SO SÁNH HIỆU QUẢ CỦA THUỐC SÚC
MIỆNG GIVALEXÒ VÀ ELUDRILÒ ĐỐI
VỚI MẢNG BÁM, VIÊM NƯỚU VÀ VẾT
DÍNH TRÊN RĂNG
SO SÁNH HIỆU QUẢ CỦA THUỐC SÚC MIỆNG GIVALEXÒ
VÀ ELUDRILÒ ĐỐI VỚI MẢNG BÁM, VIÊM NƯỚU
VÀ VẾT DÍNH TRÊN RĂNG
TÓM TẮT
Mục tiêu: Nghiên cứu so sánh hai loại thuốc súc miệng (TSM)
Givalex và Eludril với nhóm chúng dùng giả dược, công trình này nhằm
mục tiêu đánh giá hiệu quả của hai loại TSM Givalex và Eludril đối với
mảng bám, viêm nướu và vết dính trên răng.
Phương pháp: Nghiên cứu thử nghiệm lâm sàng mù đôi, thực hiện
trong 2 tháng trên 63 đối tượng. Chia ngẫu nhiên thành 3 nhóm tương ứng
với 3 dung dịch nghiên cứu. Các đối tượng được yêu cầu ngày súc miệng hai
Conclusion: The Givalex and G groups showed increasing of the
discoloration index scores at the same level but showed less staining than the
Eludril group.
ĐẶT VẤN ĐỀ
Chlorhexidine (CHX) là một tác nhân kháng khuẩn điển hình, đã được
giới thiệu bởi các chuyên gia trong ngành y từ thập niên 1950. Năm 1970
Loe và Schiott báo cáo về sự ức chế toàn thể sự thành lập mảng bám mới và
ngăn chặn sự thành lập viêm nướu với dung dịch CHX 0,2% pha trong nước,
ngày súc miệng 2 lần. Cho đến nay, sau hơn 20 năm sử dụng, CHX vẫn
được coi là “tiêu chuẩn vàng” (Gold standard)(13) dùng để so sánh với các
loại thuốc súc miệng khác.
Tuy nhiên, bên cạnh những ưu điểm nêu trên, hiệu quả phụ của CHX
là để lại những vết dính màu nâu đen khó chấp nhận, vì vậy chúng chỉ được
dùng trong một thời gian ngắn(14). Ngoài ra, CHX làm tăng lắng đọng vôi
răng trên nướu và có mùi vị khó chịu khi sử dụng(9)(10)(16). Chính những
khuyết điểm này đã thúc đẩy những nhà nghiên cứu tìm kiếm những loại
thuốc súc miệng có hiệu quả cao nhưng ít tác dụng phụ hơn. Hexetidine là
chất kháng khuẩn có cùng cơ chế tác động về mặt hóa học với CHX(17).
Trong nghiên cứu in vitro chất này có hoạt tính giống như CHX nhưng trong
nghiên cứu in vivo cho kết quả mâu thuẫn(18).
Givalex là thuốc súc miệng có thành phần chính là hexetidine nhưng
trong thành phần của Givalex còn chứa salicylate de choline và chlobutol.
Tác động phối hợp của 3 chất này làm cho Givalex hơn hẳn hexetidine dùng
riêng rẽ (J. Lauper, 1978)(15).
Hiện nay, trên thế giới đã có nhiều công trình nghiên cứu so sánh giữa
CHX và hexetidine cũng như giữa hexetidine và Givalex. Nhưng chưa có
công trình nghiên cứu nào so sánh giữa CHX 0,1% (Eludril) với Givalex,
mặt khác các nghiên cứu nêu trên thường tập trung ở các đối tượng tình
nguyện ngưng chải răng trong một thời gian ngắn. Tuy nhiên, để đánh giá
Hội thảo ở Thái Lan 1997 báo cáo của W.Chid Chuang Chai và cộng
sự đưa ra kết quả về việc dùng véc ni 20% thoa trên răng làm ức chế
S.Mutans ở trẻ có nguy cơ sâu răng cao (P < 0,05)(3).
G.Ciancio 1999 đánh giá hiệu quả của CHX trong việc điều trị bệnh
nha chu viêm dưới một dạng sử dụng mới gọi là “Perio Chip” đặt vào túi
nha chu làm giảm độ sâu của túi 30% so với chỉ xử lý mặt gốc răng bình
thường. Sự khác biệt rất có ý nghĩa (P< 0,0001)(4).
Hexetidine là hóa chất chính trong thành phần thuốc súc miệng
Givalex. Nó có cùng cơ chế tác động về mặt hóa học với CHX (Shakes
plare, 1988)(17).
Các nghiên cứu so sánh giữa CHX và hexetidine cho thấy hexetidine
có tác dụng diệt khuẩn tương đương với CHX (Ashley 1984)(1).
Heflt 1987 đã so sánh nhiều loại công thức của các loại thuốc súc
miệng trong đó có hexetidine và CHX, ông kết luận rằng hexetidine và CHX
có tác dụng kháng mảng bám cao một cách có ý nghĩa so với nhóm chứng.
