Đề tài " Phân tích tâm lý nhà đầu tư trên thị trường chứng khoán Việt Nam " - Pdf 20

Trường Đại học Kinh tế thành phố Hồ Chí Minh
Khoa Tài Chính Doanh Nghiệp
Bộ môn: Tài chính tiền tệ
Giảng đường: TC khối 4
N h ó m t h ự c h i ệ n :
Nguyễn Hồng Việt Thành – TC 12
Nguyễn Văn Thịnh – TC 12
Đỗ Quốc Thịnh – TC 10
Nguyễn Hoàng Lâm – TC 10
GVHD: Nguyễn Anh Tuấn
“Tiền bạc không tự nhiên sinh ra và cũng không tự
nhiên mất đi trên thị trường chứng khoán mà nó chỉ
chuyển giao từ nhà đầu tư này sang nhà đầu tư
khác.”
Phân tích tâm lý
nhà đầu tư trên thị
trường chứng
khoán Việt Nam



Năm 2007, “chơi chứng khoán” đã được báo chí nói tới như một thứ “mốt”, một
“phong trào” lan truyền nhanh hơn bất cứ dịch bệnh nào, trên khắp cả nước. Không có gì
phải chối cãi khi cho rằng hiệu ứng chứng khoán năm 2007 đã thực sự tác động tới tất cả
mọi người. Chứng khoán “nóng” tới mức hệ thống máy chủ của thị trường chứng khoán bị
“treo”, kéo theo sàn chứng khoán của Trung tâm giao dịch chứng khoán TP.HCM phải
ngừng phiên giao dịch sáng 2/2/2007. Đây là lần thứ hai Trung tâm giao dịch chứng khoán
TP.HCM phải ngừng giao dịch vì các “lỗi kỹ thuật”. Cũng vào thời điểm đó, Jonathan
Pincus – Kinh tế gia trưởng của Liên hiệp quốc tại Hà Nội đã cảnh báo: “Thật điên rồ, tất
cả những ồn ào ở Hà Nội đều xoay quanh chuyện chứng khoán. Tôi không biết liệu có ai
hiểu cái gì là giá trị của những công ty, song họ vẫn đang mua bán những tờ giấy”. Thực

II- Những trang bị cần thiết cho NĐT khi tham gia TTCK

!"#$%&'(
)*+,-./,0,1230,12*,45
6)*+,0,1
Tâm lý con người là sự phản ánh chủ quan thế giới khách quan, có cơ sở tự nhiên là
hoạt động thần kinh và hoạt động nội tiết được nãy sinh từ các hoạt động sống của từng
người và gắn bó với các quan hệ xã hội, là tất cả những hiện tượng tinh thần nảy sinh
trong đầu óc chúng ta, nó tham gia điều khiển, điều chỉnh những hành vi, hành động, hoạt
động của con người. Nói cách khác tâm lý là nhận thức, trí tuệ, cảm xúc, tình cảm, ý chí
đến tính cách, ý thức và tự ý thức, là nhu cầu, năng lực, đến các động cơ hành vi, đến
những hứng thú và khả năng sáng tạo, khả năng lao động đến các tâm thế xã hội và định
hướng giá trị v.v…
Tâm lý phản ánh thế giới khách quan giúp con người nhận biết được thế giới khách
quan, phân tích, đánh giá các sự vật hiện tượng xảy ra xung quanh.Và khi đã hình thành
thì nó tác động trở lại thế giới hiện thực khách quan. Hiện tượng tâm lý liên quan chặt chẽ
với hiện tượng khác trong đời sống chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, … Cùng với các
hiện tượng khác tâm lý giúp con người có động lực để hành động, định hướng, điều chỉnh
mọi hoạt động của mình làm cho các hoạt động đó thích nghi với thế giới, tiến tới cải tạo
thế giới, hoàn thiện thế giới và hoàn thiện cá nhân mình.
70,12*,45

