DANH NHÂN TRIẾT HỌC
F. Brentano - Người đặt nền móng cho lý luận về tính ý
hướng Franz Brentano (1838 - 1917) - nhà triết học người Áo, một trong những người có
ảnh hưởng lớn nhất về mặt trí tuệ và có sức thu hút rất lớn về mặt đời sống cá
nhân. Ông đặc biệt nổi tiếng về sự phân biệt giữa những hiện tượng tâm lý và
những hiện tượng thể chất dựa trên nền tảng tính ý hướng, định hướng trực tiếp
vào tư duy. Khi phục hồi tư tưởng của Arixtốt và phương pháp kinh nghiệm trong
triết học và trong tâm lý học, học thuyết về giỏ trị và đạo đức của ông được biện
hộ bởi khái niệm của những xúc cảm đối lập hoặc những quan điểm về yêu, ghét.
F.Brentano cũn nổi tiếng với những đóng góp lý luận về những phạm trự siờu hỡnh
học, hiện tượng học, nhận thức luận, lôgíc học tam đoạn luận và triết học tôn giáo.
Công việc giảng dạy của ông cũng đó tạo nờn những ảnh hưởng sâu rộng, tác động
mạnh đến những sinh viên của ông ở Wurzburg và ở Vienna. Nhiều người trong số
họ đó trở thành những nhà tư tưởng được cả thế giới kính trọng trong các lĩnh vực
của họ, như Meinong, Husserl, Twardowski, Chirstian von Ehrenfels, Anton Marty
và Freud.
F.Brentano bắt đầu sự nghiệp nghiên cứu triết học trong trường Trung học Hoàng
gia Aschaffenburg ở Bavarian Gymnasium. Vào những năm 1856 - 1858, ông học
tại Đại học Munich và Đại học Wurzburg, sau đó được tuyển vào Đại học Berlin -
nơi mà lần đầu tiên, ông được đảm nhận trỏch nhiệm nghiờn cứu siờu hỡnh học
Arixtốt dưới sự giám sát của F.A.Trendelenburg. Vào những năm 1859 - 1860,
ông học ở Học viện Munster, nghiên cứu trường phái Arixtốt thời kỳ Trung cổ.
Năm 1862, ông nhận học vị tiến sĩ triết học. Trong những năm 1866 - 1874, ụng là
giảng viên với tư cách người diễn thuyết ở Khoa Triết học, trường Đại học
Tubingen và sau đó, ông nhận học hàm giáo sư ở Đại học Vienna. Năm 1880, ông
kết hôn và quyết định tạm thời từ bỏ vị trớ của mỡnh để được trở thành một công
giác nội tại - cái cùng tồn tại trong một hành vi ý thức với bất cứ hình thức hoạt
động tâm lý nào. Mỗi hình thức này, theo ông, đều có thể nhận thức được trong ý
thức với tư cách tự nó: quan niệm với tư cách là quan niệm, phán đoán với tư cách
là phán đoán. Tri giác nội tại hay kinh nghiệm nội tại cũng đồng thời là cội nguồn
của tính hiển nhiên, quan niệm được nhận thức trong ý thức với tư cách quan niệm
mà chúng ta có được, phán đoán với tư cách phán đoán mà chúng ta nói ra(1).
Trong vấn đề này, ông đã thể hiện rõ sự bất đồng quan điểm với I.Cantơ. Theo
ông, kinh nghiệm nội tại không bao hàm trong nó sự phân chia thành sự vật và
hiện tượng. Với ông, những hiện tượng vật lý chẳng qua chỉ là hình dáng, màu sắc,
phong cảnh mà chúng ta nhận thấy, là những âm thanh chúng ta nghe thấy; đối
tượng của các khoa học tự nhiên chẳng qua chỉ là các hiện tượng vật lý được bộc
lộ ra trong những cảm giác; còn việc đồng nhất các lực gây ra cảm giác với đối
tượng là sự ước lệ đem lại cho khách thể của khoa học một sự tồn tại ổn định nào
đó(2).
Từ việc phân biệt các hiện tượng tâm lý và vật lý, F.Brentano đã đưa ra lý luận về
tính ý hướng. Ông cho rằng, hiện tượng tâm lý được cấu thành bởi các hiện tượng
nghe, nhìn, cảm giác, tư duy, phán đoán, suy lý, yêu, ghét,… Đặc trưng loài của
những hiện tượng này là tính ý hướng. Trong Tõm lý học nhỡn từ lập trường kinh
nghiệm chủ nghĩa, ông đó núi rừ: Tớnh ý hướng là biểu hiện của tinh thần; rằng,
mọi kinh nghiệm tâm lý đều bao gồm khách thể được ý hướng, và có thể gọi
chúng là đối tượng ý hướng mà tư tưởng trực tiếp hướng vào. Vỡ vậy, trong sự
mong muốn, người ta có thể ước muốn bất cứ cỏi gỡ cũng được. Với luận điểm về
tính ý hướng nội tại thỡ điều đó nghĩa là, đối tượng mong muốn, theo nghĩa đen,
được chứa đựng trong kinh nghiệm tõm lý của sự mong muốn. Từ quan niệm này,
ụng cho rằng, điều đó là duy nhất đúng với cái tinh thần trong sự đối lập với
những hiện tượng thể chất hay phi tâm lý và do vậy, tớnh ý hướng của tâm lý khỏc
với cỏi tinh thần từ trạng thỏi vật chất. Cũng từ quan niệm về tớnh ý hướng nội tại
này, ông đó xỏc định 3 hiện tượng tâm lý học: tư duy, phán đoán và cảm xúc. Hơn
nữa, ụng cũn khẳng định rằng, mọi tư duy đều diễn ra một cách tự giác, được phản
tại bên ngoài làm cơ sở. Ví dụ, khi chúng ta ý thức về cái xe, thì không cần phải có
cái xe thực tại trước, cái xe trong ý thức của tôi chỉ là bản mô phỏng theo nó mà
thôi; bản mô phỏng này tồn tại trong tâm linh con người như là hình ảnh tinh thần.
