Phân tích thực trạng tình hình thị trường chứng khoán Việt Nam năm 2009 - Pdf 26

B
B


C
C
Ô
Ô
N
N
G
G
T
T
H
H
Ư
Ư
Ơ
Ơ
N
N
G
G
T
T
R
R
Ư
Ư


H
I
I


P
P
T
T
P
P
H
H
C
C
M
M
K
K
H
H
O
O
A
A
Q
Q
U
U


=
=
=
=
=
=
=
=
=
=
=
=
=
=
=
=
=
=
=
=
=






=
=
=

D
:
:
T
T
.
.
S
S
N
N
G
G
U
U
Y
Y


N
N
M
M
I
I
N
N
H
H
T

LỜI MỞ ĐẦU
Chương 1: TỔNG QUAN VỀ MÔN HỌC “QUẢN TRỊ TÀI CHÍNH”........................................................ 1
1.1 Khái niệm về “Quản trị tài chính” và một số khái niệm khác có liên quan đến vấn
đề Tài chính..................................................................................................................... 1
1.1.1 Khái niệm về “Quản trị tài chính” ..................................................................... 1
1.1.2 Một số khái niệm khác có liên quan đến vấn đề Tài chính................................ 1
1.2 Khái niệm về “Thị trường Tài chính” và phân loại “Thị trường Tài chính” ............ 2
1.2.1 Khái niệm về “Thị trường Tài chính”................................................................ 2
1.2.2 Phân loại “Thị trường Tài chính”....................................................................... 2
1.3 Vai trò của nhà “Quản trị tài chính” ......................................................................... 2
1.3.1 Nhà “Quản trị tài chính” là ai?........................................................................... 2
1.3.2 Vai trò của nhà “Quản trị tài chính” .................................................................. 3
1.4 Tầm quan trọng của “Quản trị tài chính”.................................................................. 4
Chương 2: PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM NĂM 2009 ............ 5
2.1 Khái niệm về thị trường chứng khoán và phân loại thị trường chứng khoán ........... 5
2.1.1 Khái niệm........................................................................................................... 5
2.1.2 Phân loại............................................................................................................. 5
2.2 Phân tích tình hình thị trường chứng khoán Việt Nam năm 2009 ............................ 6
2.2.1 Những tác động ảnh hưởng đến thị trường chứng khoán năm 2009 ................ 6
2.2.2 Tình hình thị trường chứng khoán Việt Nam năm 2009.................................... 9
2.2.2.1 Một số đặc điểm của TTCK năm 2009 ....................................................... 9
2.2.2.2 Tình hình thị trường chứng khoán Việt Nam năm 2009........................... 12
2.2.2.3 Một số thành tựu của TTCK Việt Nam năm 2009.................................... 17
2.2.2.4 Những hạn chế của thị trường chứng khoán Việt Nam ............................ 19
2.2.3 Xu hướng năm 2010 ........................................................................................ 20
2.3 Một số giải pháp...................................................................................................... 23
2.2.1 Về phía Nhà nước và Chính phủ...................................................................... 23
2.2.2 Về phía Nhà đầu tư .......................................................................................... 28
2.2.3 Về phía các công ty chứng khoán, các nhà phát hành ..................................... 28
Chương 3: MỘT SỐ NHẬN XÉT, ĐÁNH GIÁ VỀ MÔN HỌC “QUẢN TRỊ TÀI CHÍNH”.................... 30

