Đề tài " Thực hiện Các công đoạn tổ chức giao nhận hàng theo hợp đồng uỷ thác và hợp đồng vận chuyển hàng hoá " - Pdf 20

6.3.1
TÀI ĐỀ
Thực hiện Các công đoạn tổ chức giao
nhận hàng theo hợp đồng uỷ thác và hợp
đồng vận chuyển hàng hoá
Giáo viên th c hi nự ệ :
Sinh viên th c hi nự ệ :
Chương I: Giới thiệu chung về giao nhận 4
4. Những công việc chính mà người giao nhận có thể đảm nhận 11
Chương III. Tính toán các chi phí thực hiện hợp đồng 39
Lời nói đầu
Đất nước đang chuyển mình cùng với thời đại gia nhập nền Kinh tế
thế giới đi cùng sự kiện WTO. Trong quá trình hội nhập kinh tế khu vực
và thế giới, cùng với sự tác động của quá trình toàn cầu hoá, tự do hoá
thương mại quốc tế việc phát triển hoạt động giao nhận vận tải quốc tế ở
mỗi nước có một ý nghĩa hết sức quan trọng, góp phần tích luỹ ngoại tệ,
làm đơn giản hoá chứng từ, thủ tục thương mại, hải quan và các thủ tục
pháp lý khác, tạo điều kiện làm cho sức cạnh tranh hàng hoá ở của nước
đó trên thị trường quốc tế tăng lên đáng kể, đẩy mạnh tốc độ giao lưu
hàng hoá xuất nhập khẩu với các nước khác trên thế giới, góp phần làm
cho nền kinh tế đất nước phát triển nhịp nhàng, cân đối.Thời đại toàn cầu
hoá các nền kinh tế và hội nhập kinh tế khu vực, mối liên hệ giữa các
quốc gia về mọi phương diện kinh tế càng ngày càng gắn bó với nhau;
đặc biệt trong đó hoạt động ngoại thương đóng vai trò hết sức quan trọng.
Hoạt động ngoại thương là một loại hình hoạt động kinh doanh phức tạp,
liên quan đến nhiều lĩnh vực như ngân hàng trong việc thanh toán; công
ty vận tải trong việc vận chuyển hàng hoá; công ty bảo hiểm thực hiện
bảo hiểm hàng hoá… Ngoài ra công ty giao nhận hàng cũng có liên quan
đến hoạt động ngoại thương với tư cách là người được chủ hàng uỷ
nhiệm để giao hàng lên phương tiện vận tải nếu là xuất khẩu, hoặc nhận
hàng từ phương tiện vận tải nếu là nhập khẩu. Mỗi lĩnh vực đều có tầm

dến các dịch vụ trên kể cả các vấn đề hải quan, tài chính, bảo hiểm, thanh
toán, thu thập chứng từ liên quan đến hàng hoá".
Theo luật thương mại Việt Nam thì: "Giao nhận hàng hoá là hành
vi thương mại theo đó người làm dịch vụ giao nhận hàng hoá nhận hàng
từ người gửi hàng, tổ chức vận chuyển, lưu kho, lưu bãi, làm các thủ tục
giấy tờ và các dịch vụ khác có liên quan để giao hàng cho người nhận
theo uỷ thác của chủ hàng, của người vận tải hay người giao nhận khác".
Người kinh doanh dịch vụ giao nhận gọi là người giao nhận.
Vậy chức năng của người giao nhận tóm gọn là đưa hàng từ người
sản xuất đến người tiêu dùng, từ người xuất khẩu đến nhà nhập khẩu, từ
những người bán buôn đến những người bán lẻ một cách nhanh chóng
và hiệu quả với chi phí hợp lý hoặc tư vấn cho những đối tượng có hàng
và đối tượng cần hàng về hoạt động liên quan đến việc xuất hàng và nhập
hàng.
2. Vai trò của người giao nhận
Người giao nhận có thể có thể thay mặt người gửi hàng vận chuyển
hàng hoá qua các công đoạn cho đến tay người nhận hàng cuối cùng hoặc
thay mặt người nhận hàng làm các thủ tục để nhận hàng. Để thực hiện tốt
vai trò của mình người giao nhận có thể làm dịch vụ trực tiếp hoặc thông
qua đại lý và thuê dịch vụ của người thứ ba khác để thực hiện. Những
dịch vụ mà người giao nhận cần tiến hành là:
- Chuẩn bị hàng hoá để chuyên chở,
- Tổ chức chuyên chở hàng hoá trong phạm vi ga cảng,
- Tổ chứ xếp dỡ hàng hoá,
- Làm tư vấn cho chủ hàng trong việc chuyên chở hàng hoá,
- Kí kết hợp đồng với người vận tải với người chuyên chở, thuê tàu,
lưu cước,
- Làm các thủ tụ gửi hàng, nhận hàng,
- Làm thủ tục hải quan, kiểm dịch,
- Mua bảo hiểm hàng hoá.

