Báo cáo thực tập
Thư viện trường cao đẳng
sư phạm sóc trăng
PHỤ LỤC
Trang
Lời giới thiệu: 2
I. Giới thiệu: 4
1. Giới thiệu trường Cao Đẳng Sư Phạm Sóc Trăng: 4
2. Giới thiệu thư viện trường Cao Đẳng Sư Phạm Sóc Trăng: 6
II. Nội dung: 7
1. Dán nhãn phân loại và mã vạch: 7
2. Biên mục tài liệu: 8
2.1 Giới thiệu về Marc 21: 8
2.2 Tìm hiểu về các thành phần trong Ilib: 10
2.3 Những khó khăn khi biên mục tài liệu: 15
3. Mã hóa tên sách: 20
4. Tóm tắt tài liệu: 20
5. Phân loại tài liệu: 20
III. Thuận lợi và khó khăn: 23
1. Thuận lợi: 23
2. Khó khăn: 23
IV. Cảm nhận về ngành thư viện: 24
1. Quan hệ của cán bộ thư viện với giáo viên và các dịch vụ giành cho giáo viên:
24
2. Quan hệ của cán bộ thư viện với học sinh và các dịch vụ giành cho học sinh:
25
3. Nhiệm vụ của thư viện: 26
4. Nhiệm vụ của người cán bộ thư viện: 26
5. Cảm nghĩ qua ba tuần thực tập: 26
V. Kết quả đạt được qua ba tuần thực tập: 30
VI. Đề xuất kiến nghị: 31
trường, bao gồm điểm số và khả năng học tập độc lập và tự mở rộng kiến thức.
Các chương trình Thư viện hiệu quả và mạnh mẽ sẽ dẫn đến kết quả học tập tốt
hơn bất kể điều kiện kinh tế xã hội hay là trình độ dân trí của người lớn tại cộng
đồng đó. Sự hợp tác, phối kết hợp giữa giáo viên và giáo viên thư viện có ảnh
hưởng sống còn đến việc học tập của học sinh, đặc biệt là về mặt chuẩn bị giáo
án môn học, việc bổ sung tài liệu của thư viện, việc cung cấp các cơ hội phát
triển nghề nghiệp cho giáo viên.
Chính vì vậy mà chúng em đã được thực tập tại trường Cao đẳng sư
phạm Sóc Trăng, Thư viên trường nằm trong hệ thống thư viện cao đẳng, đại
học để chúng em có thể học hỏi những kiến thức mới và có thể đem lí thuyết ra
thực hành
I. GIỚI THIỆU
Trường CĐSP Sóc Trăng được thành lập từ năm 1975 với tên trường là
Trung học sư phạm Hậu Giang. Đến năm 1992 khi chia tỉnh Hậu Giang cũ
thành Cần Thơ và Sóc Trăng, trường đổi tên là Trường Trung học sư phạm Sóc
Trăng. Từ ngày 26/4/2001 trường được nâng cấp thành Trường CĐSP Sóc
Trăng. Trường đặt cơ sở tại số 77, tỉnh lộ 8, thị trấn Mỹ Xuyên, huyện Mỹ
Xuyên, tỉnh Sóc Trăng (cách Thành phố Sóc Trăng 4 km).
Hiện nay trường có 112 cán bộ, giảng viên, nhân viên với 65 giảng viên
đứng lớp trong đó có 01 nghiên cứu sinh với hơn 30 giảng viên đã và đang theo
học trình độ thạc sĩ.
1. Giới thiệu trường cao đẳng sư phạm Sóc Trăng
Cơ cấu tổ chức của trường
- Ban giám hiệu
Hiệu Trưởng : ThS Huỳnh Hữu Nhị
Phó Hiệu trưởng : ThS Lý Thị Đào
- Các phòng :
• Phòng Đào tạo-Nghiên cứu khoa học
• Phòng Tổ chức - Hành chính
• Phòng Quản lý HS-SV
Về tập thể: Nhiều năm liền Trường đạt trường tiên tiến xuất sắc được
UBND tỉnh tặng Bằng khen. Năm 2001 được nhận Bằng khen của Thủ tướng
Chính phủ, nhận nhiều Bằng khen của Bộ GD - ĐT về hoàn thành tốt nhiệm vụ
đào tạo, bồi dưỡng. Năm 2009 được Nhà nước tặng huân chương lao động hạng
3.