Tâm lý đám đông là hiện tượng tinh thần chung của nhiều cá nhân, phát sinh do sự
tương tác tâm lý giữa các thành viên trong đám đông hay cộng đồng; hoặc bởi tâm lý nào
đó nổi trội, có sức ảnh hưởng. Tức là ý thức cá nhân biến mất và có sự xoay chuyển tình
cảm, suy nghĩ của các cá nhân về cùng một hướng. Một tâm hồn chung được hình thành,
nó dĩ nhiên có thể biến đổi, nhưng hoàn toàn là một thể loại xác định, điều này không phải
lúc nào cũng đòi hỏi sự có mặt đồng thời của nhiều thành viên tại một địa điểm duy nhất.
Hiệu ứng đàn bầy là thuật ngữ dùng để chỉ cách mà con người bị ảnh hưởng bởi
những người xung quanh trong việc lựa chọn những hành vi, xu hướng, và cách thức ra

mong muốn cá nhân cho mong muốn của cả tập thể.
• Nguyên nhân thứ ba và là nguyên nhân quan trọng nhất, nó làm cho thành viên
của đám đông bộc lộ những cá tính đặc biệt hoàn toàn mâu thuẫn với những cá
tính của những người đó khi họ chưa là thành viên của đám đông.

&3=>*,45
6&3?45@A1=>BC
Các nhà đầu tư sẽ có hành vi không hợp lý khi họ không phân tích và xử lý “đúng”
những thông tin mà họ có (và thị trường cung cấp), hoặc tiếp nhận những thông tin sai
lệch, không chính thống từ đó dẫn đến những kỳ vọng lệch lạc về tương lai của cổ phiếu
mà họ đầu tư vào. Có một số dạng lệch lạc trong nhận thức tiêu biểu trong thị trường
chứng khoán như sau:
• Phụ thuộc vào kinh nghiệm hay thuật toán (Heuristics): Dựa dẫm quá nhiều vào
các quy tắc đôi khi sẽ dẫn đến sai lầm, đặc biệt là khi các điều kiện bên ngoài
thay đổi.
• Lệch lạc do tình huống điển hình: Xu hướng không quan tâm nhiều đến những
nhân tố dài hạn, mà thường đặt nhiều quan tâm đến những tình huống điển hình
ngắn hạn.
• Bảo thủ (conservatism): Khi điều kiện thay đổi (thông tin mới về triển vọng nền
kinh tế chẳng hạn), người ta có xu hướng chậm phản ứng với những thay đổi.
• Quá tự tin (overconfidence): Có nhiều nghiên cứu tâm lý học trên thị trường tài
chính cho thấy các nhà đầu tư tỏ ra quá tự tin vào những quyết đinh của mình.
• Định nghĩa hẹp (narrow framing): Cô lập một khái niệm hay phân tích một vấn
đề trong một khuôn khổ hạn hẹp, tách biệt, và cố gắng đưa ra quyết định tối ưu
cho khuôn khổ hạn hẹp ấy, thay vì cho toàn cục.
• Tính toán bất hợp lý (mental accounting): Xu hướng tách riêng các quyết định
mà đúng ra phải được kết hợp lại với nhau vào các tài khoản ảo trong trí tưởng
tượng và tối đa hóa lợi ích từng tài khoản. Và vì thế, đôi khi chúng ta đưa ra các
quyết định nhìn tưởng là hợp lý, mà thật ra là sai lầm.
7&3?45@A1,>5+;5