sự uỷ thác của khách hàng và tiến hành thực hiện các công việc một cách
chăm chỉ, mẫn cán cần thiết theo sự uỷ thác đó nhằm bảo vệ lợi ích của
khách hàng.
Lo liệu các công việc vận chuyển hàng hoá cũng như các công việc
liên quan đến việc chuyển tải chuyển tiếp hàng hoá để các hoạt động an
toàn và hiệu quả nhất.
Cung cấp các dịch vụ lưu kho bãi và bảo quản hàng hoá : hàng hoá
lưu kho để đóng gói, phân loại, gom cho đủ lô người giao nhận còn cung
cấp các dịch vụ làm gia tăng giá trị hàng hoá nhằm cho công việc hiệu
quả nhất.
c. Người gom hàng.
Người giao nhận gom những lô hàng nhỏ nằm rải rác ở mọi nơi để
tập hợp thành lô hàng lớn tạo thuận lợi cho quá trình vận chuyển, xếp dỡ
và bảo quản nhằm thực hiện việc uỷ thác của khách hàng tốt nhất.
d. Người chuyên chở.
Người này đóng vai trò là người chuyên chở tức là trực tiếp kí hợp
đồng chuyên chở với người gửi hàng và chịu mọi trách nhiệm đối với
việc vận chuyển hàng hoá đó.
e. Người kinh doanh vận tải đa phương thức.
Người vận tải trong trường hợp này cung cấp dịch vụ vận tải đi
suốt" door to door". Người này chịu trách nhiệm đối với hàng hoá trong
suốt quá trình vận chuyển.
Qua trên ta thấy người giao nhận là một khâu rất quan trọng của quá trình
vận tải hay nói cách khác họ là những kiến trúc sư của vận tải vì họ có
khả năng tổ chức vận tải một cách tốt nhất an toàn nhất và tiết kiệm nhất.
Tuy nhiên để làm tốt công việc của một người giao nhận thị chúng ta cần
phải lắm chăc nghiệp vụ cũng như am hiểu luật pháp, tập quán cũng như
các công ước quốc tế.
3. Trách nhiệm của người giao nhận.
Phải thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ của mình theo hợp đồng và

Người chuyên chở thu tiền của khách hàng theo giá cả dịch vụ chứ
không phải là tiền hoa hồng.
Người giao nhận đóng vai trò là người chuyên chở không chỉ trong
trường hợp anh ta tự vận chuyển hàng hoá bằng các phương tiện vận
chuyển của mình mà còn trong trường hợp anh ta là người thầu chuyên
chở. Khi người giao nhận cung cấp các dịch vụ liên quan đến vận tải như:
đóng gói, lưu kho , bốc xếp , phân phối thì người giao ngận sẽ chịu trách
nhiệm như người chuyên chở nếu người giao nhận thực hiện các dịch vụ
trên bằng phương tiện của mình hoặc người giao nhận rõ ràng hay ngụ ý
là họ chịu trách nhiệm như người chuyên chở.
Tuy nhiên, người giao nhận không chịu trách nhiệm về những mất
mát, hư hỏng của hàng hoá phát sinh từ những trường hợp sau:
+ Do lỗi của khách hàng hoặc người được khách hàng uỷ thác.
+ Khách hàng trực tiếp đóng gói và kí mã hiệu không phù hợp.
+ Do nội tỳ hoặc bản chất của hàng hoá.
+ Do chiến tranh, đình công.
+ Do các trường hợp bất khả kháng(tuy nhiên người giao nhận
phải chứng minh được điều này).
Ngoài ra người giao nhận sẽ không chịu trách nhiệm về các khoản
lợi mà lẽ ra khách hàng được hưởng về sự chậm trễ hoặc giao hàng sai
địa chỉ mà không phải do lỗi của mình
Điều 169-Các trường hợp miễn trách nhiệm cho người giao nhận
1. Người làm dich vụ giao nhận hàng hóa không phải chịu trách nhiệm về
những mất mát, hư hỏng phát sinh trong những trường hợp sau đây:
- Do lỗi của khách hàng hoặc của người được khách hàng ủy
quyền.
- Đã làm đúng theo những chỉ dẫn của khách hàng hoặc của người
được khách hàng ủy quyền.
- Khách hàng đóng gói và ký mã hiệu không phù hợp
- Do khách hàng hoặc người được khách hàng ủy quyền thực hiện