Ngược lại, ngay dù cái xe như vậy, về căn bản, không tồn tại, con người vẫn có thể
ý thức được nó. Trên thực tế, những vật như cái xe đều do con người trước hết tạo
ra trong ý thức, sau đó mới tạo ra nó trong thực tế. Quan hệ chặt chẽ đó giữa ý
thức và đối tượng không thiết lập trước tồn tại thực tế của hai phía. Quan hệ đó chỉ
yêu cầu hoạt động của ý thức hoặc của tư duy được triển khai chân thực, còn vật
được ý thức tới hoặc được tư duy tới thì không nhất định phải tồn tại(3).
Không chỉ nhấn mạnh quan hệ chặt chẽ giữa hoạt động của ý thức và đối tượng
của nó, hoặc nói “tôi nghĩ” thì phải nói “tôi nghĩ về vật nào đó”, F.Brentano còn
phân tích một cách sáng tạo quá trình nhận thức của con người (phân tích những
biểu tượng và sự phán đoán của con người). Điều đó cũng có nghĩa là, ông đã
phân biệt sự khác nhau giữa hoạt động mang tính ý hướng của ý thức và đối tượng
của ý hướng. Sự phân biệt đó cho thấy rõ đằng sau nhiều biểu tượng hiển thị trong
quá trình nhận thức, còn có “sự nhộn nhịp” của hoạt động mang tính ý hướng.
Điều này đã có ảnh hưởng và giá trị gợi mở rất lớn đối với các nhà tư tưởng hậu
thế. Sau này, chính Husserl là người đã kế tục sự nghiệp của F.Brentano bằng việc
phát hiện ra lĩnh vực ý thức thuần tuý và kết cấu của nó. Còn Haiđơgơ thì dựa trên
hoạt động của tính ý hướng để tìm ra sự tồn tại ẩn giấu đằng sau vật tồn tại(4).
Quan hệ tính ý hướng giữa ý thức và đối tượng như vậy được F.Brentano gọi là
tính ý hướng nguyên sơ. Trên cơ sở này, ông đã nghiên cứu tính ý hướng cao cấp
hơn - quan hệ giữa ý thức và tự ý thức. Ví dụ, khi tôi nhớ là đã nhìn thấy một màu
sắc nào đó thì khi ấy, màu sắc và hoạt động “nhìn” đều ở trong quan hệ tính ý
hướng; đồng thời hoạt động “nhìn” cùng với hoạt động “nhớ” lại ở trong một quan
hệ nào đó. Quan hệ đó là quan hệ gì, có phải là ý thức có thể trực tiếp hướng vào
chính bản thân nó hay không? Hoặc là, hai cái đó dứt khoát là một chỉnh thể thống
nhất, không thể phân chia và do vậy, không thể nói đó là quan hệ gì.
luận siêu nghiệm. Mặc dù vậy, học thuyết về tớnh ý hướng nội tại của F.Brentano
vẫn bị nhiều nhà triết học bác bỏ, kể cả những người vẫn đồng ý với ông về quan
điểm cho rằng, tư duy, về bản chất, luôn trực tiếp hướng đến khách thể.
Bất chấp sự phản đối đó, tâm lý học kinh nghiệm của F.Brentano với luận điểm
độc đỏo về tớnh ý hướng vẫn có ảnh hưởng lớn đến hiện tượng học của Husserl và
Haiđơgơ, đến chủ nghĩa hiện thực mới, triết học phân tích, trường phái tâm lý học
Viursburg và tâm lý học hiện tượng. Với những đóng góp và ảnh hưởng về mặt
triết học cùng với công việc giảng dạy và gương mẫu về đạo đức cá nhân,
F.Brentano đã để lại một dấu ấn sâu đậm trong lịch sử triết học phương Tây hiện
đại và được coi là người đặt nền móng cho lý luận về tính ý hướng.
(1) Xem: Triết học phương Tây hiện đại - Từ điển. Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội,
1996, tr.57.
(2) Xem: Sđd., tr.57-58.
(3) Xem: Diêu Trị Hoa. Edmund Husserl. Nxb Thuận Hóa, 2005, tr.126.
(4) Xem: Diêu Trị Hoa. Sđd., tr.127.
(5) Xem: Diêu Trị Hoa. Sđd., tr.128.
(6) Xem: Triết học phương Tây hiện đại - Từ điển. Sđd., tr.58.