Tên đề tài: Công nghệ sản xuất maltodextrin - Pdf 20

Đồ án chuyên môn GVHD: Mạc Thị Hà Thanh
Tiểu luận
Công nghệ sản xuất maltodextrin
SVTH: Phạm Thị Mỹ Yên Lớp: 06C2 1
Đồ án chuyên môn GVHD: Mạc Thị Hà Thanh
MỤC LỤC
MỤC LỤC 2
HÌNH ẢNH SẢN PHẨM 33 2
KẾT LUẬN 34 2
TÀI LIỆU THAM KHẢO 35 2
DANH MỤC CÁC HÌNH ẢNH 3
Chương 0. TỔNG QUAN VỀ TÀI LIỆU 6
Chương 1. CÔNG NGHỆ SẢN XUẤT MALTODEXTRIN TỪ TINH BỘT SẮN BẰNG PHƯƠNG PHÁP
ENZYME 20
HÌNH ẢNH SẢN PHẨM 33
KẾT LUẬN 34
TÀI LIỆU THAM KHẢO 35
SVTH: Phạm Thị Mỹ Yên Lớp: 06C2 2
Đồ án chuyên môn GVHD: Mạc Thị Hà Thanh
DANH MỤC CÁC HÌNH ẢNH
DANH MỤC CÁC BẢNG
BẢNG 2.1: CÁC CHỈ TIÊU CHẤT LƯỢNG CỦA TINH BỘT SẮN.[11] 21
SVTH: Phạm Thị Mỹ Yên Lớp: 06C2 3
Đồ án chuyên môn GVHD: Mạc Thị Hà Thanh
MỞ ĐẦU
1.Lý do chọn đề tài
Tinh bột sắn được ứng dụng rộng rãi trong nhiều lĩnh vự như công nghiệp dệt, công
nghiệp giấy, công nghiệp chất kết dính, dược phẩm, công nghiệp thực phẩm Trong bối
cảnh hội nhập nền kinh tế toàn cầu nền kinh tế mà việc cải tiến công nghệ, nâng cao chất
lượng sản phẩm là yêu cầu bức thiết đối với các doanh nghiệp. Đối với các nhà sản xuất
tinh bột sắn, việc đầu tư sản xuất các sản phẩm từ tinh bột sắn là đòi hỏi bức thiết, không

tìm được enzym từ số lớn loại có sẵn, tốc độ và hiệu quả biến tính cao và có khả năng
biến tính tinh bột trong điều kiện nông nghiệp cũng như điều kiện sản xuất.
Việc sản xuất maltodextrin từ tinh bột sắn bằng phương pháp enzyme sẽ mở ra cơ
hội phát triển ngành sản xuất enzyme trong nước.Có thể tìm được điều kiện tối ưu để thủy
phân tinh bột sắn tạo Maltodextrin. Nguồn enzyme thu nhận có độ tinh khiết cao. Quy
trình công nghệ tạo Maltodextrin có khả năng đưa ra sản xuất công nghiệp. Ngoài ra,
hướng nghiên cứu Maltodextrin từ thủy phân tinh bột sắn sống là hướng mới sẽ tiết kiệm
được chi phí sản xuất và đơn giản công nghệ.
2.2.Ý nghĩa thực tiễn
Sản phẩm maltodextrin là một sản phẩm tạo ra từ tinh bột sắn, có những tính chất
khác biệt hơn so với tinh bột sắn. Từ đó ta có thể ứng dụng một cách có hiệu quả trong
sản xuất các sản phẩm thực phẩm. Maltodextrin là sự đa dạng hoá thêm ứng dụng của tinh
bột sắn trong sản xuất công nghiệp cũng như đáp ứng được nhu cầu của người tiêu dùng.
SVTH: Phạm Thị Mỹ Yên Lớp: 06C2 5
Đồ án chuyên môn GVHD: Mạc Thị Hà Thanh
Chương 0. TỔNG QUAN VỀ TÀI LIỆU
0.1 Tinh bột
0.1.1. Thành phần hoá học của tinh bột
Tinh bột có trong hạt, thân cây và rễ củ của nhiều loại cây và ngũ cốc. Có hai hợp
phần chính trong tinh bột là các polyme amyloze và amylopectin. Những polyme đó được
tạo nên từ các mạch anhyđroglucoza gắn với nhau bằng các liên kết glucozit. Amyloze và
amylopectin liên hợp bằng liên kết hyđro thành các lớp hướng tâm dạng hạt. Amyloze có
cấu trúc thẳng và trọng lượng phân tử thấp hơn (khoảng 500.000), còn amylopectin có
trọng lượng phân tử cao hơn, đến vài triệu và có các mạch bên ngắn nhưng rất phân
nhánh.[1]
0.1.2. Cấu trúc hạt tinh bột
Tinh bột là một cacbohiđrat cao phân tử bao gồm các đơn vị D-glucozơ nối với
nhau bởi liên kết α-glucozit. Công thức phân tử gần đúng là (C
6
H

