Cao học 17P 2
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
- Hạn chế về mặt chất lượng người lao động, sự bất hợp lý về phân công lao
động và những khó khăn trong phân bổ dân cư cũng không phải là nhỏ. Đại bộ phận
lao động nước ta chưa được đào tạo đầy đủ, số người đào tạo mới chỉ chiếm 10%, nền
kinh tế quốc dân còn thiếu nhiều lao động và cán bộ có tay nghề và trình độ kỹ thuật,
nghiệp vụ cao trong tổng số người lao động chỉ hơn 1,65% có trình độ cao đẳng trở
lên 30% (số liệu mới) tốt nghiệp phổ thông trung học, 50% chưa tốt nghiệp phổ thông
cơ sở. Mặt khác mặt bằng dân trí còn thấp, số năm đi học của mỗi người dân từ 7 tuổi
trở lên mới đạt bình quân 4,5 năm. Điều đáng kể lo ngại và đau đầu nhất của nhà
nước ta đó là nạn mù chữ, tới nay nước ta 8% dân số mù chữ, chưa phổ cập được giáo
dục tiểu học.
- Mặt khác người lao động Việt Nam còn hạn chế về thể lực, sự phát triển về
phương diện sinh lý và thế lực dường như còn chững lại, hơn nữa người lao động
nước ta nói chung văn hoá còn kém, lao động công nghiệp quen theo kiểu sản xuất
nhỏ và lao động giản đơn.
- Hạn chế trong việc phát huy nguồn lực con người, đề cao mặt xã hội, không
quan tâm đúng mức đến nhu cầu vật chất, tài năng cá nhân chưa được coi trọng.
- Đề cao quá mức tính giai cấp, không chú ý kế thừa những giá trị truyền thống
dân tộc. sự hiểu biết về tinh hoa văn hoá còn hạn chế. Điều đó gây ra những khó khăn
trong quá trình hội nhập quốc tế của nước ta hiện nay.
- Tình trạng quan liêu, tham nhũng trong bộ máy nhà nước, vi phạm quyền tự do
dân chủ của công dân. Cơ cấu đào tạo giữa các ngành, các bậc học chưa hợp lý, việc
đào tạo và sử dụng cán bộ còn nhiều bất cập.
Cùng với việc chuyển sang nền kinh tế thị trường thực trạng đội ngũ cán bộ tri
thức Việt Nam đặc biệt là tri thức cao đang đặt ra một vấn đề được giải quyết, sự già
hoá của đội ngũ trí thức, trong các ngành khoa học trọng yếu tuổi bình quân của tiến
sỹ là 52,8, phó tiến sỹ 48,1, giáo sư 59,5, phó giáo sư 56,4. Cấp viện trưởng là 55.

2. Nguyên tắc “phát huy tính năng động chủ quan”
Phát huy tính năng động chủ quan thể hiện rất phong phú, đa dạng trong đó một
số biểu hiện cơ bản của nó là:
Phải tôn trọng tri thức khoa học
Phải làm chủ tri thức khoa học và truyền bá tri thức khoa học vào quần chúng
để nó trở thành tri thức, niềm tin định hướng cho quần chúng hành động
Nguyễn Thị Thanh Tú – Lớp Cao học 17P 4
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Nhận thức được tầm quan trọng của khoa học trong bối cảnh phức tạp của thế
giới hiện nay, đối với cách mạng Việt Nam Đảng và Nhà nước ta khẳng định “ giáo
dục và đào tạo cùng với khoa học và công nghệ là quốc sách hàng đầu”. Định hướng
thì như vậy xong thực tế nền giáo dục ở nước ta mang nặng tính lý thuyết, xa rời thực
tế, học không đi đôi với hành, ngành giáo dục đào tạo ở nước ta hiện nay chưa thực
sự đáp ứng được yêu cầu phát triển mạnh nguồn nhân lực cả về chất lượng và số
lượng, trình độ khoa học công nghệ còn rất thấp kém, các ngành nghiên cứu KHCN
được đầu tư không nhiều, chính phủ chưa thực sự chú trọng và tạo nhiều ưu đãi đối
với các bộ phận, tổ chức phục vụ cho phát triển nguồn nhân lực . . . Đây là những
biểu hiện của việc chưa nhận thức đầy đủ nguyên tắc” phát huy tính năng động chủ
quan” bởi từ việc nhận thức được tầm quan trọng của nguyên tắc này đến việc hiện
thực hoá nó còn là cả một vấn đề lớn đặt ra đối với Việt Nam.
3. Nguyên lý về sự phát triển:
Phép biện chứng xây dựng nên khái niệm về sự phát triển, phát triển là sự biến
đổi từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp, từ kém hoàn thiện đến hoàn thiện hơn.
Động lực của sự phát triển là mâu thuẫn giữa các mặt đối lập bên trong sự vật, hiện
tượng
Thực tế ở Việt Nam cho thấy, cơ chế quản lý và sử dụng nhân công còn kém dẫn
tới thực trạng người phải làm trái ngành, trái nghề là rất phổ biến vì cuộc sống vì sự
tồn tại của bản thân mình và gia đình họ, chính sách tiền lương còn rất nhiều bất hợp
lý giữa các ngành dẫn đến nhiều tình trạng tiêu cực trong các ngành có thu nhập thấp,
đặc biệt là trong các cơ quan Nhà nước. Song với tâm lý của người Việt Nam là an


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status