“Quản trị tài chính” có nhiều khái niệm khác nhau:
“Quản trị tài chính” là một môn khoa học quản trị nghiên cứu các mối quan
hệ tài chính phát sinh trong quá trình sản xuất – kinh doanh của một doanh nghiệp
hay một tổ chức.
“Quản trị tài chính” là quản trị nguồn vốn (tiền mặt và vốn tài sản) và các
quan hệ tài chính phát sinh (khoản phải thu, khoản phải trả), nhằm tối đa hóa lợi
nhuận của doanh nghiệp.
1.1.2 Một số khái niệm khác có liên quan đến vấn đề Tài chính
Tài sản thực: bao gồm
Tài sản hữu hình: là những tư liệu lao động chủ yếu có hình thái vật chất
thỏa mãn các tiêu chuẩn của tài sản hữu hình. Nó tham gia vào chu kỳ kinh doanh
nhưng vẫn giữ nguyên hình thái vật chất ban đầu như: nhà xưởng, vật kiến trúc,
máy móc thiết bị, đất đai…
Tài sản vô hình: là những tài sản không có hình thái vật chất, nó thể hiện
một lượng giá trị đã được đầu tư thỏa mãn các tiêu chuẩn của tài sản vô hình. Nó
tham gia vào chu kỳ kinh doanh nhiều như: chi phí quyền sử dụng đất, chi phí
quyền phát hành, bằng phát minh, bằng sáng chế, bản quyền tác giả, thương
hiệu,…
Tài sản thuê tài chính: là những tài sản nà doanh nghiệp thuê của công ty
cho thuê tài chính. Khi kết thúc thời hạn thuê, bên thuê được quyền mua lại tài sản
đã thuê hoặc tiếp tục thuê theo các điều kiện đã thỏa thuận trong hợp đồng thuê tài
chính.
Trường ĐHCN Tp.HCM Chuyên đề môn học
SVTH: Đỗ Thị Dung Trang 2
Tài sản tài chính: bao gồm các loại chứng khoán ( cổ phiếu, trái phiếu),
các loại thương phiếu, tín phiếu, phiếu hẹn thanh toán được doanh nghiệp đầu tư
bằng vốn nhàn rỗi của mình. Các loại tài sản này thường được giao dịch trên thị
trường tài chính.
1.2 Khái niệm về “Thị trường Tài chính” và phân loại “Thị trường Tài
chính”

Nhà “Quản trị tài chính” có bốn vai trò sau:
Thứ nhất: Lập dự toán và kế hoạch tài chính: Nhà “Quản trị tài chính”
cần hợp tác với các nhà quản trị khác để lên kế hoạch và dự toán chi phí cho các
tình huống tương lai của doanh nghiệp.
Thứ hai: Quyết định đầu tư và tài trợ: Khi doanh nghiệp thành công sẽ đòi
hỏi phải đầu tư thêm tài sản, thiết bị máy móc và nguồn dự trữ. Nhà “Quản trị tài
chính” cần quyết định các loại tài sản có và các phương pháp tài trợ tốt nhất cho
đầu tư.
Thứ ba: Kiểm soát mọi hoạt động: Nhà “Quản trị tài chính” cần hợp tác
với các nhà quản trị khác để đảm bảo cho hoạt động của doanh nghiệp có hiệu
quả. Mọi quyết định đều có liên quan đến vấn đề tài chính vì thế cần được tính
toán cho đầy đủ.
Thứ tư: Quan hệ với thị trường vốn: Nhà “Quản trị tài chính” có quan hệ
mật thiết với thị trường tiền tệ và thị trường vốn vì mỗi doanh nghiệp đều ảnh
hưởng bởi thị trường tài chính chung – nơi có thể tìm kiếm được nguồn vốn, nơi
mà cổ phiếu của công ty đang được giao dịch, nơi mà các nhà đầu tư có thể tìm
kiếm được các cơ hội đầu tư.
Trường ĐHCN Tp.HCM Chuyên đề môn học
SVTH: Đỗ Thị Dung Trang 4
1.4 Tầm quan trọng của “Quản trị tài chính”
“Quản trị tài chính” có tầm quan trọng rất lớn đối với mỗi doanh nghiệp
hay tổ chức. “Quản trị tài chính” có trách nhiệm trực tiếp đối với mọi hoạt động
sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Vì thế hiện nay các doanh nghiệp đều tập
trung nhiều vào các kế hoạch tài chính. Do đó cũng làm tăng thêm tầm quan trọng
của bộ phận Tài chính trong Doanh nghiệp.
Như vậy “Quản trị tài chính” rất cần thiết và cũng rất quan trọng đối với
không chỉ riêng các Doanh nghiệp mà là đối với mọi hình thức kinh doanh kể cả
ngân hàng và các tổ chức tài chính cũng như các ngành công nghiệp. Và tùy thuộc
vào từng lĩnh vực mà nhà “Quản trị tài chính” có thể sử dụng những kiến thức
về Tài chính liên quan đạt được mục tiêu của Doanh nghiệp.