Jones 1997 xác nhận khả năng kháng nấm Candida của hexetidine.
Ông kết luận khả năng kháng nấm không phải là khả năng duy nhất của
CHX.
Ashley 1984 nghiên cứu so sánh giữa CHX 0,2% và hexetidine (Oral
Dène) cho kết quả hai thuốc này có tác dụng kháng khuẩn tương đương
nhau(1).
Nghiên cứu so sánh giữa CHX 0,1% và hexetidine của Harper và cộng
sự đưa ra kết luận cả hai loại thuốc này đều có hiệu quả kéo dài có ý nghĩa
thống kê khi so sánh với nhóm chứng là nước muối(11). Givalex ngoài
thành phần chính là hexetidine còn chứa salicylate de choline và
chlorobutol. Sự kết hợp của 3 chất này cho kết quả tác động lớn hơn tác
động của từng chất riêng lẻ (J. Laufer 1978)(15).
Laufer cũng làm nghiên cứu trên các đối tượng nhổ răng khôn và đưa
ra kết luận: Givalex làm giảm viêm, kháng khuẩn 84%, giảm đau 90%, sự
hôi miệng 85% các trường hợp.
Các bước tiến hành:
* Giai đoạn sơ khởi:
- Trong giai đoạn sơ khởi tất cả các đối tượng đều được cạo vôi và
đánh bóng răng nhưng không được dùng bất cứ một loại hóa chất kiểm soát
mảng bám nào.
- Các đối tượng được nhận 1 bàn chải mới kem đánh răng và họ chải
răng theo thói quen của họ trong 14 ngày.
- Sau giai đoạn sơ khởi các đối tượng được khám và đánh giá tình
trạng nha chu.
* Giai đoạn thử nghiệm
- Tại ngày 0: .Tất cả các đối tượng được đánh bóng răng một lần nữa.
Các đối tượng được phát thuốc súc miệng đựng sẵn trong các chai đã được
ghi mã số, đủ cho 2 tuần. Yêu cầu súc miệng ngày 2 lần mỗi lần 10ml trong
vòng 1 phút.
Như đã nói ở trên, các chai thuốc này đã được chia ngẫu nhiên thành 3
nhóm và được mã số bởi người dược sĩ từ 1 đến 63. Các chai thuốc sau khi
ghi mã số đưọc gửi về cho người nghiên cứu và phát theo thứ tự khám.
Người được khám đầu tiên phát chai số 1. Người đượckhám thứ 2 phát chai
số 2. Tiếp tục cho đến hết 63 chai.
Như vậy: Các đối tượng được chia ngẫu nhiên thành 3 nhóm theo các
chai thuốc súc miệng đã được chia ngẫu nhiên trước đó. Đánh giá sự hợp tác
của các đối tượng dựa vào việc tính toán lượng nước súc miệng được trả lại
và các thẻ ghi nhật ký đã phát trước đó.
Tất cả những chỉ số đánh giá đều được đo bởi một người (đã qua thử
nghiệm định chuẩn - BS Đỗ Thu Hằng - BM Nha Chu) và việc điều trị được
thực hiện bởi một người khác.
Phương pháp đánh gía:
* Chỉ số mảng bám PlI (Plaque Index)
Bảng 1: Tiêu chuẩn chỉ số mảng bám PlI theo Silness và Loe 1964
Điểm số
Viêm trung bình, chảy máu khi thăm khám
3
Viem nặng, nướu lở loét, có xu hướng chảy máu tự phát.
* Chỉ số vết dính SI (Stain Index)
Hàm trên: Đánh giá ở các mặt trong răng cửa, răng nanh và tiền hàm.
Hàm dưới: Đánh giá ở mặt lưỡi các răng cửa.
Bảng 3: Tiêu chuẩn chỉ số vết dính SI theo Shaw và Murray 1977.
Điểm số
Tiêu chuẩn
Điểm số
Tiêu chuẩn
0
Không màu
3
Vàng sậm
1
Màu vàng
4
Nâu đen
2
(n=16)
ELUDRIL
(n=18)
GIẢ DƯỢC
(n=16)
Ngày 0
Ngày 28
0,769
0,660 +++
0,700
0,621 +++
0,456
0,654 +++
Ngày 28
Ngày 56
0,660
0,690 +
0,621
0,601 ++
0,654
0,688 ++
Ngày 0
-0,079
<0,05
Eludril
-0,079
-0,099
Sau 28 ngày nhóm Givalex mảng bám giảm nhiều hơn nhóm Eludril,
Tuy nhiên sau 56 ngày nhóm Eludril giảm mảng bám tốt hơn nhóm Givalex
Tình trạng viêm nướu
So sánh trong cùng một nhóm
Nhóm
Ngày
GIVALEX ELUDRIL
GIẢ DƯỢC
Ngày 0
Ngày 28
0,743
0,584 +++
0,774
0,614 +++