4.1. Các công việc của nhân viên giao nhận tại công ty giao nhận Bình
An
- Thay mặt chủ hàng thực hiện nghiệp vụ giao nhận hàng hóa xuất khẩu
và nhập khẩu (hàng container và hàng ngoài container).
- Lập các chứng từ có liên quan đến giao nhận vận chuyển nhằm bảo vệ
quyền lợi của chủ hàng, của Cảng như:
+Giấy kiểm nhận hàng với tàu (tally report)
+Biên bản xác nhận hàng hóa hư hỏng, đổ vỡ (cargo outturn
report)
+Biên bản kết toán nhận hàng với tàu (report on receipt of cargo)
+Giấy chứng nhận hàng thừa thiếu so với được khai (Certificate of
shortover landed cargo)…
- Theo dõi và giải quyết các khiếu nại về hàng hóa trong quá trình giao
nhận vận tải
4.2. Trình tự giao nhận và các công việc của nhân viên giao nhận khi
giao hàng xuất khẩu đóng trong container
a. Các giấy tờ cảng phải được cung cấp trước khi tiến hành xuất khẩu:
• Cargolist – Bảng liệt kê hàng hóa
• Export License – giấy phép xuất khẩu nếu có
• Shipping order – Lệnh xếp hàng
• Shipping note – thông báo xếp hàng do hãng tàu cấp
b. Cảng giao hàng xuất khẩu đóng trong container cho tàu:
- Nhận được cargolist của chủ hàng, nhân viên giao nhận của cảng phải
bằng phương tiện của cảng tập trung hàng xuất khẩu đóng trong container
tại bãi dành cho hàng xuất khẩu.
- Hàng sẽ được xe cảng vận chuyển từ bãi ra cầu tàu, cần trục của cảng sẽ
cẩu hàng từ xe cảng xếp lên tàu theo đúng sơ đồ xếp dỡ. Trước khi cẩu
hàng lên tàu, nhân viên giao nhận phải ghi chính xác số chì, tình trạng
của container vào “tally report” (giấy kiểm nhận hàng với tàu). Sau khi
giao hết toàn bộ hàng lên tàu nhân viên giao nhận phải lấy biên lai thuyền

+ Xuất trình biên lai nộp phí, 3 bản D/O cùng invoice và Packing list
(phiếu đóng gói) đến văn phòng quản lý tàu tại cảng để xác nhận D/O và
tìm vị trí hàng (tại đây lưu 1 bản D/O).
+ Mang 2 bản D/O còn lại đến phòng thủ tục của xí nghiệp để làm phiếu
xuất kho.
+ Chủ hàng phải mang các giấy tờ trên đến kho, bãi trình nhân viên giao
nhận, nhân viên giao nhận sẽ căn cứ vào các giấy tờ trên để tiến hành
giao hàng cho chủ hàng.
c. Lập các chứng từ pháp lý ban đầu để bảo vệ quyền lợi của chủ hàng,
của cảng
- Biên bản kiểm tra sơ bộ – Survey Record
- Thư dự kháng – Letter of Indemnity/Reservation (LOR) (thay thế cho
Note of claim)
- Biên bản hàng hư hỏng đổ vỡ – Cargo outturn Report (COR)
- Biên bản quyết toán nhận hàng với tàu – Report on receipt of Cargo
(ROROC).
- Giấy chứng nhận hàng thừa thiếu so với được khai – Certificate of
shortover landed Cargo (CSC)
4.4. Kiểm tra vỏ container khi nhận từ chủ hàng
- Kiểm tra bên ngoài container
+ Những chốt góc cần phải hoàn hảo để xếp dỡ, vận chuyển… không
được bỏ qua vết nứt nào.
+ Những bộ phận cấu trúc làm cho container vững chắc phải thẳng.
+ Sàn, nóc container và vách container phải hoàn hảo.
+ Phải đóng, mở thử cánh cửa,em các độ kín của gioăng cửa, thử các bộ
phận chuyển động khớp nối,và đảm bảo rằng toàn thể kín đáo.
+ Phải gỡ hoặc che phủ những nhãn hiệu cũ của loại hàng xếp trong
container trước đó.
- Kiểm tra bên trong container
+ Container bên trong phải không có hư hỏng gì nghiêm trọng, sàn phải