nước ngòai đổ lỗi cho sự "điên cuồng” của nhà đầu tư trong nước. Tuy nhiên quy chung
lại phần lớn đồng tình cho rằng nguyên nhân chính là do tâm lý đầu tư bầy đàn, đầu tư
theo phong trào của các nhà đầu tư trong nước- thiếu kiến thức cũng như không có kỳ
vọng riêng, do đó chơi chứng khoán trong thời gian năm 2007 đã được báo chí nói tới
như một thứ “mốt”, một “phong trào” lan truyền nhanh hơn bất cứ dịch bệnh nào, trên
khắp cả nước. Không có gì phải chối cãi khi cho rằng hiệu ứng chứng khoán năm 2007 đã
thực sự tác động tới tất cả mọi người. Chứng khoán “nóng” tới mức hệ thống máy chủ của
thị trường chứng khoán bị “treo”, kéo theo sàn chứng khoán của Trung tâm giao dịch
chứng khoán TP.HCM phải ngừng phiên giao dịch sáng 2/2/2007. Đây là lần thứ hai
Trung tâm giao dịch chứng khoán TP.HCM phải ngừng giao dịch vì các “lỗi kỹ thuật”.
Nhưng câu chuyện TTCK thay đổi hoàn toàn trong năm 2008 – đầu năm 2009 khi
chỉ số VN-Index liên tiếp giảm, liên tục tạo nên những đáy mới. Đúng là thật khó tiên
liệu diễn biến trên TTCK Việt Nam. Mọi lý thuyết, mọi mô hình của thị trường hiệu
quả dường như vô nghĩa. Mặc dù nhà đầu tư được cảnh báo chứng khoán đã vượt quá giá
trị thật hơn 30% (2007) (số liệu VNExpress) nhưng họ vẫn mua bán, thị trường vẫn không
ngừng sôi động. Thậm chí cung không đủ cầu. Hay khi nhìn nhận thị trường ảm đạm
(2008-2009) thì họ lại kéo nhau tháo lui mà không cần xem xét nguyên nhân.
Dễ thấy thị trường chứng khoán Việt Nam không vận hành theo bất cứ một quy
luật nào. Mọi lý thuyết có vẻ như hoàn toàn thất bại. Có lẽ đã đến lúc dùng đến các lý
thuyết cơ bản dựa trên tâm lý con người để giải thích những bất thường trên TTCK.
D0859:;0,12=>BC
6&3?45@A1=>BC

Dễ dàng đưa ra các quyết định đầu tư dựa vào cảm tính, dựa vào một tin đồn,
một lời khuyên, một lời phát biểu mà không tự mình nghiên cứu để đưa ra các kết luận
của chính mình về việc mua hay bán cổ phiếu nào, giá bao nhiêu, khi nào và tại sao.
Tâm lý đó khiến cho nhà đầu tư không tự nhìn vào chính mình để đánh giá mình,
các quyết định của mình, và để tự chịu trách nhiệm. Và rất dễ dẫn đến việc trông chờ
vào người khác, để hỗ trợ, giúp đỡ. Nhưng nếu việc dựa vào người khác đó không đem

phần lớn đã vội bán cổ phiếu. Nhìn lại lại thị trường cổ phiếu năm 2007 là giai đoạn bùng
nổ. Chúng ta thấy được một điều rằng là các nhà đầu tư đã không dựa vào những nhận xét
đánh giá của chính mình mà đã mua vào một cách ào ạt. Đẩy giá cổ phiếu lên cao hơn so
với giá trị thật của nó, TTGDCK Hà Nội tăng gấp 6 lần về khối lượng và 15,8 lần về giá
!"
trị giao dịch so với năm 2006. Nhưng với nỗi sợ về một thị trường bong bóng các cơ quan
quản lý nhà nước cũng như Chính phủ đã vào cuộc để giảm nhiệt thị trường bằng các biện
pháp kiểm soát thị trường chặt chẽ, ban hành những thiết chế để kiềm chế sự tăng trưởng
quá nóng của thị trường. Lập tức thị trường phản ứng một cách thoái hóa chỉ trong vòng
một tháng giao dịch đã giảm 22,6%.
Nguyên nhân chính từ thiếu nhận định đầu tư, nhầm lẫn mục đích và tiêu chí đầu
tư của chính cá nhân mình, từ đó thiếu tự tin và chánh kiến trong đầu tư. Làm cho nhà
đầu tư có sự thay đổi đầu tư khi rủi ro và nhJng bất lợi diễn ra tren thị trường.
7&3?45@A1,>5XA/
("#)* !+*, !-.-/"#012
Rất hiếm ở nơi nào mà rất nhiều phiên hoặc chỉ có người bán, hoặc chỉ có người
mua, đã lên thì lên kịch trần và đã xuống thì xuống cũng kịch sàn, đã lên thì dù có tin xấu
cũng bị bỏ qua, xuống thì dù có tin tốt cũng không thể kéo lại.
TTCK Việt Nam trong năm 2006 có mức tăng trưởng cao nhất khu vực Châu
Á- Thái Bình Dương với 145% , thậm chí đứng trên TTCK Thượng Hải với mức tăng
130%. Và đầu năm 2007 vẫn đang tăng 46% - cao nhất trên thế giới (Theo kết quả công
bố của Sở Giao Dịch Chứng Khoán) Thị trường tăng mãnh liệt đã gây sốc cho không ít
nhà đầu tư trong nước và các chuyên gia chứng khoán kể cả những nhà quản lý thị trường.
Kéo theo đó sự lo sợ nguy cơ hình thành bong bóng trên TTCK.
Nhiều nghiên cứu đã được đưa ra, cho rằng TTCK VN vẫn còn mang nặng yếu tố
tâm lý mà ở đây là tâm lý đám đông phản ứng quá mức đối với thị trường. Tất nhiên đây
cũng không phải là đặc sản của VN. Thị trường nhiều nước khác, ngay cả những nước
phát triển, cũng có những giai đoạn tương tự. Vấn đề là dường như tâm lý bầy đàn hiện
vẫn chi phối quá nhiều đến hành vi của đa số các nhà đầu tư cá nhân và ngay cả nhà đầu
tư tổ chức.

