Tiểu luận
Phân tích tình hình thị trường chứng khoán Việt Nam giai đoạn từ sau
khủng hoảng tài chính thế giới xảy ra đến nay
Chuyên đề kinh tế ( KT110) GVHD : Huỳnh Thị Cẩm Lý
Tiểu luận 1
Phân tích tình hình thị trường chứng khoán Việt Nam giai đoạn từ sau khủng hoảng tài chính
thế giới xảy ra đến nay 1
A.PHẦN GIỚI THIỆU 3
CHƯƠNG 1 : GIỚI THIỆU 3
1.1Lý do chọn đề tài 3
1.2 Mục tiêu nghiên cứu 4
1.2.1. Mục tiêu chung 4
1.2.2. Mục tiêu cụ thể 4
1.3. Phạm vi nghiên cứu 4
CHƯƠNG 2 : PHƯƠNG PHÁP LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 5
2.1 Phương pháp luận : Khung lý thuyết nghiên cứu 5
2.2. Phương pháp nghiên cứu 7
B. PHẦN NỘI DUNG 9
CHƯƠNG 1 : PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM
GIAI ĐOẠN TỪ 2008 -2010 9
1.1. Tình hình TTCK Việt Nam trong năm 2008 9
1.2. Tình hình của TTCK Việt Nam trong năm 2009 - 10/2010 13
CHƯƠNG 2 : PHÂN TÍCH CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN THỊ TRƯỜNG CHỨNG
KHOÁN VIỆT NAM GIAI ĐOẠN NÀY 18
2.1. Phân tích ảnh hưởng của tình hình thị trường thế giới tới TTCK Việt Nam 18
2.2 Phân tích ảnh hưởng của tình hình trong nước tới TTCK 19
2.2.1 Về phía Chính phủ 19
2.2.2 Về phía doanh nghiệp 21
CHƯƠNG 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN TTCK VIỆT NAM 22
3.1 Tồn tại và nguyên nhân cần khắc phục 22
3.2 Một số giải pháp khắc phục 22
trường đã được xác lập khi kết thúc phiên giao dịch ngày 20/6/2008 với 366,02 điểm.
Nhưng đến ngày 23/10/2008 thì chỉ số VN-Index đã chính thức phá đáy kỷ lục với
360,43 điểm. Vì thế đã gây thiệt hại không nhỏ đến sự ổn định và phát triển chung
SVTH : Bùi Thị Tố Anh trang 3
Chuyên đề kinh tế ( KT110) GVHD : Huỳnh Thị Cẩm Lý
của nền kinh tế Việt Nam. Hơn nữa, TTCK của một nước tăng trưởng cao, bền vững là
biểu hiện của nền kinh tế của quốc gia đó phát triển thịnh vượng, ổn định, và an toàn.
Cho nên để TTCK Việt Nam vượt qua những khó khăn do khủng hoảng tài chinh thế
giới và phát triển toàn diện , bền vững TTCK trong tương lai chúng ta phải nghiên cứu
những vấn đề ảnh hưởng đến sự suy giảm của TTCK để đưa ra các chính sách phát
triển thích hợp trong thời gian tới. Vì tầm quan trọng trên, cho nên rất cần thiết nghiên
cứu đề tài “Phân tích tình hình thị trường chứng khoán Việt Nam giai đoạn từ sau
khủng hoảng tài chính thế giới xảy ra đến nay”. Đó là lý do em chọn đề tài này.
1.2 Mục tiêu nghiên cứu .
1.2.1. Mục tiêu chung.
Phân tích tình hình TTCK Việt Nam từ sau khủng hoảng tài chính xảy ra
cho đến nay, từ đó đề xuất các giải pháp để phát triển TTCK Việt Nam trong thời gian
sắp tới.
