BÀI KIỂM TRA GIỮA KỲ
MÔN: VĂN HỌC NGA
ĐỀ BÀI:
Câu 1: Nêu đặc điểm văn học Nga thế kỷ XI- XVII.
Câu 2: Phân tích sự vận động của không gian sinh hoạt trong tác phẩm “Người
coi trạm” của Puskin.
Thái nguyên, ngày 16 tháng 3 năm 2013
NHÓM 5:
Thành viên:
BÀI LÀM
Câu 1: Đặc điểm văn học Nga thế kỷ XI-XVII?
Một đất nước phải trải qua biết bao thăng trầm của lịch sử, bối cảnh xã hội
Nga trước thế kỷ XIX lúc bấy giờ đã góp phần quy định lịch sử phát triển của văn
học Nga. Văn học đã phần nào phản ánh được đời sống của nhân dân nga, tình cảm
cũng như nguyện vọng của nhân dân Nga trong xã hội bị o ép, khổ cực trăm chiều.
Để khái quát được văn học Nga trước thế kỷ XIX ta có thể phân chia thành 2 giai
đoạn: văn học Nga thế kỷ XI- XVII và văn học Nga thế kỷ XVIII. Với thực tế yêu
cầu của đề bài là “ Nêu đặc điểm văn học Nga thế kỷ XI- XVII”, nhóm thực hiện
chúng tôi xin được nêu lên những đặc điểm của văn học Nga thế kỷ XI- XVII:
Văn học Nga giai đoạn này có sự tồn tại của văn học dân gian và văn học viết, cụ
thể:
Văn học dân gian
Đây là giai đoạn phát triển mạnh cả về nội dung và thể loại, là văn học của nhân
dân lao động “ Nhân dân không chỉ là sức mạnh sáng tạo ra mọi giá trị vật chất, họ
còn là cội nguồn duy nhất và vô tận của các giá trị tình thần.”( M. Gorki).
- Nội dung của văn học dân gian nhằm phản phản ánh nhận thức của con người về
thế giới, tự nhiên, về các hiện tượng xã hội như lao động, sản xuất, sinh hoạt, kinh
nghiệm ứng xử và đời sống tinh thần tình cảm của con người.
2
- Chủ đề chính của văn học dân gian Nga bấy giờ đó gồm có ba chủ đề:
+ Kể về sự ra đời và tồn tại của các loài vật, mối quan hệ giữa chúng với nhau và
thường có tên gọi là Ilia Murômét. Mỗi Buwlina thường có 4 phần Giáo
đầu( thường là “ Chúng ta nói về thời xưa. Nói đến ai đây? Nói đến IliaMuromet”),
giới thiệu nhân vật nơi xảy ra sự việc, kể chuyện chính( những tình tiết, sự việc
xảy ra đối với nhân vật chính ) và kết thúc ( là một câu “ Nơi nói ngợi ca vinh
quang của Người” ).
+ Saxtuska: xuất hiện sau thế kỷ XVIII lại đây. Đó là những bài ca trữ tình nói về
một hiện tượng nào đó, về tâm trạng, thái độ con người trước những biểu hiện khác
nhau của cuộc sống và đối tượng biểu diễn là thanh niên với một thái thái độ tích
cực, chủ động.
Văn học viết:
Đây là giai đoạn chập chững ban đầu của nền văn học Nga.
Thế kỉ XI: giai đoạn bình minh của văn học, thời kỳ này giấy viết chưa có vì vậy
tât cả những sáng tác văn học đều viết bằng da thú bìa là những tấm gỗ mỏng và
chủ yếu là viết bằng tay, bút bằng lông ngỗng.
4
Thế kỉ XIV: với sự ra đời của giấy viết và máy in tuy thô sơ nhưng việc in chép
sách đã có nhiều thuận lợi.
Tác phẩm thường được viết ở dạng sử biên niên, truyện thánh (nhằm mục đích răn
dạy với những hình tượng ước lệ), hành trình kí sự hay những câu truyện lịch sử.