• Thị trường thứ cấp: là thị trường mua bán các loại chứng khoán
đang tồn tại giữa các nhà đầu tư.
2.2 Phân tích tình hình thị trường chứng khoán Việt Nam năm 2009
2.2.1 Những tác động ảnh hưởng đến thị trường chứng khoán năm 2009
• Biến động chính sách, cụ thể là các điều chỉnh trong chính sách lãi suất
và tỷ giá của Ngân hàng Nhà nước
Thị trường chứng khoán phục hồi trong thời gian qua là do yếu tố thúc đẩy
chủ yếu đến từ nguồn tiền khá lớn của hệ thống ngân hàng. Với chính sách nới
lỏng tiền tệ, duy trì lãi suất cơ bản ở mức thấp (7%/năm) kể từ đầu năm để kích
thích tăng trưởng kinh tế, tăng trưởng tín dụng đến hết tháng 11 đã là 34,5%, vượt
mốc 30% do Ngân hàng Nhà nước đề ra. Tương quan giữa tăng trưởng tín dụng và
đà phục hồi của thị trường chứng khoán được thể hiện khá rõ nét khi tỷ lệ tương
quan giữa hai chỉ số này lên tới 94% trong thời gian qua. Thị trường bắt đầu có
dấu hiệu điều chỉnh giảm khi tăng trưởng tín dụng tăng chậm lại và tín dụng được
kiểm soát chặt chẽ hơn kể từ cuối tháng 10. Với nhận định lãi suất cơ bản có khả
năng tiếp tục tăng vào đầu năm sau và chính sách tiền tệ sẽ từng bước thắt chặt
hơn để kiểm soát nguy cơ lạm phát, chúng tôi cho rằng, thị trường chứng khoán sẽ
chịu nhiều tác động từ chính sách tiền tệ.
Trong giai đoạn hiện tại, những tín hiệu quan trọng để nhận biết những thay
đổi trên thị trường trong thời gian tới bao gồm: lãi suất liên ngân hàng, lãi suất huy
động, tỷ giá liên ngân hàng và tỷ giá trên thị trường tự do. Một khi lãi suất bình ổn
và tỷ giá trở lại cân bằng, các rủi ro về thay đổi chính sách sẽ giảm bớt. Tuy vậy,
yếu tố hỗ trợ thị trường chứng khoán sẽ là kết quả kinh doanh quý IV/2009 của
các doanh nghiệp và dòng tiền từ các nhà đầu tư nước ngoài trong thời gian tới khi
những dự án cải cách của Chính phủ được thực hiện. Để nâng cao tính hấp dẫn của
thị trường vốn trong nước, Chính phủ đã nâng tỷ lệ sở hữu của nhà đầu tư nước
Trường ĐHCN Tp.HCM Chuyên đề môn học
SVTH: Đỗ Thị Dung Trang 7
ngoài tại các công ty đại chúng tối đa từ 30% lên 49% vốn điều lệ (Quyết định
55/2009/QĐ-TTg). Đối với các quỹ thành viên, sẽ không hạn chế tỷ lệ sở hữu của

ngân hàng. Chính đặc trưng này mà những thay đổi trong chính sách tiền tệ tác
động trực tiếp lên hoạt động của các doanh nghiệp trong nền kinh tế và trong
TTCK. Một điều cần đáng quan tâm chính là việc sử dụng nợ vay của các doanh
nghiệp Việt Nam chỉ dựa vào một nguồn tài trợ là ngân hàng, nên chỉ cần những
động thái hạn chế cho vay của hệ thống ngân hàng thì ngay lập tức tác động đến
nguồn vốn hoạt động sản xuất - kinh doanh của doanh nghiệp.

Tâm lí của các nhà đầu tư
Cái gì dựa trên tâm lý thì khi tâm lý thay đổi (tâm lý vốn là thứ dễ thay đổi
nhất) sẽ thay đổi theo. Mà tâm lí của các nhà đầu tư đang dẫn dắt thị trường. Tâm
lý thua lỗ của những nhà đầu tư thuộc “cửa dưới” đã tạo ra phản ứng dè chừng
nhất định. Khi hào hứng thì các nhà đầu tư có thể làm dậy lên làn sóng ảo cho thị
trường chứng khoán.