1.2.2. Mục tiêu cụ thể.
− Phân tích thực trạng hoạt động của các công ty chứng khoán Việt Nam
giai đoạn sau khi khủng hoảng tài chính xảy ra cho đến nay
− Phân tích các nhân tố tác động đến các nhà đầu tư khi tham gia TTCK
Việt Nam trong thời gian này
− Đề ra các giải pháp để ổn định và phát triển lâu dài TTCK Việt Nam trong
tương lai.
1.3. Phạm vi nghiên cứu.
1.3.1 Phạm vi không gian (địa bàn nghiên cứu): Sở giao dịch chứng khoán TP
HCM và Hà Nội
1.3.2 Phạm vi thời gian (Giai đoạn hoặc thời điểm thực hiện nghiên cứu) :
Tuy cuộc khủng hoảng bắt đầu có những dấu hiệu xảy ra đầu tiên ở Mỹ năm
đây
3
1
Nguồn : Điều 6 , Luật Chứng khoán Việt Nam năm 2006
2
GS.TS. Lê Văn Tư , Thị Trường chứng khoán , NXB Thống Kê 2006,trang 3
3
Giáo trình Thị trường chứng khoán , Học viện tài chính (TS.Bạch Đức Hiền chủ biên),NXB Tài chính 2008,
trang 10
SVTH : Bùi Thị Tố Anh trang 5
Thị trường
tài chính
Thị trường tài chính
ngắn hạn (thị trường
tiền tệ )
Thị trường tài chính
dài hạn(thị trường
vốn)
Thị trường tín dụng
dài hạn
Thị trường cầm cố
Thị trường chứng
khoán
Chuyên đề kinh tế ( KT110) GVHD : Huỳnh Thị Cẩm Lý
Việc mua bán này được tiến hành ở thị trường sơ cấp khi người mua mua được chứng
khoán lần đầu từ những người phát hành, và ở những thị trường thứ cấp khi có sự mua
đi bán lại các chứng khoán đã được phát hành ở thị trường sơ cấp. Hình thái điển hình
của thị trường chứng khoán là Sở giao dịch chứng khoán (tiếng Anh gọi là Stock
Exchange). Tại Sở giao dịch chứng khoán, các lệnh mua và bán chứng khoán được
khớp để hình thành giá giao dịch.
tư chứng khoán, các trung gian tài chính
Các tổ chức có liên quan đến thị trường chứng khoán : Các tổ chức có
liên quan đến thị trường chứng khoán bao gồm: cơ quan quản lý Nhà nước,
Ủy ban chứng khoán nhà nước , sở giao dịch chứng khoán, hiệp hội các nhà
kinh doanh chứng khoán, tổ chức lưu ký và thanh toán bù trừ chứng khoán,
công ty dịch vụ máy tính chứng khoán, các tổ chức tài trợ chứng khoán,
công ty đánh giá hệ số tín nhiệm
6
2.1.4. Phân loại cơ bản của thị trường chứng khoán Việt Nam
Thị trường chứng khoán là nơi diễn ra các giao dịch, mua bán những sản
phẩm tài chính (cổ phiếu, trái phiếu, các khoản vay ngân hàng có kỳ hạn trên 1
năm). Sau đây là một số cách phân loại TTCK cơ bản
7
:
Căn cứ vào sự luân chuyển các nguồn vốn Thị trường chứng khoán được
chia thành thị trường sơ cấp và thị trường thứ cấp.
Thị trường sơ cấp : Thị trường sơ cấp là thị trường mua bán các chứng
khoán mới phát hành. Trên thị trường này, vốn từ nhà đầu tư sẽ được chuyển sang nhà
phát hành thông qua việc nhà đầu tư mua các chứng khoán mới phát hành.
Thị trường thứ cấp : Thị trường thứ cấp là nơi giao dịch các chứng khoán
đã được phát hành trên thị trường sơ cấp, đảm bảo tính thanh khoản cho các chứng
khoán đã phát hành.