Tác phẩm tiêu biểu xuất sắc nhất giai đoạn này phải kể đến là“ Bài ca về đạo quân
Igor” ra đời vào thế kỉ XII. Trong Điện mừng của UNESCO gửi Hội nghị quốc tế
kỉ niệm 800 năm “ Bài ca về đạo quân Igor” có viết: “ Vai trò lớn lao của những tư
tưởng chứa đựng trong tác phẩm, những tư tưởng về hòa bình và nhân đạo trong
việc hình thành một nên văn hóa tinh thần của thế giới là viên ngọc của nền văn
hóa thế giới”. Bài ca thể hiện tinh thần yêu nước của nhân dân Nga đồng thời cũng
là tiếng ca kêu gọi đoàn kết đấu tranh trong thời kỳ này.
Ở thời kì này văn học Nga đã có những bước phát triển mới hơn, thông qua một số
những tác phẩm như: cuốn “ Thông điệp của Ivan Bạo chúa” và cuốn tự truyện của
tăng lữ Avvakum, là những tác phẩm văn học đầu tiên được viết bằng tiếng Nga.
Những tác phẩm này được hòa trộn giữa các ngôn ngữ tôn giáo, văn chương với lối
triển và hướng tới một nền văn học hiện đại và gắn bó mật thiết giữa hai dòng văn
học là văn học dân gian và văn học viết. Văn học bao giờ cũng phản ánh hiện thực
xã hội của nó, ở một mức độ nào đó thì văn học Nga thế kỷ XI- XVII đã có những
đặc điểm tiêu biểu để khẳng định vị trí của mình trong nền văn học nước Nga nói
riêng và nền văn học thế giới nói chung.
6
Câu 2: Phân tích sự vận động của không gian sinh hoạt trong tác phẩm Người
coi trạm- Puskin?
A.X. Puskin (1799-1837) là một nhà thơ vĩ đại của thế giới. Puskin đã để lại
cho nhân loại những tác phẩm đặc sắc ở nhiều thể loại như viết kịch, sáng tác
truyện ngắn, truyện vừa, tiểu thuyết, thơ trữ tình và cả trong văn xuôi. Nếu ở thơ
trữ tình ta có thể thấy được con người ông, con người của khát vọng tự do, con
người của những tình cảm xót thương, căm giân, con người của thiên nhiên, đất
nước thì trong văn xuôi lần đầu tiên xuất hiện hình tượng những “ con người bé
nhỏ”. Một trong những tác phẩm phản ánh rõ hình ảnh của “ con người bé nhỏ”
phải kể đến đó là tác phẩm “ người coi trạm” của Puskin.
Người coi trạm là một tác phẩm được sáng tác năm 1830 mở đầu cho sự ra
đời của “ Những con người bé nhỏ”. Trong tác phẩm này Puskin đã nêu ra những
vấn đề đặc trưng nhất của văn học hiện thưc đó là: miêu tả những “ con người bé
nhỏ”, con người yếu đuối, khiếp nhược trước sự thống trị của giai cấp quý tộc đồng
thời bộc lộ sự cảm thông sâu sắc đối với những con người nghèo khổ bị áp bức khổ
nhục.
Tác phẩm Người coi trạm có một cốt truyện đơn giản. Đó chỉ là câu chuyện
về một người cha bị mât con, đi tìm con và chịu mất luôn cuộc sống của mình. Đơn
giản như vậy thôi, đúng vậy: những điều tưởng chừng như giản đơn nhưng nó lại
làm nên những giá trị cao đẹp. Tác phẩm văn học sẽ hay hơn rất nhiều nếu như
7
người tiếp nhận thấy được hết những gì mà tác giả gửi gắm. Không quá cầu kỳ
trong việc xây dựng cốt truyện, đơn giản mà khác biệt, qua ngòi bút của Puskin, cả
một thế giới tù túng, ngột ngạt đầy rẫy sự đè nén và tước đoạt hiện ra, cả một đời
khối. Tác giả đã sử dụng chủ yếu là không gian sinh hoạt( gian nhà trạm, phòng
làm việc của Minski, phòng khách của Đunhia). Không gian bên ngoài( phong
cảnh) được sử dụng như một sự minh họa cho kết quả tất yếu của những sự việc
diễn ra từ không gian sinh hoạt, đã làm tăng sự bi thảm của nhân vật Xamxon( bãi
tha ma).
Không gian được miêu tả trong tác phẩm đó là không gian sinh hoạt, không gian
gắn với ngôi nhà trạm với con người, cảnh vật Tất cả những yếu tố đó được thể
hiện thông qua cái nhìn, cảm nhận đánh giá của nhân vật “ tôi” trong toàn tác
phẩm. Một không gian có sự vận động thay đổi gắn với con người và tâm trạng. Sự
vận động không gian đó được thể hiện thông qua 3 lần gặp gỡ của nhân vật “ tôi”
với bác coi trạm già.