Các tổ chức, đoàn thể: Đảng bộ luôn đạt Đảng bộ trong sạch vững mạnh,
Công đoàn đạt Công đoàn vững mạnh được Công đoàn giáo dục Việt Nam tặng
Bằng khen nhiều năm liền, Đoàn thanh niên và Hội sinh viên … đều đạt vững
mạnh.
Về cá nhân: có 1 cá nhân được phong tặng Nhà giáo ưu tú (đã về hưu).
Hơn 30 CB-GV được tặng huy chương, kỷ niệm chương Vì sự nghiệp giáo dục,
có 3 GV đạt GV giỏi TCCN toàn quốc, bình quân mỗi năm có từ 12 đến 20 GV
đạt GV giỏi, chiến sĩ thi đua cấp cơ sở.
2. Thư viện trường CĐSP Sóc Trăng
Thư viện trường Cao đẳng sư phạm Sóc Trăng là một bộ phận của Trung
tâm Hỗ trợ Học tập (KLF). Thư viện có một phòng đọc tổng hợp bao gồm
phòng mượn hoạt động theo hình thức kho mở, vì thế tạo điều kiện thuận lợi
cho bạn đọc trong việc tra tìm tài liệu. Nguồn tài liệu của thư viện hiện nay khá
phong phú đáp ứng được nhu cầu học tập, nghiên cứu và giảng dạy của giảng
viên – sinh viên nhà trường. Bên cạnh kho mở, tài liệu còn được lưu trữ ở hình
thức kho đóng nối liền với kho mở điều này đã tạo nên thuận lợi, dễ dàng,
nhanh chóng trong việc cán bộ thư viện đáp ứng nhu cầu thông tin của bạn đọc.
Vốn tài liệu của thư viện hiện là 4.567 đầu sách với 66.782 bản sách gồm
có: giáo trình đào tạo giáo viên tiểu học và trung học cơ sở, sách giáo khoa –
giáo viên – thiết kế bài soạn các môn từ lớp 1 đến lớp 9, sách giáo khoa ban cơ
bản và nâng cao từ lớp 10 đến lớp 12, từ điển, sách tham khảo các ngành như:
Toán, Sinh, Hóa, Lý, Kĩ thuật, Tin học, Anh văn…, ngoài ra còn có các tài liệu
nghe nhìn, báo – tạp chí, đề tài nghiên cứu khoa học và các loại tài liệu khác…
Số lượng tài liệu của thư viện thường xuyên được bổ sung và tăng thêm hằng
năm, nhằm đáp ứng nhu cầu học tập và nghiên cứu ngày càng cao của đội ngũ
1. Dán nhãn phân loại và mã vạch
Đây là công việc đầu tiên em được phân công làm khi thực tập tại trường
Cao Đẳng Sư Phạm, khi làm công việc này em đã gặp không ít khó khăn như:
Số lượng tài liệu quá nhiều và để ở nhiều nơi nên khi tập hợp tài
liệu đã có nhiều thiếu sót khi không tập hợp đủ số lượng tài liệu có trong danh
sách nên khi dán nhãn phân loại bị thiếu nhãn.
Ví dụ: “Người đã khói sương” thiếu 1 nhãn, “Nguyễn Khuyến thơ và lời
bình” thiếu 1 quyển.
Do tập hợp không đủ số lượng nên khi dán nhãn đăng kí cá biệt
không thể liên tục.
Tuy nhiên khi làm những công việc này em cũng đã học hỏi được nhiều
điều như: Biết làm dụng cụ để có thể dán nhãn ngay ngắn và nhìn vào đẹp mắt
hơn. Không chỉ thế khi gặp khó khăn trong việc dán nhãn và tập hợp sách đã
giúp em biết được khi làm việc gì cũng phải cẩn thận tìm kiếm cho cẩn thận
không phải mất thời gian khi phải tìm kiếm lại, phải biết phối hợp cùng bạn để
công việc diễn ra nhanh chóng.
Việc dán nhãn phân loại giúp cho cán bộ thư viện có thể tìm kiếm tài liệu
giúp cho bạn đọc nhanh hơn.