Tinh bột sắn có màu trắng. Trong quá trình sản xuất nếu củ được nghiền mà chưa
bóc vỏ, tinh bột thu được sẽ có màu tối. Màu sắc của tinh bột ảnh hưởng nhiều đến chất
lượng cũng như giá cả của sản phẩm. Củ sắn và tinh bột sắn có pH khoảng 6.0-6.3.
Tinh bột sắn có hàm lượng amylopectin và phân tử lượng trung bình tương đối cao,
215000g/mol so với aylopectin của bắp là 30500, của tinh bột lúa mì là 130000 và của
tinh bột khoai tây là 224000, của tinh bột bắp sáp là 276000. Hàm lượng amylose nằm
trong khoảng 8-29%, nhưng nói chung đa số tinh bột sắn có tỷ lệ amylose 16-18%. Trong
một số loại tinh bột thì hàm lượng amylopectin trong tinh bột sắn là cao nhất, cụ thể:
amylopectin của tinh bột sắn là 75.64%, trong khi đó amylopctin của tinh bột sắn dây là
74.72%, của tinh bột huỳnh tinh là 67.48%. Ngược lại hàm lượng amylose của tinh bột
sắn là thấp nhất chiếm 24.36%, tinh bột sắn dây 25.28%, amyloze của tinh bột huỳnh tinh
cao nhất chiếm 32.52%. [1]
Tinh bột sắn có nhiệt độ hồ hoá trong khoảng 58.5-73
o
C, tinh bột sắn dây là 62-
72
o
C, tinh bột huỳnh tinh là 61-81
o
C so với 56-66
o
C ở khoai tây và 62-72
o
C ở tinh bột
bắp. Nhiệt độ hồ hoá có thể thay đổi nếu ta tạo ra các dẫn xuất của tinh bột hay thêm các
chất có hoạt tính bề mặt. Nhiệt độ hồ hoá cũng ảnh hưởng đến chất lượng tinh bột nấu
thấp do tinh bột bị phá vỡ. Như vậy, sự khác nhau về tỷ lệ amylose và amylopectin của
mỗi loại tinh bột dẫn đến sự khác nhau và nhiều tính chất cơ bản của chúng. [1]
Tinh bột sắn có những tính chất tương tự như các loại tinh bột có chứa nhiều
amylopectin như độ nhớt cao, xu hướng thoái hoá thấp và có độ bền gel cao. Hàm lượng

thành phần nguyên liệu giấy không tro, các sản phẩm tã giấy cho trẻ em.
Ứng dụng trong công nghiệp dệt: Tinh bột dùng trong hồ vải sợi, in.
Ứng dụng trong nông nghiệp: Dùng làm chất trương nở, giữ ẩm cho đất và cây
trồng chống lại hạn hán.
SVTH: Phạm Thị Mỹ Yên Lớp: 06C2 10
Đồ án chuyên môn GVHD: Mạc Thị Hà Thanh
Các ứng dụng khác: Tinh bột được dùng làm màng plastic phân huỷ sinh học, pin
khô, thuộc da, keo nóng chảy, chất gắn, khuôn đúc, phụ gia nung kết kim loại.
0.3 Tinh bột biến tính
0.3.1. Các phương pháp biến tính tinh bột [2]
Phương pháp biến tính vật lý: là phương pháp biến tính tinh bột thuần túy dùng các
lực vật lý như ép, nén và hồ hóa tác dụng lên tinh bột để làm thay đổi một số tính chất của
nó nhằm phù hợp với những ứng dụng, sản phẩm tinh bột biến tính của phương pháp này
là những tinh bột hồ hóa, tinh bột xử lý nhiệt ẩm.
Phương pháp biến tính hóa học: là phương pháp sử dụng những hóa chất cần thiết
nhằm thay đổi tính chất của tinh bột, sản phẩm chủ yếu của phương pháp biến tính hóa
học là những tinh bột xử lý axit, tinh bột ete hóa, este hóa, phosphat hóa.
Phương pháp thủy phân bằng enzyme: là phương pháp biến tính tinh bột tiên tiến
hiện nay, cho sản phẩm tinh bột biến tính chọn lọc không bị lẫn những hóa chất khác. Sản
phẩm của phương pháp này là các loại đường gluco, fructo; các poliol như sorbitol,
mannitol; các axid amin như lysin, MSG, các rượu, các axid.
0.3.2. Phân loại tinh bột biến tính [2][12]
Dựa trên bản chất những biến đổi xảy ra trong phân tử tinh bột, Kovalxkaia chia
tinh bột biến tính bằng hoá chất thành 2 loại: tinh bột cắt và tinh bột bị thay thế .
Nhóm tinh bột cắt: trong phân tử tinh bột xảy ra hiện tượng phân cắt liên kết C-O
giữa các monome và những liên kết khác, giảm khối lượng phân tử, xuất hiện một số liên
kết mới trong và giữa các phân tử. Cấu trúc hạt của tinh bột có thể bị phá vỡ ít
nhiều.Trong công nghiệp thực phẩm, tinh bột loại này dùng để tạo cấu trúc gel trong sản
xuất bánh kẹo.
Tinh bột oxi hoá cũng được xếp và nhóm này. Một số loại tinh bột được oxi hoá bởi