Tác động từ thị trường thế giới
TTCK thế giới với những tác động tiêu cực khi mà hàng loạt các sàn chứng
khoán hàng đầu thế giới phải “nghiêng ngả” bởi cơn bão khủng hoảng kinh tế, tài
chính của những nền kinh tế hàng đầu Thế giới như Mỹ, Nhật… Và do đó hàng
loạt các TTCK nhỏ ở nhiều quốc gia đang phát triển cũng bị ảnh hưởng tiêu cực
theo, Việt Nam cũng không ngoại lệ. Thận trọng và dè chừng là tâm lý chung của
giới đầu tư chứng khoán quốc tế nói chung và Việt Nam nói riêng.
Trường ĐHCN Tp.HCM Chuyên đề môn học
SVTH: Đỗ Thị Dung Trang 9
2.2.2 Tình hình thị trường chứng khoán Việt Nam năm 2009
2.2.2.1 Một số đặc điểm của TTCK năm 2009
• Hiện tượng cạnh tranh của Công ty chứng khoán (CTCK)
Năm 2009 chứng kiến sự đổi ngôi của CTCK trong cuộc chiến giành
giật thị phần, nhiều CTCK mới ra đời nhưng đã lọt vào Top 10 thị phần môi giới
như Kim Eng, VIS. Phân tích của báo chí cho thấy việc một số CTCK vươn lên vị
trí dẫn đầu, một phần cũng từ nguyên nhân các công ty này cho sử dụng đòn bẩy,

mức giảm 2,51 điểm (tương đương giảm 0,50%) còn 492,57 điểm. Tổng khối
lượng giao dịch toàn thị trường cũng giảm còn khoảng 50 triệu đơn vị, với giá trị
giao dịch đạt hơn 2.000 tỉ đồng. Đây là phiên điều chỉnh giảm đầu tiên của tuần
này. Tuần trước, VN-Index đã có trọn vẹn một tuần tăng điểm. Trong khi có nhiều
mã tăng trần trong các ngành thực phẩm, địa ốc, cao su... như DRC, KSH, MCV,
ITA, VNM, DIC... thì ngược lại cổ phiếu ngành ngân hàng phiên này quay đầu
giảm, trong đó STB giảm 600 đồng còn 24.200 đồng/CP, VCB giảm 1.000 đồng
còn 46.000 đồng/CP, EIB giảm 400 đồng còn 24.300 đồng/CP, CTG giảm 100
đồng còn 29.300 đồng/CP... Toàn thị trường có 68 mã tăng giá, 94 mã giảm giá và
38 mã đứng giá tham chiếu.
Trong phiên này nhóm cổ phiếu nhỏ như DIC, HLA, ITC, LSS, SC5, TS4...
được tranh mua với khối lượng lớn. Theo các chuyên gia chứng khoán, nhận định
các tổ chức đầu tư đang tăng mua vào nhóm này ngoài việc tận dụng mua vào các
cổ phiếu giá thấp thì cũng nhằm cố gắng làm tăng giá trị danh mục đầu tư.
Trường ĐHCN Tp.HCM Chuyên đề môn học
SVTH: Đỗ Thị Dung Trang 11
Tại sàn Hà Nội, chỉ số HNX-Index điều chỉnh giảm nhẹ 0,19 điểm (tương
đương giảm 0,12%) còn mức 161,78 điểm. Tổng khối lượng giao dịch đạt 26,6
triệu cổ phiếu; tương ứng tổng giá trị giao dịch là 889,3 tỷ đồng. Thị trường phiên
hôm nay có sự điều chỉnh nhẹ nhưng các chuyên gia thị trường tin rằng nhân tố
quan trọng giúp thị trường tiếp tục đi lên sẽ là đợt tham gia mạnh mẽ của các nhà
đầu tư cá nhân trong nước.
Theo Công ty chứng khoán SaigonBank Berjaya, sự lạc quan cho thị trường
là do các yếu tố sau:
- Thị trường đã tăng hơn 11% so với tuần trước đó nhưng tính cho toàn bộ
quý 4-2009 thì VN-Index đã mất hơn 24% trong khi các thị trường chứng khoán
trên thế giới tăng trung bình 10%. Như vậy, thị trường chứng khoán Việt Nam
đang có mức tăng thấp hơn so với thị trường chứng khoán chung. Với mức P/E (là
hệ số giữa thị giá một cổ phiếu và thu nhập mà nó mang lại) năm 2010 là 11 và
tăng trưởng EPS (thu nhập trên mỗi cổ phần) ước tính 15% thì thị trường chứng