2. Biên mục tài liệu
2.1 Giới thiệu về Marc 21
Trong những năm qua các thư viện và các cơ quan thông tin ở Việt Nam
đã xây dựng rất nhiều cơ sở dữ liệu nhưng những cơ sở dữ liệu này bước đầu
chỉ phục vụ hoạt động tra cứu nội bộ không có khả năng tích hợp, trao đổi vì
vậy chúng ta gặp nhiều khó khăn trong chia sẻ nguồn lực thông tin và trao đổi
quốc tế. Một trong vấn đề đặt ra là phải chuẩn hóa hoạt động biên mục cụ thể là
thống nhất xây dựng mục lục đọc máy. Ngày 22-23/11/2001 tại Trung tâm
Thông tin Tư liệu và Công nghệ Quốc gia các thư viện Việt Nam đã tổ chức hội
thảo quốc gia "Xây dựng khổ mẫu MARC Việt Nam". Tại hội thảo này các thư
viện Việt Nam đã đi đến thống nhất áp dụng khổ mẫu MARC21 để xây dựng
MARC Việt Nam. Việc các thư viện Việt Nam đi đến thống nhất lựa chọn khổ
Thuận lợi:
+ MARC 21 là một khổ mẫu tích hợp có thể dùng chung cho các loại
hình tài liệu thư viện không phải thiết kế các mẫu nhập tin khác nhau, mà chỉ
cần thêm bớt các trường dữ liệu đặc thù cho phù hợp; Khả năng chia sẻ và sử
dụng các biểu ghi thư mục giữa các thư viện với nhau được dễ dàng không chỉ
giữa các thư viện trong nước mà cả với thư viện nước ngoài
+ Tài liệu khổ mẫu MARC21 rút gọn xuất bản 2005 có bổ sung một số
công cụ hỗ trợ tạo thống nhất cho người biên mục: danh mục mã ngôn ngữ theo
tiêu chuẩn ISO 639-2; mã nước theo tiêu chuẩn ISO 3166; từ và cụm từ viết tắt
dùng trong biên mục; nguồn hệ thống phân loại, thuật ngữ.
Khó khăn:
+ Một số vấn đề về tiêu đề mô tả hình thức (đối với sách) theo qui tắc
mô tả của Việt Nam khi chuyển sang biên mục trên MARC21 không biết xếp
vào đâu cho đúng với qui tắc biên mục của Việt Nam như tài liệu pháp luật, tài
liệu tiêu chuẩn …
+ Đối với tài liệu luận án khoa học trước kia theo isis cơ quan bảo vệ
thường để sau vùng thông tin về trách nhiệm sau dấu gạch xiên nay chuyển
sang MARC21 lại để ở phần phụ chú như vậy sẽ ảnh hưởng đến các vị trí trong
mô tả trên phiếu mục lục truyền thống. Mặt khác, theo qui tắc mô tả của Việt
Nam và của MARC21 có sự khác nhau về mô tả vị trí giữa nơi, năm hoàn thành
luận án và nơi, năm bảo vệ.
+ Trong MARC 21 rút gọn xuất bản 2005 có ví dụ mô tả luận văn nhưng
chưa có sự phân biệt rõ ràng và còn trùng lặp giữa trường 260 và 502. Đây là
dạng tài liệu không công bố nên không có nhà xuất bản nhưng trong ví dụ tại
trường 260$b ghi [K.nh.x.b.]