Xí nghiệp Container Sài Gòn tách ra xin thành lập công ty Container
phía Nam và thực hiện nghị định 388 của Hội đồng bộ trưởng, công ty
triển khai đăng ký lại doanh nghiệp và được cục bộ Nhà Nước quyết định
thành lập doanh nghiệp với tên Công ty Container phía Bắc theo Quyết
định số 1095 ngày 2 tháng 6 năm 1993.
Trụ sở chính của Công ty đặt tại Số 11 Đường Võ Thị Sáu, thành phố
Hải Phòng.
▪ Giai đoạn 3: Từ năm 1999 đến nay
ở giai đoạn trên, Công ty hoạt động dưới các chính sách chế độ của
thời kỳ bao cấp. ở giai đoạn này, bước vào nền kinh tế thị trường các
doanh nghiệp phải thực hiện hạch toán kinh doanh thì lợi nhuận trở thành
mối quan tâm hàng đầu. Là một doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ, hiệu
quả hoạt động phụ thuộc nhiều vào con người, mỗi cán bộ công nhân viên
phải làm việc hết mình thì mới cạnh tranh với hàng loạt các công ty liên
doanh, tư nhân khác. Do vậy, công ty thực hiện chủ trương của Đảng về
cổ phần hoá nên thí điểm cổ phần một bộ phận của Công ty.
Theo quyết định số 3380 ngày 15-2-1998 của Bộ trưởng Bộ Giao
Thông Vận tải về việc chuyển Xí nghiệp Giao nhận Vận chuyển
Contanier quốc tế thành Công ty cổ phần giao nhận vận chuyển Container
Quốc tế (BìNH AN) trực thuộc Công ty Container phía Bắc thuộc Tổng
công ty Hàng Hải Việt Nam. Đến tháng 1 năm 1999 công ty bắt đầu đi
vào hoạt động với loại hình doanh nghiệp cổ phần.
Trụ sở chính đặt tại số 5 Võ Thị Sáu, TP Hải Phòng.
Sau hơn 3 năm hoạt động thì việc cổ phần hoá đã thực sự có hiệu quả. Từ
mô hình công ty BìNH AN thì Công ty Container phía Bắc lại tiếp tục cổ
phần. Và lần đầu tiên tại Hải Phòng một doanh nghiệp Nhà nước - Công
ty Container phía Bắc làm mô hình công ty mẹ, công ty con.Tức là Công
ty BìNH AN hoạt động độc lập với Công ty VICONSHIP, nhưng phải
hạch toán kinh doanh qua VICOSHIP và chịu trách nhiệm về kết quả sản
xuất kinh doanh trước Hội đồng quản trị của Tổng công ty. Và tại quyết

+ Chi nhánh tại Hà Nội - BìNH AN Hà nội
Số: 47, Cửa Đông, TP Hà Nội.
+ Chi nhánh Đà Nẵng - BìNH AN Đà Nẵng
Số: 80, Nguyễn Thị Minh Khai, TP Đà Nẵng.
1.3.1. Sơ đồ cơ cấu tổ chức của công ty:• Phũng xuất nhập khẩu của cụng ty : gồm 2 phũng :
Phũng xuất nhập khẩu 1 và phũng xuất nhập khẩu 2
Phũng XNK 1 gồm cú : 01 trưởng phũng
01 phú phũng
Và 04 nhõn viờn trực thuộc
Phũng XNK 2 gồm cú : 01 trưởng phũng
03 nhõn viờn
- Chức năng, nhiệm vụ của phũng xuất nhập khẩu 1
+ Tỡm hiểu thị trường trong và ngoài nước để xây dựng kế hoạch và tổ
chức thực hiện phương ỏn kinh doanh xuất - nhập khẩu, dịch vụ uỷ thỏc
và cỏc kế hoạch khỏc cú liờn quan của Tổng Cụng ty. Tổ chức và quản lý
Chủ tịch HĐQT
Phòng
Marketing
Giám Đốc
Phòng t i à
chính k ế
toán t ng h pổ ợ
Phòng
Khai thác
Phòng khai
thac kho bãi
cụng tỏc thị trường, tỡm thị trường xuất nhập khẩu cho Tổng công ty và