phải trả cho việc sử dụng tiền của người khác. Đối với hầu hết chúng ta thì thuật ngữ” lãi
suất” có lẽ là không có gì xa lạ. Lãi suất có thể ảnh hưởng đến toàn bộ nhà đầu tư chính là
lãi suất chiết khấu của ngân hàng trung ương (ở VN là ngân hàng nhà nước). Với những
kiến thức liên quan đến bộ môn LTTCTT, trong phạm vi bài tiểu luận, chúng tôi xin đề
cập trực tiếp đến tác động của lãi suất chiết khấu đến TTCK mà không nhắc lại một số
khái niệm cơ bản.
:< +'=$%
Sự thay đổi trong lãi suất chiết khấu đã ảnh hưởng một cách gián tiếp đến hành vi của
các nhà đầu tư cũng như các doanh nghiệp, nhưng không dừng lại ở đó,thị trường chứng
khoán cũng bị ảnh hưởng. Như chúng ta đã biết, một trong những cách để định giá một
doanh nghiệp chính là đưa tất cả các dòng tiền kỳ vọng trong tương lai chiết khấu về hiện
tại. Lấy giá trị của doanh nghiệp chia cho số lượng cố phần đang lưu hành ta có giá trị một
cổ phần. Gía chứng khoán thay đổi tuỳ theo các kỳ vọng khác nhau của nhà đầu tư về
công ty ở các thời điểm khác nhau. Do đó mà nhà đầu tư sẵn sàng mua hoặc bán cổ phần ở
các mức giá khác nhau.
Một khi doanh nghiệp bị thị trường nhìn thấy là sẽ cắt giảm các chi phí đầu tư
tăng trưởng hoặc là doanh nghiệp đang tạo ra lợi nhuận ít hơn vì chi phí vay nợ tăng cao
hoặc là doanh thu sụp giảm do người tiêu dùng thì dòng tiền tương lai được dự đoán sẽ
giảm đi. Và hệ quả là giá cổ phần của doanh nghiệp sẽ thấp xuống. Nếu số lượng doanh
!
nghiệp trên TTCK có sự sụp giảm này đủ lớn thì xét toàn bộ thị trường, chỉ số thị trường
chứng khoán sẽ giảm.
: &!'
Đối với nhiều nhà đầu tư, thị trường đi xuống hoặc giá chứng khoán sụt giảm là
điều không hề mong muốn. Nhà đầu tư nào cũng kỳ vọng giá trị khoản đầu tư của mình sẽ
không ngừng tăng lên, có thể là ở dạng lãi vốn, cổ tức hoặc cả hai. Nhưng với kỳ vọng về
sự tăng trưởng trong tương lai thấp hơn và dòng tiền trong tương lai của doanh nghiệp
không tốt như mong đợi, chắc chắn không nhà đầu tư thông minh nào tiếp tục đánh giá
cao doanh nghiệp, nhà đầu tư sẽ mong đợi ít hơn khi sở hữu các cổ phần.
Hơn nữa, đầu tư vào cổ phiếu có thể được xem là rủi ro hơn so với việc đầu tư vào