+ Giữa mã tên nước, mã ngôn ngữ in trong phụ lục của MARC 21 rút
gọn và của chuẩn MARC21 không giống nhau sẽ dẫn đến việc không thống
nhất trong biên mục gây khó khăn cho người biên mục
2.2 Tìm hiểu các thành phần trong phần mềm iLib
Ilib một giải pháp tích hợp, gồm nhiều phân hệ thực hiện các chức
245 Nhan đề chính
a Nhan đề (KL)
b Phần còn lại của nhan đề
c Thông tin trách nhiệm
n Số phần/loại của tài liệu
p Nhan đề của phần/loại
246 Dạng khác của nhan đề
a Nhan đề chính/nhan đề giản lược
250 Lần xuất bản
a - Lần xuất bản
260 Địa chỉ xuất bản, phát hành
a Nơi xuất bản, phát hành
b Nhà xuất bản, phát hành
c Năm xuất bản, phát hành
300 Mô tả vật lí
a Khối lượng
b Các đặc điểm vật lý khác
c Kích thước
e Tài liệu kèm theo
490 Thông tin tùng thư
a Thông tin tùng thư
v Số tập/số thứ tự
500 Phụ chú chung
a Phụ chú chung (KL)
520 Tóm tắt chú giải
a Nội dung bài tóm tắt/ chú giải
650 Tiêu đề bổ sung chủ đề - Thuật ngữ chủ đề
2 Nguồn của đề mục hoặc thuật ngữ
a Thuật ngữ chủ đề hoặc địa danh
653 Thuật ngữ chủ đề không kiểm soát
*Chú ý: Bất cứ mọi thay đổi phải được ghi lại, nếu không muốn ghi lại
thì chọn “Không ghi” theo hộp thoại dưới đây:
Những yêu cầu khi thao tác với phần mềm iLib
Qua công tác thực tế, bản thân em rút ra một số yêu cầu đối với cán bộ thư
viện khi thao tác với phần mềm iLib:
- Người làm công tác nhập dữ liệu phải có kiến thức cơ bản về tin học như
đánh văn bản, cách sử dụng các phần mềm để hỗ trợ cho iLib (Vietkey)
- Phải có trình độ chuyên môn nghiệp vụ về công tác thư viện như biên
mục, tóm tắt tài liệu, mô tả tài liệu…
- Phải có tính cẩn thận, tỉ mĩ trong công việc, có tinh thần trách nhiệm, …
- Phải cầu tiến, có sự tìm tòi trong công tác để tự trau dồi chuyên môn
nghiệp vụ, giúp nâng cao tay nghê cho cán bộ thư viện phục vụ công tác tốt
hơn.
- Phải có khả năng làm việc độc lập, có sự thân thiện trong quan hệ với
đồng nghiệp, với bạn đọc.
2.3 Những khó khăn khi biên mục tài liệu.
- Do thiếu kiến thức về phần mên Ilib và không được đào tạo chuyên sâu
với phần mềm Ilib nên khi bắt tay vào việc gặp khó khăn và biên mục chậm,
chưa biết được các tính năng Ilib
- Trong chương trình học em không được học về phần mềm quản trị thư
viện Ilib nên khi làm không được thành thạo và có nhiều điều chưa biết.
- Do không nắm chắc các kiến thức đã học nên khi biên mục tài liệu gặp
nhiều khó khăn. Ví dụ: Khi mô tả tài liệu về tác giả tập thể em không thể xác
định đâu là tác giả tập thể, tùng thư.
- Khi đăng kí cá biệt bị trùng số đăng kí làm mất thời gian tìm kiếm tài liệu
để đăng kí lại.
- Khi biên mục sách tập thường bị mất nhãn trường nên phải nhập lại nhãn
trường và đôi khi không cho thêm nhãn trường. Các nhãn trường thường thiếu
đối với sách tập là: 020, 082, 520, 653, 700, 852, 904.
- Đa số tài liệu trong KLF hầu hết điều dán thẻ từ ở trang đầu và trang cuối
- Khi biên mục tài liệu em thường gặp phải trường hợp xuất hiện cửa sổ
thông báo “Không query dữ liệu, phải nhập lại” nhưng khi nhập lại thì biểu ghi
lại xuất hiện tình trạng lập lại tất cả các nhãn trường, và phải xóa bỏ các nhãn
trường đó mới có thể đăng kí cá biệt.
- Khi đăng kí cá biệt gặp phải bảng thông báo “Không cập nhật bản ghi
này, phải nhập lại” thì sẽ không đăng kí được số cá biệt này và khi đó em phải
thoát ra ngoài và kiểm tra xem có trùng số đăng kí không để có thể sửa kịp thời.
- Do nhãn mã vạch in không rõ nên khi các bạn ghi số đăng kí kho mượn
vào trang tên sách không chính xác. Ví dụ: KD.006858 do in bị mất nét nên đọc
nhầm là KD.006853 và khi đăng kí đã bị trùng nên khi thấy nhãn mã vạch như
vậy em đã nhờ bạn cùng nhóm dùng máy quét mã vạch cho chính xác để hạn
chế sai xót.
- Tất cả các tài liệu trong KLF hầu hết điều dán mã vạch ở bìa sau nên
cũng có nhiều tài liệu bị che đi giá tiền nên không thể nhập chính xác giá tiền.
- Khó khăn nhất trong khâu nhập máy chính là trùng số đăng kí cá biệt vì
khi phát hiện trùng số là ta phải tìm kiếm cho ra quyển có số cá biệt bị trùng so
sánh lại cho đúng và phải điều chỉnh kịp thời.