Với công nghiệp khai khoáng, tinh bột được dùng trong tuyển nổi quặng, dung dịch
nhũ tương khoan dầu.
Với công nghiệp giấy, tinh bột được sử dụng để chế tạo chất phủ bề mặt, thành phẩn
nguyên liệu giấy không tro, các sản phẩm tã giấy cho trẻ em.
Với công nghiệp dệt, tinh bột dùng trong hồ sợi, in.
Với các ngành khác, tinh bột dùng làm màng plastic phân hủy sinh học, pin khô,
thuộc da, keo nóng chảy, chất gắn, khuôn đúc, phụ gia nung kết kim loại.
0.4 Maltodextrin
0.4.1. Ứng dụng trong công nghệ thực phẩm
Maltodextrin là phụ gia có nhiều ứng dụng trong công nghệ thực phẩm và công
nghệ dược. Trong công nghệ thực phẩm, Maltodextrin là chất cố định mùi, vị; thay đổi
cấu trúc và tăng cảm quan thực phẩm; chất trợ sấy; tăng năng lượng cho thực phẩm ăn
kiêng giúp thực phẩm dễ hòa tan, dễ tiêu hóa, tăng giá trị dinh dưỡng. Vì vậy,
Maltodextrin được dùng trong sản xuất sữa bột, bột trái cây hòa tan, cà phê, bánh ngọt,
nước xốt, tương ớt Trong công nghệ dược phẩm, Maltodextrin là chất độn để phối chế
thuốc. [2]
0.4.2. Ứng dụng của maltodextrin trong sản xuất một số sản phẩm thực phẩm
1.4.2.1. Ứng dụng maltodextrin trong sản xuất bột sữa dừa (coconut milk
powder) [1]
SVTH: Phạm Thị Mỹ Yên Lớp: 06C2 13
Đồ án chuyên môn GVHD: Mạc Thị Hà Thanh
Sữa dừa (nước cốt dừa) là một sản phẩm có giá trị cao được sử dụng rộng rãi trong
đời sống hằng ngày cũng như trong công nghệ thực phẩm để sản xuất bánh kẹo, kem…
Tuy nhiên, sữa dừa cũng là một sản phẩm rất dễ bị hư hỏng do vi sinh vật và các tác nhân
hóa lý như nhiệt độ, ánh sáng, oxy. Bột sữa dừa, về mặt sử dụng, tương tự như nước cốt
dừa nhưng thuận tiện hơn nhiều về mặt bảo quản và vận chuyển đến những nơi không có
dừa, đặc biệt có thể được sản xuất theo phương pháp công nghiệp. Các sản phẩm chế biến
từ dừa như bột sữa dừa, nếu giữ được các đặc điểm của dừa tươi có thị trường xuất khẩu
to lớn. Hiện nay Mỹ và Canada là hai nước tiêu thụ các sản phẩm chế biến từ dừa nhiều
nhất. Bột sữa dừa do Malaixia và Philipin sản xuất có mặt trên thị

