PHẪU THUẬT NỘI SOI MŨI XOANG Ở TRẺ EM TÓM TẮT
Phẫu thuật nội soi mũi xoang chức năng (FESS) đã trở thành 1 phương pháp điều
trị phổ biến đối với các bệnh lý mũi xoang ở người lớn không đáp ứng với điều trị
nội khoa. Ở 1 số nước trên thế giới, nhiều trẻ em đã được điều trị bằng phẫu thuật
nội soi thay thế cho mổ hở trong nhiều trường hợp.
Mục tiêu: ứng dụng phẫu thuật nội soi mũi xoang chức năng để điều trị các bệnh
lý mũi xoang mạn tính ở trẻ em và đánh giá hiệu quả của phẫu thuật dựa trên các
triệu chứng lâm sàng và nội soi mũi.
Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Trẻ em có bệnh lý mũi xoang mạn
không đáp ứng với điều trị nội khoa, độ tuổi từ 10-16 tuổi. Khám lâm sàng, nội soi
mũi và chụp CT trước mổ cho tất cả các trường hợp. Chìa khoá của phẫu thuật là
mở thông phức hợp lỗ thông khe nhưng cũng có thể bao gồm thêm các phẫu thuật
khác nếu bệnh tích lan rộng hoặc có những thay đổi giải phẫu đi kèm. Cuối cuộc
mổ, đặt Spongel vào khe mũi giữa để phòng dính. Sau mổ bệnh nhi được nội soi
dưới gây tê tại chỗ để lấy vẩy và mô hạt viêm sau 1 tháng, 2 tháng, 3 tháng và 6
tháng.
Kết quả:Trong công trình nghiên cứu này, chúng tôi giới thiệu kinh nghiệm của
chúng tôi qua 45 trường hợp phẫu thuật nội soi mũi xoang ở trẻ em trong gần 4
năm qua (1/2004- 10/2007). Tuổi bệnh nhi từ 10- 16 tuổi. Tất cả các bệnh nhi đều
phẫu thuật dưới gây mê toàn thân và không có biến chứng nghiêm trọng nào. Thời
gian theo dõi từ 6 -40 tháng, thời gian theo dõi trung bình là 16,51 tháng. 34 bệnh
nhi (75,55%) khỏi hoàn toàn các triệu chứng, 7 bệnh nhi các triệu chứng có giảm
(15,55%) và 4 bệnh nhi không đỡ (8,88%).
Kết luận: phẫu thuật nội soi mũi xoang chức năng có hiệu quả trong điều trị các
bệnh lý mũi xoang ở trẻ em, giúp cải thiện chất lượng cuộc sống bệnh nhi.
ABSTRACT
Functional Endoscopic Sinus Surgery has become a standard modality of
treatment for the chronic sinus disease in adult that is refractory to medical
pháp phổ biến để điều trị các bệnh lý viêm mũi xoang mạn ở người lớn. Đã có
nhiều báo cáo trong y văn đề cập đến tính hiệu quả và tính an toàn của phẫu thuật
này
(Error! Reference source not found.,Error! Reference source not found.)
. 1989, Gross và cộng sự đã
báo cáo kinh nghiệm áp dụng phẫu thuật nội soi mũi xoang chức năng ở trẻ em.
Cũng từ đó FESS nhanh chóng được chấp nhận như là phương pháp điều trị ngoại
khoa đối với viêm mũi xoang ở trẻ em
(Error! Reference source not found.)
. 1994, Poole đề
nghị sử dụng thuật ngữ phẫu thuật nội soi mũi xoang trẻ em viết tắt là PESS
(Pediatric Endoscopic Sinus Surgery). Tại Việt Nam, đã có nhiều công trình
nghiên cứu về phẫu thuật nội soi mũi xoang ở người lớn
(Error! Reference source not
found.,Error! Reference source not found.)
. Ở trẻ em chỉ mới có vài báo cáo mổ lấy u mũi
xoang qua nội soi
(Error! Reference source not found.)
, xử trí biến chứng viêm mũi xoang ở
trẻ em
(Error! Reference source not found.)
…
ĐỐI TƯỢNG - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Đối tượng nghiên cứu
Trẻ em dưới 16 tuổi có các bệnh lý mũi xoang thất bại với điều trị nội khoa.
Chỉ định phẫu thuật bao gồm:
- viêm xoang mạn do tắc phức hợp lỗ thông khe không đáp ứng với điều trị nội
khoa
- viêm xoang polyp mũi
- viêm xoang do nấm
Tổng cộng 45 100
Phương pháp phẫu thuật
- Vô cảm: mê nội khí quản trong tất cả các trường hợp.