- Do hệ thống máy tính đã xuống cấp trong quá trình làm việc thường hay
xảy ra sự cố nên gây chậm tiến trình nhập máy.
- Trong quá trình nhập máy do các bạn sắp xếp tài liệu không biết tài liệu
nào đã biên mục tài liệu nào chưa biên mục nên đã để nhằm sách đã biên mục
rồi vào sách chưa biên mục nên khi nhập phải mất thời gian tìm kiếm.
- Khi ghi số đăng kí cá biệt của kho mượn vào trang tên sách cho nhóm
nhập máy biên mục các bạn đã ghi dư số đăng kí. Ví dụ: Văn học Việt Nam thế
kỉ XX (Truyện ngắn trước 1945) Quyển 2 Tập IV các bạn ghi là: KD.007831,
KM.016342, KM.016393, KM.013394 nhưng số lượng đúng chỉ có 3 quyển mà
các bạn ghi đến 4 quyển. Khi biên mục nhập các số trên thi bị báo là trùng số
đăng kí các biệt với một quyển khác do đó phải đi kiếm quyển sác bị trùng mà
đối chiếu lại và sửa lại cho đúng.
- Khi ghi số đăng kí vào trang tên sách người ghi không cẩn thận đã ghi
KM.013131. khi biên mục một tài liệu khác và đăng kí cá biệt thì bị trùng số
KM.013131 và sau khi tìm mới phát hiện các số KM ghi trong quyển sách đó
điều sai. Số lượng quyển “23 chuyên đề giải 1001 bài toán sơ cấp quyển 2” chỉ
có 3 quyển nhưng lại ghi tới 6 quyển và số KM là KM.013229, KM.013227 và
hiện giờ vẫn không thể kiếm được số KM.013131 để chỉnh sửa lại.
Kết quả đạt được: trong ba tuần thực tập, nhóm nhập máy
chúng em đã biên mục được: 2081 đầu sách và 5770 quyển, hồi cố được 261
đầu sách, 410 quyển, sách của thư viện là: 58 đầu sách biên mục mới, 364
quyển
Những kiến thức học được qua việc biên mục tài liệu,
thông qua biên mục em đã được ôn lại rất nhiều kiến thức về: mô tả hình thức
tài liệu, tóm tắt tài liệu, biết cách tìm kiếm và chỉnh sửa các biểu ghi. Thông
qua việc biên mục tài liệu tiếp thu được những kĩ năng mới trong phần mền Ilib
3.6, biết cách xác định và xử lí khi mô tả những quyển sách nói về tác giả tập
thể. Qua việc phát hiện sai nhãn phân loại em rút ra được kinh nghiệm là khi
dán nhãn mã vạch người dán nhãn nên kiểm tra kĩ nếu phát hiện thấy có nhãn
mã vạch bị mất nét hoặc không nhìn thấy rõ nên sửa ngay khi dán để không bị
sai số.
Qua việc biên mục cơ sở dữ liệu em đã rút ra được một số
kinh nghiệm:
Phải học thật kĩ và nắm thật vững những gì đã học trên lớp vì những kiến
thức lí thuyết trên lớp rất quan trọng nhưng khi vào thực tế phải biết vận dụng
và thực hành.
Phải chú tâm, tận tình, có lòng hăn say với công việc thì mới có thể hoàn
thành tốt công việc của mình.
Phải linh hoạt trong khâu xử lí tài liệu, không nên rập khuôn một cách
máy móc.
Phải nắm vững những kiến thức cơ bản trong quá trình xử lí tài liệu, nhất
là khâu mô tả phải chính xác để nhập cơ sở dữ liệu không bị sai xót.
Phải có tinh thần kiên nhẫn vì lượng tài liệu trong thư viện quá nhiều nên
tin Thư viện:
• Căn cứ vào điều kiện thực tiển của đất nước và xu thế của thời đại: Hệ
thống chính trị; Điều kiện địa lý, lịch sử, văn hóa.
• Căn cứ vào điều kiện cụ thể của từng cơ quan Thông tin Thư viện: Vốn
tài liệu; Đồi tượng Người dùng tin.
• Căn cứ vào các tiêu chí quan trọng và căn bản của khung phân loại: Tính
tư tưởng; Tính khoa học; Tính dân tộc; Tính hiện đại.