Căn cứ vào phương thức hoạt động của thị trường : Thị trường chứng khoán
được phân thành thị trường tập trung (Sở giao dịch chứng khoán) và phi tập
trung (thị trường OTC).
Căn cứ vào hàng hoá trên thị trường : Thị trường chứng khoán cũng có thể
được phân thành các thị trường: thị trường cổ phiếu, thị trường trái phiếu,
thị trường các công cụ chứng khoán phái sinh.
2.2. Phương pháp nghiên cứu.
giao dịch
Giá trị
giao dịch
Khối
lượng
giao dịch
Giá trị
giao dịch
01/2008 174,864,030 14,376,842 53,745,319 5,291,595
02/2008 146,314,340 10,142,195 49,198,489 5,052,347
03/2008 223,139,990 11,976,758 92,655,351 8,786,939
04/2008 134,220,650 6,305,269 34,480,815 3,018,559
05/2008 55,709,080 2,540,146 32,584,681 1,965,380
06/2008 144,806,560 4,116,750 55,017,870 3,911,494
07/2008 338,160,070 11,222,269 24,970,588 1,087,627
08/2008 436,417,430 10,742,228 21,394,118 1,058,464
09/2008 407,724,760 10,054,494 26,796,182 1,106,669
10/2008 330,071,780 9,795,627 36,063,518 2,074,870
11/2008 279,659,430 7,679,753 28,994,447 1,603,564
12/2008 229,048,510 5,547,875 48,753,422 2,101,401
Bảng 1 : Thống kê khối lượng và giá trị giao dịch tai 2 sở giao dịch chứng
khoán Hồ Chí Minh và Hà Nội năm 2008
8
Nguyên nhân là do khởi đầu năm 2008 ,TTCK đã đón nhận nhiều thông tin bất lợi từ
chính sách tiền tệ của nhà nước nhằm khống ché lạm phát đang ở mức cao hai con số.
Mặt khác ,NHNN thực thi chính sách thắt chặt tiền tệ , rút tiền mặt khỏi lưu thông
khiến các NHTM thiếu tiền mặt buộc phải tăng lãi suất huy động vốn. TTCK lúc này
8
Nguồn số liệu : www.hnx.vn phần thống kê thị trường & www.hsx.vn phần thống kê giao dịch
SVTH : Bùi Thị Tố Anh trang 9
dàng và chạm đáy 367 điểm vào ngày 11/06/2008. Thống kê giao dịch cho thấy sức
cầu (mua) toàn thị trường 2 sàn HOSE và HASTC trong giai đoạn
15/5 - 15/6 chỉ đạt trung bình 140 tỷ đồng/ngày, mức thấp nhất từ năm 2006 đến nay.
Bước sang đầu tháng 9 thị trường lại tiếp tục chu kỳ giảm giá dài hạn, đặc biệt
chịu ảnh hưởng từ cuộc khủng hoảng tài chính của Mỹ đang lên đến đỉnh điểm.
HASTC lần đầu tiên giảm dưới mốc 100 điểm sau hơn 3 năm thành lập, đạt 97.6 vào
ngày 27/11, còn VN-Index thì gần chạm mốc 300 điểm đạt 303.54 vào hôm đó.
Hàng loạt tin tức xấu trong vòng 2 tuần về các ngân hàng lớn nhất nước Mỹ
làm chao đảo thị trường tài chính toàn cầu. Thị trường chứng khoán thế giới từ Mỹ,
Châu Âu, Nhật tới các nước Châu Á đều tụt dốc không phanh, và TTCK Việt Nam
cũng không ngoại lệ. Trước tình hình trên các nhà đầu tư đẩy mạnh việc bán ra các cổ
phiếu đang nắm dữ càng làm giá cổ phiếu bị tụt giảm
Chung tay với Chính phủ các nước trên thế giới nhằm ngăn đà suy thoái kinh
tế. NHNN cũng đã liên tục 5 lần cắt giảm lãi suất cơ bản từ 14%/năm còn 8.5% vào
chiều ngày 22/12/2008, Và trong giai đoạn này thị trường sẽ có xu hướng đi ngang,
do nhiều mã chứng khoán niêm yết có giá thị trường thấp hơn giá sổ sách đáng kể.