nhu cầu hàng hóa xuất nhập khẩu để tham mưu cho Ban Giám đốc trong
việc đàm phán tiến tới ký kết các hợp đồng kinh tế.
+ Nghiờn cứu theo dừi cỏc chủ trương chính sách XNK, thuế của Nhà
nước ban hành để tổ chức triển khai và thực hiện đúng quy định. Chịu
trách nhiệm dự thảo, lập các hợp đồng thương mại, điều kiện và hỡnh
thức thanh toỏn. Thực hiện tốt nghiệp vụ thủ tục XNK đúng quy định
cũng như theo dừi tỡnh hỡnh thực hiện hợp đồng, thanh lý hợp đồng.
- Chức năng, nhiệm vụ của phũng xuất nhập khẩu 2
+ Thực hiện chế độ báo cáo thống kê theo quy định của Nhà nước và theo
yêu cầu của Ban Tổng Giám đốc Công ty, xây dựng các kênh thông tin về
thương mại, đồng thời quản lý cỏc thụng tin liờn quan đến hoạt động kinh
doanh của Công ty thông qua các hệ thống thông tin.
+ Thực hiện cung cấp chứng từ XNK, hóa đơn xuất nhập hàng hóa,
đồng thời quản lý chặt chẽ hàng húa và hệ thống kho hàng của Cụng ty.
+ Thực hiện chức năng quản lý thương hiệu của Công ty. Theo dừi và
bỏo cỏo cho Ban Tổng Giỏm đốc về công tác xúc tiến thương mại, quảng
bá thương hiệu. Đăng ký nhón hiệu hàng hoỏ trong nước và các nước,
vùng lónh thổ mà Cụng ty cú khả năng xuất khẩu.
+ Thực hiện các hợp đồng kinh doanh xuất nhập khẩu và khi được uỷ
quyền được phép ký kết các hợp đồng thuộc lĩnh vực này. Bán sản phẩm
cho các nhà máy công nghiệp trong nước.
+ Định hướng chiến lược hoạt động kinh doanh xuất nhập khẩu của
Tổng công ty, chỉ đạo, theo dừi, quản lý cụng tỏc xuất nhập khẩu và thực
hiện cụng tỏc nghiệp vụ ngoại thương và chỉ đạo các chương trỡnh sản
xuất theo hợp đồng lớn của Tổng công ty với các đối tác.
Căn cứ theo hợp đồng kinh tế được giao kết giữa công ty TNHH Thịnh
Vượng và công ty Cổ phần Bình An, công ty Cổ phần Bình An được sự
uỷ quyền của Công ty Cổ phần thương mại Vinh Phú sẽ làm việc với
hải quan Hải Phòng, hãng tầu, và các cơ quan hữu quan để nhập
khẩu Ti Vi SAMSUNG từ Nhật Bản theo Hợp Đồng số 504355873,

- Tên hàng: Ti Vi SAMSUNG
- Số lượng: 1200 chiếc
- Đơn giá: 200 USD/chiếc
- Thành tiền: 240.000USD
Tổng giá trị lô hàng là hai trăm bốn mươi ngàn đô la Mỹ
Hàng phải được giao, nhận được trong container chậm nhất vào ngày
20/04/2010
Cảng xếp hàng: Cảng OXAKA - JAPAN
Cảng dỡ hàng: Cảng Hải Phòng
Bên A uỷ thác cho bên B khai báo làm thủ tục NK hàng của bên A qua
cảng Hải Phòng (với hãng tàu, hải quan, kho hàng cảng, Vinacontrol, bảo
hiểm và các đơn vị liên quan).
Tổ chức tiếp nhận, vận tải, bảo quản, giao hàng về kho bên A (hoặc do
bên A chỉ định)
Điều 2: Trách nhiệm của các bên tham gia hợp đồng
1. Trách nhiệm của bên A:
- Cung cấp các chứng từ liên quan đến lô hàng xuất, nhập khẩu cho bên B
để khai báo, làm thủ tục với hải quan, hãng tàu, kho hàng cảng,
- Giao chứng từ cho bên B phải đầy đủ, đảm bảo tính pháp lý và tính thời
gian. Trường hợp chứng từ không đảm bảo yêu cầu dẫn đến phát sinh chi
phí (lưu kho, lưu bãi, lưu vỏ cont )bên A phải thanh toán cho bên B (khi
bên B đã ứng trước theo yêu cầu của bên A để giải quyết lấy hàng phục
vụ cho sản xuất kinh doanh).
- Tổ chức giải phóng hàng đối với hàng nhập khẩu trong vòng 24 giờ.
Nếu việc giải phóng hàng ngoài thời gian trên, bên A phải chịu
(300.000đ/xe 40'/ngày;200.000đ/xe 20'/ngày;120.000đồng/ngày xe hàng
lẻ)
- Trường hợp hàng có đổ vỡ, tổn thất tại kho cảng phải mở kiện kiểm
đếm khi hải quan kiểm hoá, bên B thay mặt bên A mời giám định (phí
giám định do bên A chịu)


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status