thiếu hiệu quả vững chắc.
Thậm chí, chỉ cần một sự thay đổi nhân sự cấp cao trong công ty cũng có thể khiến
giá chứng khoán đó sụt giảm. Và rủi ro đối với nhà đầu tư sẽ là tối đa khi công ty phát
hành chứng khoán bị phá sản và biến mất trên thương trường. Nhà đầu tư chứng khoán
cũng có thể chịu rủi ro do “bỏ hết trứng vào một giỏ”. Thậm chí, việc sở hữu thuần túy các
cổ phiếu ưu đãi mà không được chuyển nhượng trong thời hạn nhất định (thường từ 3-5
năm) cũng có thể khiến nhà đầu tư gặp rủi ro, nhất là khi cần tiền để trả lãi vay ngân hàng
hoặc muốn rút vốn về để đầu tư vào chỗ khác. Ngay cả những chứng khoán tốt nhất cũng
có thể không giữ vững được vị thế lâu dài trước sự biến động của thị trường. Điều này
cũng đồng nghĩa với việc các nhà đầu tư chứng khoán này có thể phải hứng chịu cả hai
thiệt hại dạng “khấu hao hữu hình” và “khấu hao vô hình” giá trị và tính thanh khoản của
các chứng khoán đang nắm giữ.
7G=b45
Thật hiếm có hoạt động kinh doanh nào mà sự thành bại của nhà đầu tư lại đòi hỏi và
gắn liền với yêu cầu về tính đa dạng, tính hệ thống, toàn diện, cập nhật và chính xác của
các thông tin có liên quan trực tiếp và gián tiếp như đầu tư chứng khoán.
Chân dung nhà đầu tư chứng khoán điển hình là người luôn háo hức trước mọi tin
đồn và hăng hái góp phần vào tin đồn; luôn cảnh giác đề phòng và cũng rất nhẹ dạ, cả tin;
ranh ma và nhạy cảm; quen biết nhiều, nhưng không kết bạn thân với ai trong làng chứng
khoán. Và trong số họ, ai nắm được thông tin tốt hơn cả thì sẽ dễ dàng chiến thắng và
giảm thiểu được nhiều rủi ro.
!
Nói cách khác, rủi ro trong kinh doanh chứng khoán có nguồn gốc rất sâu đậm từ số
lượng và chất lượng thông tin mà nhà đầu tư cần để làm cơ sở đưa ra các quyết định đầu
tư. Rủi ro luôn rình rập ở mọi nơi và nhà đầu tư sẽ phải trả giá sớm hay muộn, đắt hay rẻ,
khi không nắm được các thông tin chính xác nhất, đầy đủ và kịp thời nhất liên quan đến
môi trường đầu tư, chất lượng chứng khoán và tình hình thị trường
Một báo cáo tài chính hoặc cáo bạch chưa được kiểm toán, thẩm định bởi các tổ
chức độc lập, chuyên nghiệp, có uy tín và trình độ chuyên môn cao; một thông tin đến
chậm hoặc bị cắt xén, không chính xác về hoạt động kinh doanh của công ty phát hành cổ