SVTH : Bùi Thị Tố Anh trang 12
Chuyên đề kinh tế ( KT110) GVHD : Huỳnh Thị Cẩm Lý
1.2. Tình hình của TTCK Việt Nam trong năm 2009 - 10/2010.
Mặc dù chịu ảnh hưởng rất lớn từ cuộc khủng hoảng tài chính thế giới ,nhưng
TTCK Việt Nam đã nhanh chóng tăng trưởng trở lại theo đà phục hồi kinh tế.Nền kinh
tế thế giới nói chung và nên kinh tế Việt Nam nói riêng đã thoát khỏi suy thoái và xác
lập đáy trong quý II năm 2009. năm 2009 là giai đoạn thị trường hồi phục TTCK.
HOSE HNX
Tháng
khối lượng
giao dịch
Giá trị
giao dịch
khối lượng
báo hiệu sự phục hồi của nên kinh tế thế giới.
Bảng 3: Các chỉ số CK cơ bản của Việt Nam và một số nước khác tháng 12/2009.)
Tất cả đều tác động tích cực đến nền kinh tế nước ta nói chung và thị trường chứng
khoán nói riêng . TTCK tăng trưởng rất tích cực và tăng mạnh trong 6 tháng cuối năm
2009
SVTH : Bùi Thị Tố Anh trang 14
Chuyên đề kinh tế ( KT110) GVHD : Huỳnh Thị Cẩm Lý
Giai đoạn 6 tháng cuối năm 2009 ,những chính sách tiền tệ của Nhà nước ban
hành giai đoạn trước giờ đây đa phát huy hiệu quả cao độ giúp cho nên kinh tế cả nước
đi lên. Đây là một thuận lợi để TTCK phục hồi và lấy lại đà tăng trưởng. Giá các loại
chứng khoán trên thị trường bắt đầu tăng gia trở lại làm giá trị của các phiên giao dịch
tăng đáng kể
Tất cả đều tác động một cách tích cực tới 2 chỉ số của TTCK Việt Nam là
VN-Index và HNX – Index . VN – Index Từ mốc thấp nhất 235 điểm tại thời điểm
cuối tháng 2/2009 Chỉ số VN-Index xác lập những đỉnh cao trên 600 trong năm này.
Hình 2: Sự tăng điểm của VN-index trong năm 2009.
SVTH : Bùi Thị Tố Anh trang 15
Chuyên đề kinh tế ( KT110) GVHD : Huỳnh Thị Cẩm Lý
Nếu tính từ 01/01/2009 đến 31/12/2009 VN-index tăng thêm 171,96 điểm từ
312,79 lên 494,77 tương đương với mức tăng 58% .Nếu tính từ đáy thấp nhất trong
năm thì thì VN-Index ở mốc 234,66 vào ngày 24/02/2009 và đỉnh cao nhất là 633,21
điểm vào ngày 23/10/2009 thì VN-Index đã tăng 2.69 lần.
Tương tự ớ sàn HASTC ,mức tăng trưởng của HNX-Index là 60,9% ,nếu so từ đáy
thấp nhất la 78,06 điểm lên đỉnh cao nhất trong năm là 218,38 thì HNX-index đã tăng
2,79 lần.