Việt Nam là nước có truyền thống trồng và chế biến trà từ lâu đời. Các sản phẩm trà
truyền thống ở nước ta lâu nay là trà xanh, trà đen (hai sản phẩm chè có hương vị tự

nhiên) và trà ướp hương (sử dụng hương thơm các loại hoa khác) như trà hoa nhài, trà
sen, trà hoa ngâu…Các loại này có chất lượng khá cao, đủ tiêu chuẩn để xuất khẩu. Một
số loại trà được bổ sung thêm các loại dược liệu cũng đã và đang được chế biếnchế biến
ngày càng nhiều để tận dụng nguồn dược liệu có sắn trong nước. Đó là các loại trà an
thần, trả giải nhiệt (như trà atiso, trà khổ qua…), trà chống cảm cúm (trà gừng…). Trong
khoảng những năm 1990, trên thị trường thành phố Hồ Chí Minh xuất hiên các sản phẩm
trà mớ là trà túi lọc và trà hòa tan.
Do những đặc tính rất tiện lợi của nó như dễ dàng pha được một tách trà thật đặc,
khả năng hòa tan nhanh, không để lại bã thải rắn…nên trà hòa tan đang được sản xuất
ngày càng nhiều, đáp ứng nhu cầu sinh hoạt hiện đại thị trường Việt Nam hiện nay đã
xuất hiện nhiều sản phẩm trà hòa tan của nước ngoài (như trà sâm của Hàn Quốc…) hay
các công ty trong nước hoặc các công ty có vốn đầu tư của nước ngoài như trà chanh, trà
dưa hấu…(của hãng Nestle).
Maltodextrin được sử dụng trong chế biến các loại trà hòa tan như một chất kết dính
giúp quá trình tạo hình sản phẩm dễ dàng hơn. Nó được sử dụng như chất trợ sấy trong
công nghệ sản xuất trà hòa tan bằng phương pháp sấy phun.
Maltodextrin được sử dụng cũng là chất mang hương vị siêu hạng và là chất phát
tán cho các đồ uống hỗn hợp một cách nhanh chóng.
SVTH: Phạm Thị Mỹ Yên Lớp: 06C2 15
Đồ án chuyên môn GVHD: Mạc Thị Hà Thanh
Trà hòa tan có thể được sản xuất bằng phương pháp sấy phun. Sau khi trích ly và cô
đặc, dịch trà và dược liệu có nồng độ chất khô trong khoảng 5 -7%. Maltodextrin được
thêm vào dung dịch này tới khoảng 20% trước khi đem đi sấy phun. Ở các nước sản xuất
trà hòa tan trên thế giới, sau khi sấy phun sản phẩm được phun hương vị để bù vào phần
hương vị mất đi trong quá trình sấy.
Các sản phẩm trà hòa tan cũng được sản xuất dưới dạng viên ép hoặc dạng cốm.
Dịch trích ly từ trà hoặc nguyên liệu thảo dược sau khi lọc được cô đặc chân không tới

Sinh ra dịch dextrose có độ nhớt thấp ở 80 – 90
o
C trong 90 phút.
Dịch hóa toàn bộ tinh bột ở pH=5.8 và nhiệt độ 80 – 85
o
C.
Làm tăng năng suất quá trình lên men và quá trình nấu cháo.
Sinh ra bởi sự lên men của sinh vật không biến đổi gen.
Thành phần hoàn toàn tự nhiên, không có thành phần nhân tạo tổng hợp.
Amylase là hệ enzyme rất phổ biến trong thế giới sinh vật. Các enzyme này thuộc
nhóm enzyme thuỷ phân, xúc tác sự phân huỷ các liên kết sợi phân tử trong polysacharide
với sự tham gia của nước.
RR
1
+ H-OH RH +R
1
OH
Hiện nay người ta biết đã có 6 loại enzyme amylase, trong đó Bacillus Subtilis
amylase (hay glucoamylase) thuỷ phân các liên kết
α
- 1,4 glucoside của tinh bột và các
polysacharide đồng loại.
Trong quá trình sản xuất maltodextrin, enzyme tham gia thuỷ phân tinh bột để thu
sản phẩm là
α
-amylase.
0.5.2. Đặc tính và cơ chế tác dụng của enzyme
α
-amylase
Enzyme