tương tự nên không thực hiện được sớm hoặc hết các lệnh đã đặt; hoặc rủi ro vì họ buộc
phải mua - bán bằng hết các chứng khoán đã đặt lệnh theo mức giá thị trường thời điểm
hiện hành cao (khi mua vào) hoặc thấp hơn (khi bán ra) so với mức lệnh đã đặt.
eG=b*W5^C_5
Các nhà đầu tư chứng khoán, nhất là các nhà đầu tư nhỏ, có thể phải gánh chịu nhiều
rủi ro liên quan đến các chấn động thị trường trong nước hoặc nước ngoài gây ra, bởi:
- Các trào lưu mua, bán chứng khoán theo tâm lý đám đông làm phá vỡ các quy luật
vận động bình thường của thị trường.
- Các hoạt động đầu cơ, tung tin đồn thất thiệt, gây nhiễu thông tin và tự đánh bóng,
thổi giá hoặc thậm chí lừa đảo và thông đồng có tổ chức của các nhà đầu tư chuyên nghiệp
đủ sức gây biến động thị trường hòng trục lợi.
- Các chấn động thị trường khác từ nước ngoài như cuộc khủng hoảng tài chính - tiền
tệ châu Á hồi năm 1997 là một ví dụ điển hình.
fG=1Q,A*
Trước tiên là khả năng kiếm lời không đuổi kịp sự mất giá của đồng tiền đã bỏ ra
đầu tư. Và khi sức mua của đồng bạc giảm sút do giá tiêu dùng tăng sẽ kéo theo lãi suất
tăng. Tác động của lạm phát lên cổ phần và cổ phiếu, theo đó, thể hiện ở nhiều chừng mực
khác nhau và rất phức tạp. Khái quát có thể nên biết rằng các trái phiếu càng dài hạn càng
bị mất giá nhiều hơn loại ngắn hạn, các cổ phần thuộc về các công ty tiện ích có thể bất lợi
vì không dễ tăng giá, cổ phần ưu đãi bị mất giá nhiều so với cổ phần thường, …
SG=`^d3;
Nhà đầu tư – đặc biệt là trong TTCK- có thể bị mất một phần hoặc toàn bộ vốn đã bỏ
ra do tiên đoán trật, hoặc do những hoàn cảnh bất lợi ập đến từ bên ngoài chứ không phải
!
vì sức khoẻ công ty. Ví dụ một ảnh hưởng tâm lý xa lánh, tẩy chay đối với một sản phẩm
hay ngành sản xuất, sự thay đổi tập quán tiêu dùng,
gG=B,;C@5
Người ta vẫn có thể bị lầm lẫn trước một quyết định tồi, ngay cả khi mọi thứ đã bày
công khai ra trước mắt. Sự chủ quan hoặc hời hợt có thể cũng xui khiến ta làm sai mong
đợi. Đó là lúc người đầu tư quyết định khi mua phải một loại chứng khoán không sinh lợi

thiếu hiểu biết, thiếu kỹ năng tổng hợp, phân tích và phản ứng thị trường nhạy bén, chính
xác của bản thân nhà đầu tư Đã qua rồi những cơ hội ngắn ngủi và các ảo tưởng về kinh
doanh chứng khoán đơn giản chỉ là mua chứng khoán vào, “đợi giá lên một chiều và khi
cần tiền thì bán ra”.
0,1233kV>9;5
6[Cl53kV>9;5:m5?*
Để kịp thời đi theo thời đại và tạo điều kiện huy động vốn sử dụng trong quá trình
công nghiệp hóa-hiện đại hóa cũng như tiếp cận với nền kinh tế thị trường thế giới….với
những yêu cầu trên thì thị trường chứng khoán đã ra đời ở nước ta. Tháng 7/2000, thị
trường chứng khoán trong nước bắt đầu khởi động những bước đi đầu tiên lúc ấy sàn giao
dịch còn rất nhỏ bé , “hàng hóa”thì khan hiếm,và nó chỉ mới có mặt ở TP.HCM. Tại Hà
Nội do chưa hội đủ các yếu tố nên mãi đến tháng 3/2005, sàn giao dịch mới được khai
trương.Tuy chỉ mới “ra đời” không bao lâu nhưng thị trường chứng khoán đã bắt đầu
chứng tỏ là một thương trường mới nhiều khó khăn và thách thức đối với các nhà đầu tư
(tuy lợi nhuận và vốn thu từ các sàn giao dịch là không nhỏ). Nó vừa chịu ảnh hưởng các
“thông số”biến động của thế giới, lại chịu ảnh hưởng trong và ngoài nước vô cùng phức
tạp.
!
Với những khó khăn và thách thức như vậy,đòi hỏi các nhà đầu tư phải có một trình
độ văn hóa, tư duy, cũng như một đầu óc phán đoán nhạy bén với các “thông số” trên thị
trường. Nhưng ít ai biết được “văn hóa truyền thống” dân tộc đã ảnh hưởng không nhỏ
đến tâm lý và khả năng “làm kinh tế” của họ. Các nhà đầu tư đã vô tình “ứng dụng”các
đặc trưng văn hóa “nông nghiệp-làng xã” vào hoạt động kinh doanh của mình. Từ đó, đã
hình thành cái văn hóa mà các chủ thể kinh doanh tạo ra trong quá trình kinh doanh, hình
thành nên những kiểu kinh doanh “ổn định” và “đặc thù” chính họ.
Thay vì đem lại những lợi ích ưu điểm cho nhà đầu tư chứng khoán thì “văn hóa
truyền thống” lại có quá nhiều điểm không phù hợp với việc “kinh doanh chứng khoán”
hiện nay.Nó chủ yếu làm hạn chế những khả năng kinh doanh, xây dựng cũng như sức hấp
dẫn của chứng khoán đối với NĐT.
7859:;.C5=>3kV>455+AaCl5:0,15C_nm5