Hình 3: Diễn biến của HNX-Index trong năm 2009
Tổng kết chung trên cả 2 sàn HOSE và HASTC có trong 45 cổ phiếu có mức
tăng giá hơn 40% trong đó PVC tăng giá gấp đôi ,có 10 cổ phiếu có mức tăng mạnh và
ấn tượng nhất
Bước sang năm 2010 TTCK Việt Nam tiếp tục tăng trưởng mạnh hơn do thị
nghìn tài khoản,tăng 50% so với năm 2008.giá trị danh mục đầu tư của các nhà đầu tư
nước ngoài cuối 2009 là 6,6 tỷ USD so với năm 2008 là 5,1 tỷ USD đã tăng 1,5 tỷ
đồng.Điều đáng chú ý nhất của TTCK giai đoạn này là sự gia tăng rất ấn tượng về
khối lượng giao dịch và giá giao dịch.Nếu chỉ tính cả năm 2009 chưa tính 6 tháng
2010 thì đã có tới 16846 triệu chứng khoán được chuyển nhượng trên cả hai sàn giao
dịch tương ứng với giá trị giao dịch là hơn 630 nghìn tỷ đổng .So với năm 2008 ,khối
lượng giao dịch tăng 234,44%,giá trị giao dịch tăng 233,17%
Thị trường 6 tháng cuối năm theo nhiều chuyên gia nhận xét là thị trường sẽ tiếp tục
tăng trưởng cao hơn so với năm 2009 và hứa hẹn nhiều bất ngờ hơn nữa
SVTH : Bùi Thị Tố Anh trang 17
Chuyên đề kinh tế ( KT110) GVHD : Huỳnh Thị Cẩm Lý
CHƯƠNG 2 : PHÂN TÍCH CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN THỊ
TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM GIAI ĐOẠN NÀY.
2.1. Phân tích ảnh hưởng của tình hình thị trường thế giới tới TTCK Việt
Nam
Trong năm 2008 nền kinh tế nước ta đón nhận nhiều tin xấu từ nền kinh tế thế giới
điều này có ảnh hưởng đến nền kinh tế nói chung và TTCK nói riêng cụ thể là:
Ngày 11/07/2008 Giá dầu thô trên thế giới đạt mức cao kỉ lục 147.24$/thùng
nhiều chuyên gia dự báo rằng giá dầu có thể tăng 200$/thùng ,Chính phủ bỏ
tiền ra để bù lỗ cho giá xăng dầu nhưng do giá tăng quá cao ,ngân sách có hạn
nên đến ngày 17/07/2008 Chính phủ tăng giá xăng dầu lên 31,05% từ mức
14500 lên 19000.Hậu quả là VN-Index và HNX-Index giảm điểm liên tục 6
phiên sau đó.
Thêm một tin xấu vào kỳ nghỉ lễ 30/4 – 4/5, ngày 2/5 Tổ chức xếp hạng tín
dụng Standard & Poor (S&P) hạ triển vọng định mức tín nhiệm của Việt Nam
từ mức “ổn định” xuống mức “tiêu cực”.
Bước sang đầu tháng 9 thị trường lại tiếp tục chu kỳ giảm giá dài hạn, đặc biệt
chịu ảnh hưởng từ cuộc khủng hoảng tài chính của Mỹ đang lên đến đỉnh điểm.
HASTC lần đầu tiên giảm dưới mốc 100 điểm sau hơn 3 năm thành lập, đạt
97.6 vào ngày 27/11, còn VN-Index thì gần chạm mốc 300 điểm đạt 303.54 vào
Khởi đầu năm 2008 VN-Index đã đón nhiều thông tin bất lợi từ chính sách tiền tệ
của nhà nước nhằm khống chế lạm phát đang ở mức cao hai con số. do khởi nguồn từ:
- Dòng vốn ồ ạt đổ vào Việt Nam trong năm 2007
- Chính phủ lựa chọn ưu tiên đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng
- Mức tăng cơ sở tiền tệ
Thêm vào đó :
- Bong bóng nhập siêu hàng tiêu dùng
- Hoạt động đầu tư của các tập đoàn đầu tư kinh tế và tổng công ty đầu tư ra ngoài
ngành nghề kinh doanh chính đã khiến cho giá trị tài sản tăng vọt.