Từ tháng 8 đến tháng 10, TTCK lại tiếp tục đợt tăng giá thứ hai đầy mạnh
mẽ với nhiều kỷ lục về giá trị và khối lượng giao dịch kỷ lục được xác lập. Ngày
22-10, TTCK vươn tới đỉnh điểm của đợt sóng thứ 2 là mức 624,10 điểm. Đây
cũng là mức cao nhất của thị trường sau 394 phiên giao dịch kể từ ngày 14-3-
2008. Trong khoảng thời gian này, thanh khoản liên tục đạt kỷ lục trên cả hai sàn.
Đối với sàn HOSE, phiên giao dịch ngày 23-10 được coi là "siêu thanh khoản" khi
lập kỷ lục cao nhất từ trước đến nay cả về khối lượng và giá trị giao dịch với hơn
136 triệu đơn vị được chuyển nhượng, tương ứng giá trị giao dịch lên đến 6,414
nghìn tỷ đồng; sàn HNX đạt kỷ lục với hơn 67,23 triệu cổ phiếu được chuyển
nhượng cùng 3,04 nghìn tỷ đồng được giải ngân. TTCK tăng trưởng mạnh mẽ,
Trường ĐHCN Tp.HCM Chuyên đề môn học
SVTH: Đỗ Thị Dung Trang 13
nằm ngoài dự đoán của giới chuyên gia và trở thành điểm sáng ấn tượng khi có tốc
độ phục hồi nhanh nhất châu Á.
Một dấu ấn khác của TTCK là sự phát triển mạnh mẽ về quy mô. Tính đến
tháng hết tháng 11-2009, đã có 430 cổ phiếu và chứng chỉ quỹ được niêm yết.
Tổng giá trị vốn hóa thị trường lên tới hơn 669 nghìn tỷ đồng (39 tỷ USD), tương
đương 55% GDP của năm 2008. Mức vốn hóa này tăng gần gấp 3 lần so với thời
điểm cuối năm 2008. Năm 2009 cũng đánh dấu sự lên sàn của hàng loạt doanh
nghiệp (DN) lớn như Eximbank, Bảo Việt, Vietcombank và Vietinbank... Sự góp
mặt của các “đại gia” này đồng nghĩa với việc nguồn cung trên thị trường ngày
càng đa dạng hơn. Trong đó, Vietcombank giao dịch 112,3 triệu cổ phiếu, là DN
có vốn hóa lớn nhất thị trường, với trên 56.000 tỷ đồng, gấp hơn 2 lần "quán quân"
trước đó là ACB (28.000 tỷ đồng). Trong khi đó, Bảo Việt (BVH) niêm yết toàn
bộ 573 triệu cổ phiếu và Vietinbank có 121,2 triệu cổ phiếu. Các “đại gia” này đều
chào sàn thành công, đáp ứng được mong đợi của NĐT. Giá cổ phiếu các doanh
nghiệp bảo hiểm và ngân hàng nhờ vậy đã tăng trong một thời gian khá dài và trở
thành những cổ phiếu "nóng" trên thị trường.
Ngày 24/6/2009, thị trường UPCoM chính thức được khai trương và đi vào
hoạt động với sự tham gia thị trường của 10 doanh nghiệp. Đến nay, sau 6 tháng đi

một giai đoạn thị trường phát triển bậc cao mang tính chuyên nghiệp.
Năm 2009 cũng để lại những ấn tượng mạnh mẽ về các dòng vốn vào - ra
thị trường. Các chuyên gia đều lên tiếng khẳng định: một trong những nguyên
nhân khiến thị trường "nóng" là do khối các công ty chứng khoán "tung" các đòn
bẩy tài chính hỗ trợ NĐT. Khảo sát tại các công ty chứng khoán mới hay, kể từ khi
chứng khoán hồi phục, nhằm gia tăng lợi nhuận, hầu hết công ty chứng khoán đều
phối hợp với một hay một vài đối tác tài chính để hỗ trợ vốn cho các NĐT. Tại

Trích đoạn Một số giải pháp
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status