hậu quá khó lường.
Từ những hạn chế của nền “văn hóa truyền thống” làm nảy sinh tâm lý về số phận.
Phản ánh một tâm lý thiếu tự tin hay bất an nào đó,vì cảm thấy không an toàn trong một
môi trường rủi ro, cảm thấy bất lực không làm chủ được cuộc sống  xuất hiện xu hướng
cục bộ, trong khi yêu cầu của xã hội hiện đại cần sự hợp tác theo quan hệ chức năng, thích
vào quen biết.Và nếu cái gì cũng dựa vào sự vất vả chạy chọt thì chắc chắn xã hội không
thể vận hành một cách lành mạnh được huống gì trong “kinh doanh thị trường chứng
khoán”, là một nơi với nhiều “thông số” phức tạp.
Nói vậy, nhưng không phải nền văn hóa nông nghiệp truyền thống lại không đem
đến những lợi ích cho người chơi chứng khoán: nhờ vào tính cộng đồng mà người chơi ở
Việt Nam thường có tâm lí hỗ trợ lẫn nhau nên thị trường không bị một số cá nhân “lũng
đoạn” chi phối như một số nước có nền văn hóa du mục.Mặt khác ,nhờ vào tính tự trị mà
thị trường trong nước thường ổn định hơn so với thị trường thế giới (dù bị thị trường thế
giới tác động tới cũng không nhỏ)
Nhìn chung thì văn hóa truyền thống nông nghiệp mang đặc tính làng xã, cộng đồng
vì vậy, cần phải hình thành và đào tạo ra những con người việt nam thế hệ mới với một ý
thức văn hóa mới mang truyền thống văn hóa dân tộc nhưng phải thích hợp với cơ chế
thời hiện đại mà đặc trưng là tính năng động.
!
o)5+,)N
)5+,53+BCm5?*
685]>1B,C_55.A5BCm5?*
Một phần quan trọng trong bất cứ chiến lược đầu tư nào đó là xây dựng một
phương pháp hiệu quả nhất khi bán cổ phiếu.Thoạt nghe thì có vẻ dễ dàng nhưng trên
thực tế thì nhiều nhà đầu tư đã mắc phải các sai lầm khiến lợi nhuận của họ tan biến thành
mây khói Bán cổ phiếu là một bước đi bắt buộc trong quy trình đầu tư để thu lợi nhuận.
Thật đáng tiếc, chúng ta không phải là những chiếc máy tính và khả năng tư duy phân tích
của chúng ta có thể làm cho kết quả bán cổ phiếu tốt đẹp hơn hay tồi tệ hơn mức trung
bình.
Sẽ có không ít lần bạn bán cổ phiếu quá sớm hay bán quá muộn vì chờ giá lên.

có thể làm nhằm loại bỏ hoàn toàn mức thuế phải chịu.Do vậy, nếu đã đến thời điểm bán
cổ phiếu, bạn nên quyết tâm thực hiện và đừng quá lo lắng về các khoản thuế.
t)45P>0,U*?aBC=>`Q
Danh mục đầu tư chứng khoán của bạn cần được đánh giá định kỳ theo những yếu
tố cơ bản nhằm đảm bảo rằng bạn không bỏ lỡ mất các dấu hiệu cho thấy đã đến lúc để
bán cổ phiếu. Một trong những lý do hợp lý để bán cổ phiếu đó là khi xuất hiện những
thông tin xấu về công ty phát hành Bạn nên đánh giá lại khoản đầu tư của mình khi công
ty thay đổi ban quản lý, khi công ty tuyên bố sẽ sáp nhập haymua lại một công ty khác,
khi các đối thủ cạnh tranh mạnh gia nhập thị trường và khi một vài nhà quản trị cấp cao
bán ra một số lượng lớn cổ phiếu .
Danh mục đầu tư chứng khoán của bạn cần được đánh giá định kỳ theo những yếu
tố cơ bản nhằm đảm bảo rằng bạn không bỏ lỡ mất các dấu hiệu cho thấy đã đến lúc để
bán cổ phiếu. Một trong những lý do hợp lý để bán cổ phiếu đó là khi xuất hiện những
thông tin xấu về công ty phát hành. Bạn nên đánh giá lại khoản đầu tư của mình khi công
ty thay đổi ban quản lý, khi công ty tuyên bố sẽ sáp nhập haymua lại một công ty khác,
khi các đối thủ cạnh tranh mạnh gia nhập thị trường và khi một vài nhà quản trị cấp cao
bán ra một số lượng lớn cổ phiếu .
Tóm lại, dễ dàng thấy được những sai sót trên thị trường chứng khoán luôn xảy ra
mặc dù không phải khi nào cũng là những sai lầm ngớ ngẩn. Điều quan trọng đối với một
nhà đầu tư giỏi đó là phải biết loại bỏ yếu tâm lý cùng cái tôi cá nhân ra khỏi quá trình