SVTH : Bùi Thị Tố Anh trang 19
Chuyên đề kinh tế ( KT110) GVHD : Huỳnh Thị Cẩm Lý
=> Tín dụng tăng trưởng nóng, lạm phát gia tăng, bong bóng bất động sản, nhập siêu
ngày càng cao.
Để đối phó với tình hình kinh tế vĩ mô ngày càng khó khăn, Chính phủ đã chuyển từ
hướng ưu tiên tốc độ tăng trưởng sang hướng ổn định kinh tế. Với gói 8 giải pháp của
Chính phủ công bố vào tháng 03/2008 đã phát huy tác dụng, tình hình kinh tế từng
bước ổn định.
Với các biện pháp mạnh nhằm kiềm chế lạm phát, NHNN đã rút tiền mặt khỏi
lưu thông, khiến các NHTM thiếu tiền mặt buộc phải đẩy lãi suất huy động vốn
lên cao. Thị trường cổ phiếu lúc này vẫn đang theo xu hướng xuống giá, lãi
suất cao khiến các nhà đầu tư rời bỏ thị trường, gửi tiền vào ngân hàng vừa có
lợi nhuận cao vừa an toàn.
Hai vấn đề nóng nhất của Việt Nam là lạm phát và nhập siêu vừa được hạ nhiệt thì
cuộc khủng hoảng địa ốc cho vay dưới chuẩn của Mỹ bùng phát, thổi bùng cơn khủng
hoảng tài chính toàn cầu.
Tâm lý lo sợ và bầy đàn đã làm trì trệ các hoạt động kinh tế, triển vọng kinh tế
của các nước công nghiệp phát triển liên tục được điều chỉnh theo hướng đi
xuống.
Với một nền kinh tế vừa mới gia nhập WTO được 2 năm, tăng trưởng kinh tế
dựa khoảng 60% vốn đầu tư, định hướng xuất khẩu…lại vừa trải qua lạm phát
Lợi nhuận doanh nghiệp tăng trưởng ấn tượng từ nhiều nguồn.Ngoài các yếu tố vĩ mô
nên trên thì yếu tố nội tại là kết quả kinh doanh của các doanh nghiệp mới là nhân tố
quan trọng giúp TTCK hồi phục mạnh mẽ.Hầu hết các công ty niêm yết đều công bố
kết quả kinh doanh trong năm 2008,2009 khá khả quan và thậm chí vượt kế hoạch đề
ra.thông tin
Các công ty chứng khoán tăng cường công cụ đòn bẩy tài chính cho khách hàng ,thậm
chí có công ty còn cho sử dụng đòn bẩy với tỉ lệ 1: 3,1:5…
Tất cả những yếu tố tích cực từ tình hình kinh tế thế giới và trong nước đã nêu
trên đã góp phần làm cho TTCK Việt Nam năm 2009 và 6 tháng đầu năm 2010
có một giai đoạn tăng trưởng rất ngoạn mục và ấn tượng.
SVTH : Bùi Thị Tố Anh trang 21
Chuyên đề kinh tế ( KT110) GVHD : Huỳnh Thị Cẩm Lý
CHƯƠNG 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN TTCK VIỆT NAM
3.1 Tồn tại và nguyên nhân cần khắc phục.
Trong những năm vừa qua TTCK Việt Nam đã khắc phục được những khó khăn để
tiếp tục hoàn thiện và phát triển .Tuy nhiên vẫn còn một số tồn tại cần khắc phục :
Hạ tầng kỹ thuật hiện nay không đồng đều ,cụ thể là phần mềm giao dịch giữa
các công ty chứng khoán thành viên còn rất khác nhau.Sự không tương thích ,thiếu
đồng bộ về công nghệ thong tin giữa các công ty thành viên là rào cản lớn nhất đối
với việc áp dụng hình thức giao dịch trực tuyến với SGDCK.TP.HCM hiện nay.