-amylase lên amylopectin cũng xảy ra tương tự, nhưng vì
α
-
amylase không phân cắt được liên kết
α
-1,6 glucoside nên ở chỗ mạch nhánh trong phân
tử amylopectin nên dù có chịu tác dụng lâu thì trong snả phẩm cuối cùng còn có các
dextrin phân tử lượng thấp và izomaltose. Đặc tính quan trọng này của
α
-amylase khi
sản xuất maltodextrin đó là enzyme này chỉ thuỷ phân tinh bột thành chủ yếu là dextrin
phân tử thấp không cho màu với iodine và một ít maltose.[5]
Khả năng dextrin hoá cao của
α
- amylase là tính chất đặc trưng của nó. Vì vậy,
người ta thường gọi loại amylase này là amylase dextrin hoá hay amylase dịch hoá. [4]
α
-amylase là một metalenzyme. Các
α
-amylase đều chứa một lượng từ 1-30
nguyên tử gam Ca/mol, song không ít hơn 1- 6 nguyên tử gam Ca/mol.Khi tách hoàn toàn
Ca ra khỏi enzyme thì
α
-amylase mất hết khả năng thuỷ phân cơ chất. Vì Ca tham gia
vào sự hình thành và ổn định cấu trúc bậc Bacilus Subtilis của enzyme duy trì cấu hình
hoạt động của enzyme (Molodova,1965). [4]
α
-amylase bền nhiệt hơn các enzyme khác. Người ta cho rằng đặc tính này của
enzyme
α

-amylase của chủng vi khuẩn Bacilus Subtilis có tính chất bền nhiệt, nhiệt độ
tối thích của nó là là 70-75
o
C.Ở nhiệt độ 85
o
C vẫn giữ được hoạt lực, pH họat động tối
thích của
α
-amylase từ vi khuẩn Bacilus Subtilis là 6,0, bị vô hoạt hoàn toàn ở pH=4.0
và bị vô hoạt một nử ở pH=8.0. [4]
Khả năng dextrin hoá của các chế phẩm từ Bacilus Subtilis cao hơn khả năng đường
hoá 2 lần (Lifsit, Baznin-Senko, 1967) và có khả năng phân huỷ các hạt tinh bột nguyên
vẹn lẫn hồ tinh bột. [4]
Do các tính chất của
α
-amylase từ chủng vi khuẩn Bacilus Subtilis phù hợp với
việc ứng dụng trong sản xuất maltodextrin mà người ta lựa chọn loại enzyme này để thu
kết quả cao nhất.
Thu nhận bằng phương pháp bề sâu
Môi trường nuôi cấy cấu tử chính của môi trường là bột ngô. Ngoài ra còn có các
chất hiệp trợ khác như K
2
SO
4
, Lactose, NaCl, MgSO
4
. pH tối thích của môi trường để
nuôi vi khuẩn Bacilus Subtilis nhằm thu
α
-amylase thích hợp nhất là 6.8-7.5.

Tinh bột
Thuỷ phân
Tẩy màu
Lọc
Enzyme Amilase
Sấy
Thành phẩm
Đồ án chuyên môn GVHD: Mạc Thị Hà Thanh
1.2 Thuyết minh quy trình
1.2.1. Lựa chọn nguyên liệu
Tinh bột sắn là nguồn nguyên liệu dồi dào và rẻ tiền, chất lượng phù hợp để sản
xuất maltodextrin. Nguyên liệu chứa tinh bột càng tinh, hàm lượng càng ít protein thì chất
lượng dịch thuỷ phân càng tốt, ít bị sẫm màu, tinh chế càng dễ dàng. Sử dụng tinh bột sắn
biến tính bằng hoá chất có thể cái thiện độ nhớt và hiện tượng thoái hoá của dung dịch sau
thuỷ phân.Tuy nhiên chi phí ban đầu cao là một trong những hạn chế khi sử dụng dạng
nguyên liệu này. [1]
Bảng 2.1: Các chỉ tiêu chất lượng của tinh bột sắn.[11]
Chỉ tiêu chất lượng
Tiêu chuẩn UDC 664 –
272 (*)
Tiêu chuẩn
FAO - 1975
Tiêu chuẩn
TCVN– 1985
1 2 3 4
1. Hàm lượng Hydratcacbone (%)
≥ 88.5 ≥ 84 ≥ 84
2. Độ ẩm (%)
≤ 12.5
(12 – 13) (12 – 14)