Trong văn bản, đoạn từ “ tháng Năm năm 1816, tôi có dịp qua tỉnh X…” đến “
….kỷ niệm lâu dài và êm đềm đến thế”. Dưới đây là phân tích cụ thể về sự vận
động của không gian sinh hoạt thể hiện trong lần gặp thứ nhất của nhân vật “ tôi”
với bác coi trạm già.
Ở lần gặp gỡ thứ nhất vào tháng 5/ 1816 đối với nhân vật “tôi” nó khác hẳn
những lần gặp gỡ với người coi trạm khác mà trong suốt 20 năm trời nhân vật “
tôi” có dịp đi khắp nước Nga. Ở lần gặp gỡ này Người coi trạm có vẻ ngoài cũng
9
như tính tình khác hẳn so với những nhận định ban đầu về người coi trạm. Với việc
xuất hiện con mưa bất chợt càng làm cho nhân vật “ tôi” thêm thời gian để chuyện
trò cảm nhận về không gian nơi nhà trạm. “ Hôm ấy là một ngày oi bức. Còn cách
trạm X ba dặm thì trời bắt đầu mưa đổ hột và một phút sau thì một trận mưa rào
xối cho chúng tôi ướt như chuột lột”.
Thời tiết đang oi bức bỗng đổ cơn mưa rào khiến cho nhân vật “ tôi” phải trú lại
nhà của bác coi trạm và có thời gian để thấy được một cái không gian ấm cúng, vui
vẻ và tươm tất của ngôi nhà. Ở đó con người cũng như cảnh vật đều mang một
màu sắc tươi sáng tuy ngôi nhà chỉ đạm bạc. Trên tường ngôi nhà trạm có treo
“ Mấy bức tranh kể về chuyện “ đứa con hư”: bức thứ thứ nhất vẽ một cụ già đội
mũ chụp, mặc chiếc áo khoác ngủ, từ biệt một thanh niên có vể sốt ruột đang vội
cũng chỉ là một công chức bậc thấp thứ mười bốn mà ai cũng có thể nguyền rủa
hay trút xuống người những trận đòn roi. Mặc dù nghèo khó nhưng trong nhà lúc
nào cũng tươm tất, không khí gia đình lúc nào cũng vui vẻ, sẵn sàng tiếp đón
những vị khách qua trạm khiến cho không gian sinh hoạt lúc nào cũng ấm cúng
thân thiết. Một không gian khiến cho nhân vật tôi cảm thấy ấn tượng và luyến tiếc
khi chia tay.
Nếu như lần gặp thứ nhất là vậy thì ở lần gặp thứ hai này, người đọc sẽ thấy được
sự khác biệt rõ nét về không gian mà tác giả nói tới trong tác phẩm, nó có sự vận
động, thay đổi. Lần gặp thứ hai trong tác phẩm được tính từ đoạn “ Mấy năm trôi
qua, tôi lại có dịp đi trên con đường trạm ấy” đến “ cứ nghĩ đến Đunia đáng
thương”. Trong lần gặp thứ hai giữa nhân vật“ tôi” và bác coi trạm già, chúng ta
cần chú ý những chi tiết về sự đổi thay về mạt không gian sinh hoạt. Đó là:
11
Mấy năm trôi qua, nhân vật “tôi” lại có dịp quay trở lại trạm ấy. Nhân vật “ tôi”
đến thăm người coi trạm và mong muốn được gặp lại Đunia xinh đẹp. Nó không
còn là không khí vui vẻ ấm áp như lần gặp đầu tiên mà thay vào đó là một vẻ“ tàn
tạ và bừa bãi”. Không gian này đa trở thành một không gian khuyết thiếu: thiếu về
cả con người và cảnh vật. Bước vào ngôi nhà trạm, dừng lại trước tiên mắt nhân
vật “tôi” không phải là nàng Đunia xinh đẹp mà đó lại là hình ảnh của bốn bức
tranh về “ đứa con hư”. Nó được xem như là điền báo cho sự bất hạnh ập xuống cái
gia đình nhỏ bé của bác coi trạm. Không gian sinh hoạt vẫn như cũ, đó vẫn là ở cái
nhà trạm nhưng cảnh vật con người thì đã có sự thay đổi. “ Cái bàn và chiếc
gương vẫn nguyên chỗ cũ ; nhưng bên của sổ không còn thấy những đóa hoa như