Việc thực thi pháp luật về sử lý vi phạm pháp luật về CK và TTCK hiện nay
vẫn còn thấp xuất phát từ nguyên nhân như thiếu thẩm quyền của cơ quan thanh
tra CK,tính độc lập chưa cao.chưa có sự phối hợp chặt chẽ giữa các đơn vị thuộc
UBCKNN.
Hệ thống giám sát thị trường hiện nay còn có nhiều khuyết điểm như giám sát
còn rất thủ công ,khiến hoạt động thanh tra ,điều tra gặp nhiều khó khăn.
Nhiều công ty chứng khoán thành viên còn thực hiện hành vi xé rào ,lách luật
Một hạn chế nữa của TTCK Việt Nam đó là vấn đề công bố thông tin vẫn còn
nhiều doanh nghiệp công bố thông tin sai sự thật hay phao tin đồn nhảm gây bất
lợi cho TTCK .Ví dụ trường hợp của công ty bông Bạch Tuyết công ty này kinh
1.Kết luận.
Sự phát triển của TTCK có ý nghĩa rất quan trọng với sự phát triển kinh tế của nước
ta.Trước tình hình chỉ số VN – Index biến động như hiện nay, Chính phủ cần đề ra và
thực hiện nhiều giải pháp để quản lý chặt chẽ hơn trước các biến động của nền kinh tế
trong nước nói riêng và kinh tế thế giới nói chung. Từ đó có những biện pháp giúp đỡ
cho các nhà đầu tư và các doanh nghiệp phát triển bền vững. Và việc nghiện cứu tình
hình TTCK có rất nhiều ý nghĩa và lợi ích thiết thiết thực. Sau 10 năm hoạt động nói
chung và sau những thăng trầm, biến cố do cuộc khủng hoảng kinh tế nói riêng đã
mang lại cho TTCK Việt Nam nhiều kinh nghiệm và bài học quý báu trong việc đối
phó với khủng hoảng cũng như trong việc xây dựng , phát triển TTCK, điều này rất
có giá trị trong những năm hoạt động tiếp theo của TTCK Việt Nam.Trong thời gian
qua mặc dù gặp nhiều khó hăn nhưng TTCK đã làm được rất nhiều việc và có một
diện mạo mới rất khác thời kì đầu. Dù còn nhiều điểm cần hoàn thiện ,nhiều thách
thức, khó khăn phía trước nhưng TTCK Việt Nam hiện tại có thể hoàn toàn tự tin bước
vào một tương lai tươi sáng.Để bức tranh thị trường chứng khoán Việt Nam sau khi
hội nhập WTO sẽ vô cùng sinh động, phát triển,ổn định và vững chắc
2.Kiến nghị
TTCK với vai trò là kênh huy động vốn chủ yếu cho nền kinh tế, vì vậy việc tạo
lập và phát triển TTCK là rất cần thiết. Vậy để TTCK phát triển nhanh và bền vững,
riêng cá nhân tôi xin đưa ra một số kiến nghị như sau:.
Về công nghệ thông tin : Cần nâng cấp hệ thống cơ sở hạ tầng kỹ thuật, đặc
biệt là hệ thống công nghệ thông tin của các TTGD và các Công ty Chứng khoán.Xây
SVTH : Bùi Thị Tố Anh trang 24
Chuyên đề kinh tế ( KT110) GVHD : Huỳnh Thị Cẩm Lý
dựng một quy trình ,quy chuẩn về công nghệ thông tin đối với các lĩnh vực liên quan
tới giao dịch , đăng ký , lưu ký , bù trừ , thanh toán ,kiểm tra ,giám sát và quản lý
Về công bố thông tin : cần nâng cao cả về chất lượng và số lượng Cần nâng
cao vai trò của kiểm toán đối với TTCK, từ đó đưa ra được báo cáo tài chính đầy đủ,
trung thực và cung cấp được cho các cổ đông những thông tin xác thực nhất về tình
hình tài chính của công ty để có sự quyết định đầu tư hợp lý.