Thông qua việc phân loại tài liệu trong thư viện em đã được ôn lại các
kiến thức chuyên môn phân loại đã học, có nhiều cơ hội tiếp xúc thực tế, gặp
những trường hợp phân loại khó có thể tham khảo bạn bè và cô hướng dẫn. Các
kiến thức đã được ôn như:
• Các bước thực hiện trong tiến trình ấn định chỉ số phân loại bao gồm:
Phân tích chủ đề để xác định lĩnh vực hay môn loại chính, chủ đề
chính và các khía cạnh phụ của tài liệu.
Ấn định chỉ số phân loại bao gồm chọn chỉ số phân loại và thiết lập
chỉ số phân loại hay còn được gọi là tổng hợp số phân loại.
• Phương pháp chung phân loại tài liệu:
Sự thống nhất về mặt phương pháp trong quy trình phân loại có ý nghĩa
quan trọng trong việc đảm bảo chất lượng tổ chức kho tài liệu theo nội dung;
Các sản phẩm dịch vụ thông tin thư viện.
Phương pháp phân loại chung bao gồm: quy tắc, quy định cho việc phân
loại tài liệu thuộc mọi lĩnh vực tri thức, mọi loại hình thức tài liệu; Không phụ
thuộc vào cấu tạo của bảng phân loại tài liệu cụ thể nào.
• Các nguyên tắc của yêu cầu cơ bản của phân loại tài liệu nói chung:
Các nguyên tắc:
Phải căn cứ vào dấu hiệu tài liệu thể hiện: Nội dung tài liệu, Hình
thức tài liệu; Tác dụng đối với độc giả.
Phải trực diện với tài liệu
Ưu tiên các vấn đề cụ thể trước, vấn đề trừu tượng sau, cái riêng
trước cái chung.
thống đèn, quạt, hệ thống ánh sáng được đảm bảo phục vụ cho người đọc một
cách tốt nhất.
Vị trí của Thư viện thuận lợi cho học sinh và giáo viên tìm đến thư viện
vì hiện nay thư viện được đặt tại vị trí gần phòng học của học sinh và phòng
giáo viên nên thuận tiện cho giáo viên và học sinh tìm đến thư viện vào giờ ra
chơi.
Thư viện phục vụ bạn đọc theo hệ thống kho mở không theo kho đóng.
Kho đóng là kho độc giả không được vào tiếp cận với tài liệu, chỉ cán bộ thư
viện có liên quan mới được phép ra vào kho. Kho mở có ưu điểm là tạo điều
kiện thuận lợi cho bạn đọc chọn lựa tài liệu, đọc ngay tại chỗ, không mất thời
gian viết phiếu yêu cầu và chờ đợi, rất thích hợp với phương châm tổ chức và
hoạt động của thư viện ngày nay là thư viện mở và nguồn mở. Trong kho mở,
việc tài liệu được sắp xếp theo các ngành, lĩnh vực khoa học đã giúp cho người
đọc xác định nhanh vị trí tài liệu của ngành mình cần và tiếp cận được nhiều tài
liệu của cùng một lĩnh vực.
Có đủ trang thiết bị cần thiết phục vụ cho việc dạy và học, có đủ các
phòng chức năng giúp thư viện phục vụ một cách tốt hơn.
2. Khó khăn:
Khi phục vụ theo kho mở cũng có những nhược điểm như khó quản lý
được chặt chẽ tài liệu trong kho, hay như, phải dồn giãn kho khi tài liệu nhiều
lên theo thời gian. Cho nên, nếu không tính toán kỹ có thể gây lãng phí lớn. Vì
diện tích Thư viện còn hạn chế nên Thư viện vẫn chưa có được nơi để tổ chức
kho đóng. Trong kho đóng, tài liệu được sắp xếp trước hết theo ngôn ngữ, sau
đó theo khổ cỡ (chiều cao gáy sách) và cuối cùng là theo thứ tự sách nhập về
thư viện. Tổ chức theo hình thức kho đóng có ưu điểm là: quản lý và bảo vệ tài
liệu được dễ dàng, trật tự sách trong kho không bị xáo trộn, tiết kiệm được diện
tích giá kệ (do sách cùng cỡ xếp cạnh nhau thành từng đợt, không phải dự trữ
chỗ). Tuy nhiên, kho đóng có hạn chế là ít thuận tiện cho người đọc, vì họ phải
viết phiếu yêu cầu (dựa trên những thông tin ngắn gọn trên phiếu mục lục hay