xưa”. Đây là điều tất yếu bởi thiếu đi bàn tay lo toan chăm sóc của cô con gái yêu
Đunia, nàng đã đi theo Mixki -một chàng khinh kị trẻ tuổi. Không khí và cảnh vật
nhuốm một màu ảm đạm và bừa bãi. Nhất là sự thay đổi của một con người khi
nhân vật “tôi” gặp lại bác coi trạm “ Đúng là bác Xamxon Vurin ; nhưng sao già
đi nhiều quá!”. Bác coi trạm khiến cho nhân vật “tôi” phải sửng sốt, thời gian mới
chỉ có ba năm mà sao có thể khiến con người và cảnh vật thay đổi đến thế, không
gian gian nhà sao mà buồn tẻ và ảm đạm, điều gì lại biến một người khỏe mạnh
kín bầu trời; gió lạnh thổi qua những cánh đồng đã gặt, cuốn theo những chiếc là
dỏ, vàng của cây cối bên đường”. Nhân vật “ tôi” đã thuê một chiếc xe tư để trở lại
thăm bác coi trạm già nhưng lại được tin người đó đã mất. Được chú bé con của
người nấu ruợu dẫn đi thăm mộ người coi trạm, đó là “ một cái bãi trơ trụi , không
rào giậu,không một bóng cây, chỉ lơ thơ mấy chiếc thành giá bằng gỗ”, một cái
nghia trang ảm đạm và thê lương. Đó là không gian sinh hoạt của người chết,
không gian của những người nghèo khổ. Nhưng trong cái không gian thê lương đó,
13
mộ của người coi trạm lại nổi lên đó là một cây thánh giá bằng đồng. Giữa những
chiếc thánh giá bằng gỗ thì chiếc thành giá bằng đồng này nổi lên như một sự lạc
lõng, giá cứ để ngôi mộ của bác coi trạm là chiếc thành giá bằng gỗ, có lẽ linh hồn
của bác sẽ còn được an ủi. Hình ảnh Đunia “ sụp xuống nằm mãi một hồi lâu”,
nhưng lại đối lập với hành động đi một mình “ các con ngồi đây cho ngoan nhé,
mẹ đi ra nghĩa trang” đã đặt một dấu chấm hết trong lòng của nhân vật “tôi”. Lần
trở lại này đã khiến mọi băn khoăn, nghi ngờ đối với Đunia đã hoàn toàn mất hết,
những suy nghĩ tốt đẹp, bênh vực cho Đunia giờ đây đã không còn gì nữa. Đối với
nhân vật “ tôi” đó là sự chấm hết của một con người hiếu thảo, một người con gái
đã từng để lại trong nhân vật “tôi” những kỉ niệm êm đềm. Đó còn là sự cảm
thông, xót thương cho số phận, cuộc dời bất hạnh của người coi trạm, chết trong
nỗi cô đơn, bất hạnh và tấm lòng yeu con sâu sắc. Lần trở lại này đã cho nhân vật“
tôi” một đáp án, một câu trả lời cho những trăn trở của nhân vật để rồi “ không còn
tiếc cuộc hành trình cũng như bảy đồng rúp tiêu phí nữa”.
Ta có thể thấy ở cả ba lần gặp gỡ không gian sinh hoạt đã có sự thay dổi rõ
rệt, đó là một sự vận động thay đổi gắn với con người và cảnh vật, phản ánh số
phận bất hạnh của“ những con người bé nhỏ” trong sáng tác của Puskin. Không
gian dần hòa hợp giữa không gian của con người, không gian sinh hoạt trong ngôi
nhà trạm tới không gian của cảnh vật cuả tự nhiên, từ không gian của người sống
tới không gian của người chết. Sự vận động của không gian sinh hoạt gắn với diễn
biến tâm trạng của nhân vật, sự giao hòa với không gian của tự nhiên.
Như vậy, với nghệ thuật truyện ngắn đặc sắc, không quên nói tới vai trò quan trọng
bản còn nhiều hạn chế, hiểu biết chưa thật sự sâu về vấn đề nên nhóm chúng tôi hi
15
vọng sẽ có được sự góp ý nhiệt tình từ phía cô giáo và toàn thể các bạn để bài làm
được hoàn thiện hơn.
16