- Chích tê Lidocain + adrénalin 1/100.000. Bẻ cuốn dưới ra ngoài.
- Tùy theo mức độ bệnh tích, các phẫu thuật có thể là cắt mỏm móc, mở thông
xoang hàm, mở sàng trước, mở sàng trước + sau, mở ngách trán, tách điểm tiếp
xúc giữa cuốn mũi giữa-vách ngăn, tách điểm tiếp xúc giữa cuốn mũi trên- vách
ngăn., cắt bỏ phần gai –mào vách ngăn, nạo VA khi còn VA phì đại…
- Về nguyên tắc phẫu thuật: theo nguyên tắc của phẫu thuật nội soi xoang chức
năng: dẫn lưu xoang qua lỗ thông tự nhiên, chỉ can thiệp lên phần có bệnh tích,
bảo tồn mô còn vẻ bình thường, giữ lại lớp niêm mạc lót ở các xoang, hố mổ
sàng
Bảng 2: các loại phẫu thuật
Loại phẫu thuật
Số
lượng
Tỷ
lệ%
1 bên 1 2,22
Cắt
Conchabullosa
2 bên 3 6,66
M
ở lỗ thông
xoang hàm
point
2 bên 2 4,44
Contact point
1 2,22
M
ở lổ thông
xoang hàm
1 2,22
C
ắt gai vách
ngăn
1 2,22
Tách Contact
point + c
ắt
gai vách ngăn
1 2,22
M
ở thông
xoang
hàm+c
ắt gai
vách ngăn
C
ắt gai vách
ngăn
3 6,66
Lấy u x
ương
xoang sàng
1 2,22
+
Cắt
gai vách
ngăn + n
ạo
VA
1 2,22
N
ạo VA 1 2,22
Cắt
conchabullosa
+ tách contact
point
1 2,22
Mở h
àm sàng
+ cắt polyp
* Đau
Thường không đau nhiều, chỉ cần dùng thuốc giảm đau uống
* Nghẹt mũi
Đôi khi làm trẻ khó chịu nhất là 1-2 ngày đầu sau mổ, nằm đầu cao và giải thích
kỹ giúp bố mẹ và trẻ an tâm, tình trạng nghẹt mũi sẽ giảm dần.
* Nội soi mũi
Bảng 3: Nội soi đánh giá sau mổ
Triệu
chứng
1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng
Phù nề
5
(11,11%)
3 (6,66%)
2
(4,44%)
0
Xuất
tiết
14
(31,11%)
10
(22,22%)
8
Kết quả
Tiêu chuẩn đánh giá các triệu chứng lâm sàng dựa vào 3 triệu chứng: nghẹt mũi,
xuất tiết mũi, và nhức đầu. Mỗi triệu chứng dựa trên 3 mức độ: hết triệu chứng,
triệu chứng có giảm nhưng không hết hẳn, triệu chứng vẫn như cũ
Bảng 4: Kết quả
Mức độ
Triệu chứng Số
lượng
Tỷ
lệ%
Ngh
ẹt mũi (-
):
không
HẾT
TRIỆU
CH
ỨNG
Xu
ất tiết mũi (±) ít
hoặc không có
34 75,55%
Nh
ức đầu (-): không
Ngh
ẹt mũi (
): có
giảm
Những trẻ không cải thiện là những trẻ có cơ địa bị suyển (1 trường hợp), viêm
mũi dị ứng (3 trường hợp). Bệnh có giảm 1 thời gian đầu sau mổ, sau đó dễ tái
phát khi có thay đổi thời tiết.
*Ảnh hưởng lên sư phát triển của khuôn mặt và răng
Hiện tại chưa có trường hợp nào có sự ảnh hưởng trên khuôn mặt được nhận thấy
qua nhìn và sờ nắn bằng tay. Chưa có trường hợp nào bị ê răng hoặc có những
thay đổi về răng sau mổ.
BÀN LUẬN
Về tuổi bệnh nhi
Ramadan
(8)
khuyến cáo:
- trẻ dưới 6 tuổi, chỉ cần nạo VA.
- trẻ trên 6 tuổi nên nạo VA và PESS.
Trong công trình nghiên cứu này, chúng tôi chọn phẫu thuật cho trẻ >10 tuổi vì
những lý do sau:
+ tần suất bệnh nhiễm trùng hô hấp ở dộ tuổi này giảm so với trẻ nhỏ.
+ nguy cơ ảnh hưởng đến sự phát triển của răng ít hơn.
+ các xoang đã qua giai đoạn phát triển mạnh nhất.
+ trẻ dễ hợp tác hơn đặc biệt trong quá trình nội soi chăm sóc sau mổ.