mua bán cổ phiếu, phải định trước mức giá bán để cứ thế mà thực hiện chứ không để tình
cảm xen vào làm hỏng mọi việc.
Đặc biệt các sai lầm mà người đầu tư hay thường gặp lớn nhất là:
- Quá tự tin vào khả năng dự đoán trước diễn biến của thị trường và hoạt động của các quỹ
đầu tư.
- Quá trung thành với những thất bại.
- Chỉ nhìn thấy lãi.
- Quá thiển cận.
- Phớt lờ những chi phí theo thời gian.

được các quyết định cẩn trọng hơn và sẽ trở thành nhà đầu tư dài hạn thành công.
Nói tóm lại,để nhà đầu tư thành công trên thị trường chứng khoán thì cần phải có
một tầm nhìn hoạch định chiến lược lâu dài,biết kiểm soát rủi ro.Đặc biệt cần phải có các
nguyên tắc đầu tư riêng như cổ phiếu mua có đặc điểm gì,khi nào mua bán….Đồng thời
phải biết cách quản lý tài chính của mình,bao gồm chi bao nhiêu tiền để đầu tư,huy động
nguồn vốn bằng cách nào,kế hoạch giải ngân ra sao….Phải biết cắt lỗ,chốt lãi tại thời
điểm lời.Có chế độ làm việc độc lặp và kiên trì.
85>5`^B:BC?>,5>C_5m5
?*
Thị trường chứng khoán Việt Nam đã trải hơn 10 năm phát triển,tuy nhiên khái
niệm thị trường chứng khoán vẫn còn xa lạ với khá nhiều người.Để thị trường chứng
khoán thực sự phát triển và đi vào có chiều sâu,nên trang bị về kiến thức cũng như kinh
nghiệm cho các nhà đầu tư.
6N?:m
Đầu tiên các nhà đầu tư phải nắm rõ và am hiểu về luật chứng khoán,hiểu rõ và đúng
các khái niệm cơ bản về chứng khoán,có kiến thức cơ bản về tài chính-ngân hàng,để có
thể phân tích,đọc hiểu các bảng báo cáo tài chính,bản cân đối kế toán.Học cách đọc
bảng,tính các chỉ số cơ bản của chứng khoán.Tiếp theo phải học các thủ thuật lướt
sóng,các kinh nghiệm của các nhà đầu tư lớn trong và ngoài nước.Điều quan trọng là phải
thường xuyên thu nhập thông tin để có cái nhìn đúng và toàn diện về thị trường

7!:A0v];=>459A*m5?*
Những người chơi chứng khoán thường sử dụng những chỉ số cơ bản về hoạt động
kinh doanh của những công ty phát hành cổ phiếu để xác định cổ phiếu được đánh giá
đúng mức hay quá mức. Tuy nhiên, sẽ là không đủ nếu bạn chỉ xem xét một chỉ số nào đó,
bạn cần phải đánh giá tổng thể tất cả các chỉ số mới có thể đưa ra được kết luận gần đúng
rằng: loại cổ phiếu này có đáng mua hay không. Một số cách phân tích:
Chỉ số P/E
Dòng tiền rỗi
Khấu trừ nợ


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status