Đồ án chuyên môn GVHD: Mạc Thị Hà Thanh
Hình 2.1: Sơ đồ sản xuất maltodextrin liên tục bằng phương pháp enzyme [1]
Trong thiết bị chứa sữa tinh bột sắn bao gồm 35% chất khô, pH = 6.3, hàm lượng
Ca
2+
là 40 ppm, 0,5kg chế phẩm enzyme Termamyl.
Quá trình hồ hoá
Mục đích: Trong nguyên liệu tinh bột sắn, hạt tinh bột luôn nằm trong màng tế bào.
Khi nghiền chỉ một phần các màng đó bị phá vỡ, phần lớn các màng còn lại sẽ ngăn cản
việc tiếp xúc của amylase với tinh bột. Mặt khác, hạt tinh bột ở trạng thái không hoà tan
thì amylase tác dụng lên tinh bột rất chậm và kém hiệu quả. Vì vậy mục đích của việc
dịch hoá nguyên liệu giàu tinh bột là nhằm phá vỡ màng tế bào của tinh bột và biến đổi
tinh bột sang dạng hoà tan trong nước.
Cách tiến hành
Khi xử lý tinh bột sắn ở nhiệt độ lớn hơn 100
o
C, tinh bột sẽ trương nở và hồ hoá
hoàn toàn so với ở nhiệt độ 70
o
C, đặc biệt ở nhiệt độ cao làm duỗi các cấu trúc xoắn kép
của amilopectin, các phức amilose-lipid cũng được giải phóng giúp phá vỡ cấu trúc tinh
thể, tạo điều kiện để nước và enzyme có thể xâm nhập sâu và cắt các mạch polyme dài
thành những mạch ngắn hơn một cách đồng đều.
Quá trình dịch hoá
Mục đích: Dung dịch hồ có độ nhớt cao gây cản trở hoạt động của các enzyme và
dễ gây cháy cục bộ khi nâng nhiệt. Dưới tác dụng của
α
-amylase, phân tử tinh bột bị cắt
ngẫu nhiên thành các dextrin làm độ nhớt dung dịch giảm nhanh chóng. Với sự có mặt
SVTH: Phạm Thị Mỹ Yên Lớp: 06C2 23

đục và sẫm màu dung dịch, gây khó khăn cho quá trình lọc và tẩy màu về sau. [1]
Quá trình thuỷ phân xảy ra hoàn hảo giúp giảm bớt những thành phần
polysaccharide phân tử lượng lớn như các dextrin mạch dài, tinh bột chưa thuỷ phân, góp
phần cải thiện đáng kể độ nhớt và tính thoái hoá của dung dịch sản phẩm.
Các enzyme amilase vi khuẩn có hoạt tính cao và khả năng bền nhiệt cao nên được
sử dụng để thay thế cho phương pháp thuỷ phân bằng acid để sản xuất maltodextrin. Một
số enzyme tạo malto-oligosaccharide cũng được sử dụng để sản xuất maltodextrin hay tạo
các oligosacharide dùng trong thực phẩm, y học và công nghiệp dược. [2]
1.2.3. Tẩy màu
Mục đích
SVTH: Phạm Thị Mỹ Yên Lớp: 06C2 24
Đồ án chuyên môn GVHD: Mạc Thị Hà Thanh
Dung dịch tinh bột sau thuỷ phân bị sẫm màu do các sản phẩm phản ứng phân huỷ
protein, phân huỷ các đường đơn giản và các sản phẩm của phản ứng Mailard. Chính vì
thế mà maltodextrin cần được tẩy màu bằng than hoạt tính để thu dung dịch trong, hoàn
toàn không màu, không mùi và không vị.
Cách tiến hành
Dịch Maltodextrin được pha loãng đến nồng độ chất khô 20%. Sau đó tẩy màu bằng
than hoạt tính (tỷ lệ than 0.2-0.3% chất khô). Để thuận lợi cho quá trình tẩy màu bằng
than hoạt tính, dung dịch có pH=5.6, tức là dung dịch hơi mang tính acid yếu, hơn nữa ở
pH này, một số aminoacid kết tủa được tách ra hết.
Cần chú ý rằng khi tỉ lệ các chất hấp phụ cho vào dầu lớn thì tổn thất dầu theo chất
hấp phụ càng nhiều, tuy rằng khả năng làm sáng màu dịch maltdextrin có tăng lên.
Người ta tiến hành tẩy màu trong các thiết bị có độ chân không 690-700 mmHg, có
cánh khuấy, gia nhiệt gián tiếp đến nhiệt độ 90-95
o
C trong khoảng thời gian 2-2.5 giờ tính
cả thời gian lọc. Sau khi tẩy màu, tiến hành lọc dầu bằng máy lọc khung bản, hoặc dùng
máy li tâm để tách các chất hấp phụ ra khỏi dịch maltodextrin, nhiệt độ lọc khoảng < 60
o


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status