Trên thực tế, chúng tôi có thể nội soi chẩn đoán cho 1 số trẻ < 10 tuổi (sau khi đã
giải thích kỹ cho bố mẹ và bệnh nhi). Tuy nhiên, việc nội soi chăm sóc sau mổ đòi
hỏi thời gian lâu hơn, khoảng 10-15 phút /ca nên trẻ < 10 tuổi rất khó thực hiện
dưới gây tê tại chỗ.
Về chỉ định mổ
- Theo Clement
(2)
: đa số các tác giả đều nhất trí chỉ định mổ của viêm mũi xoang ở
trẻ em là:
+ viêm xoang polyp mũi làm dãn rộng thành ngoài vách mũi xoang
o
, ống 30
o
dùng khi cần kiểm tra hoặc
lấy bệnh tích ở các ngóc ngách. Với ống nội soi 0
o
4mm vẫn có thể mổ được tất cả
các xoang kể cả mở ngách trán. Mặt khác ống 4mm, sẽ cho hình ảnh phẫu trường
rộng hơn các ống nội soi có đường kính nhỏ hơn. Hình ảnh phẫu trường càng rộng
thì việc định vị các mốc giải phẫu càng chính xác hơn.
Trong số các dụng cụ phẫu thuật, chúng tôi ưa chuộng dùng kềm cắt (through-cut) như là
công cụ chủ lực. Niêm mạc sau khi cắt bằng through cut có đặc tính sắc gọn, ít bầm dập,
ít chảy máu. Sự lành thương sau mổ rất tốt, ít sẹo dính.
Về vấn đề chăm sóc sau mổ
Chăm sóc sau mổ góp phần quan trọng đối với sự thành công của phẫu thuật nội
soi. Một số tác giả đề nghị nên nội soi dưới gây mê lần thứ 2 (second- look) khám
lại hố mổ và làm sạch phẫu trường. Mitchell (1997), đã nghiên cứu so sánh giữa 2
nhóm: 1 nhóm 50 bệnh nhân phẫu thuật nội soi mũi xoang được làm second look
thường qui sau mổ, với 1 nhóm 50 bệnh nhân không second look sau mổ. Kết quả
không có sự khác biệt giữa 2 nhóm.
Tất cả các bệnh nhi của chúng tôi đều được nội soi theo dõi sau mổ, chỉ cần thực hiện
dưới gây tê tại chỗ mà không cần phải gây mê toàn thân. Nội soi chăm sóc bắt đầu sau 1
tháng, đánh giá lại sau 2 tháng, 3 tháng, 6 tháng. Ở trẻ con khó thực hiện nội soi chăm
sóc sau mổ sớm trong những tuần lễ đầu vì trong giai đoạn này niêm mạc mũi còn phù nề
sung huyết nhiều khi nội soi trẻ sẽ không hợp tác do đau và dễ chảy máu Chúng tôi
nhận thấy chăm sóc vào khoảng 1 tháng sau mổ, lúc này hốc mũi đã bớt sưng nề, ít đau
hơn, ít chảy máu hơn. Có 5 trường hợp dính nhẹ (4 trường hợp dính ở cuốn mũi giữa -
vách mũi xoang và 1 trường hợp dính cuốn mũi giữa- vách ngăn) có thể cắt dính dưới
gây tê tại chỗ.
Về kết quả sau mổ
VA: 87,3%
Nhóm 2: ch
ỉ có
PTNS: 75%
Nhóm 3: ch
ỉ có nạo
VA: 51,6%
L. H. T 45 10-
16
H
ết triệu chứng:
75,55%
Gi
ảm triệu chứng:
15,55%
Như c
ũ: 8,88%
Về ảnh hưởng của PESS và sự phát trỉển của xương mặt
Trong y văn, đã có nhiều nghiên cứu về ảnh hưởng của phẫu thuật nội soi và sự
phát triển của xương mặt
(Error! Reference source not found.)
:
-Wolf 1995: qua nghiên cứu 124 trẻ sau phẫu thuật nội soi mũi xoang (tuổi trung
bình là 12 tuổi): nhận thấy không có sự rối loạn có ý nghĩa về sự phát triển của
xương măt.
- Senior 2000: chụp CT đo thể tích xoang, thể tích hốc mắt ở nhóm người bình
thường, nhóm viêm xoang không có phẫu thuật và nhóm viêm xoang có phẫu
thuật. Kết quả không có sự khác biệt giữa các nhóm.
-Bothwell 2002: phân tích về mặt nhân trắc học 67 trẻ viêm xoang mạn tính cho
thấy không có sự khác biệt giữa 3 nhóm: nhóm viêm xoang không phẫu thuật