1
NGUYỄN TUÂN(1910-1987)
I. Giới thiệu nét chính về tiểu sử và quá trình sáng tác văn học của
Nguyễn Tuân:
Nguyễn Tuân sinh ngày 10/7/1910. Hà Nội là nơi sinh ra và cũng là quê hương
của Nguyễn Tuân.
Gia đình có truyền thống nho học. Song lúc này Nho học đã thất thế, nhường
chỗ cho Tây học. Cả một thế hệ (trong đó có cụ Tú Hải Văn, thân sinh của Nguyễn
Tuân ) vốn gắn bó với cửa Khổng sân Trình bỗng dưng trở nên lỗi thời trước xã
hội giao thời Tây-Tàu nhố nhăng, sinh ra tư tưởng bất đắc chí.Ngay từ nhỏ,
Nguyễn Tuân đã được nuôi trong nền văn hóa cổ truyền của dân tộc với những
phong tục, nề nếp từ một thời xưa đang tàn dần và biến đổi vì sự xâm nhập của
văn minh máy móc và hàng hóa du nhập từ Phương Tây.
1. Thời kì trước Cách mạng tháng Tám 1945:
a. Từ 1910 – 1929:
Nguyễn Tuân tuy quê ở Hà Nội nhưng từ nhỏ, ông đã theo gia đình sống nhiều
năm ở các tỉnh miền Trung. Chính hoàn cảnh sống của gia đình đã tạo điều kiện
cho ông ngay từ thời niên thiếu được “xê dịch” qua nhiều nơi, để lại nhiều dấu ấn
trong những trang viết về đề tài “chủ nghĩa xê dịch” của ông.
b. Từ 1929 – 1941:
Nguyễn Tuân đã phải trải qua những năm tháng vô cùng khổ sở, có lúc bế tắc,
tuyệt vọng. Năm 1929, ông bị đuổi học vì tham gia bãi khóa chống giáo viên Pháp
nói xấu người Việt Nam tại trường trung học Nam Định. Năm 1938, ông cùng một
nhóm bạn vượt biên giới sang Lào, bị bắt ở Thái Lan, đưa về giam ở Thanh Hóa.
Hơn một năm sau, ra tù ông lại tiếp tục “xê dịch” đi trái phép vào Sài Gòn, đến
Vinh thì bị bắt và bị quản thúc. Nguyễn Tuân lâm vào tình trạng khủng hoảng tinh
thần sâu sắc. Ông lao vào con đường ăn chơi trụy lạc, thành kẻ “đại bất đắc chí”
như một con người “ hư hỏng hoàn toàn”.
Bối cảnh xã hội, không khí gia đình đặc biệt ấy đã ghi lại dấu ấn sâu sắc trong
cá tính, tư tưởng cũng như phong cách nghệ thuật của Nguyễn Tuân.Trước cách
mạng tháng 8, tác phẩm của Nguyễn Tuân tập trung vào 3 đề tài sau:
Phân tích truyện ngắn “Chữ người tử tù”.
Hình tượng trung tâm của tác phẩm và cũng là nhân vật lí tưởng của tác giả là
Huấn Cao- một người dám đứng lên phản đối, chống lại triều đình xấu xa rồi bị bắt
và cầm tù, chờ ngày ra pháp trường. Trong tù, ông vẫn ăn uống, sinh hoạt bình
thường, thậm chí ông còn mắng cả cai ngục. Ngày mai ra pháp trường, hôm nay
ông vẫn bình tĩnh cho chữ viên quản ngục và cho cả những lời khuyên để quản
ngục “về quê” làm lại cuộc đời. Cũng nhân cảnh cho chữ, chính Huấn Cao đã nhận
ra rằng “chút nữa ta đã phụ một tấm lòng trong thiên hạ”. Nguyễn Tuân đã quy
chiếu cả ba thứ ánh sáng trong hình tượng này là: Cái tài – cái tâm – khí phách
hiên ngang. Chính cái đẹp, cái thiên lương, cái cao thượng đã cho ông sức mạnh để
tạo nên chiến thắng.
“Chữ người tử tù” không phải là câu chuyện kể về việc viết chữ đẹp mà đề cập
đến cái đẹp – cái đẹp của chữ, cái quý của nhân cách con người.Việc cho chữ mà
Nguyễn Tuân mô tả là một “cảnh tượng xưa nay chưa từng có”. Trước tiên, không
gian cho chữ diễn ra trong ngục tù. Nguyễn Tuân đã sử dụng rất thành công thủ
pháp đối lập, tương phản giữa một bên là “tấm lụa bạch trắng tinh”, rất mới mẻ,
sạch sẽ, nơi con người sẽ sáng tạo cái đẹp và nâng niu cái đẹp với một buồng tối
chật hẹp, ẩm ướt, tường đầy mạng nhện, đất bừa bãi phân chuột, phân gián (hình
3
ảnh tượng trưng cho sự xấu xa). Ánh sáng ngọn lửa làm cho cái xấu xa đáng kinh
tởm mờ dần, nhường chỗ cho tấm lụa mỗi lúc một sáng đẹp hơn. Ta nhận thấy ở
đây vai vế và quyền lực xã hội đã bị hoán đổi bởi người cho chữ,ban phát cái đẹp
là tử tù , người nhận chữ,thưởng thức cái đẹp lại là quản ngục. Về mặt xã hội, giữa
cai ngục và Huấn Cao có một khoảng cách lớn nhưng về sở thích, về tình yêu với
cái đẹp họ là những người tri âm tri kỉ.
Tác phẩm thể hiện tài năng nghệ thuật của Nguyễn Tuân trong việc tạo
dựng tình huống truyện độc đáo, sử dụng thành công thủ pháp đối lập, tương
phản, ở nghệ thuật dựng cảnh, khắc họa tính cách nhân vật, sử dụng ngôn từ
trang trọng, cổ kính.
Thứ ba là “Đời sống trụy lạc”
Trong cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mĩ, Nguyễn Tuân đã đóng góp
cho nền văn học nhiều tác phẩm nghệ thuật ca ngợi quê hương đất nước, người
chiến sĩ trên mặt trận vũ trang và nhân dân lao động trong chiến đấu và sản xuất.
Tùy bút “Đường vui” (1949) là một tác phẩm mang cảm hứng chủ đạo và nội
dung mới, thể hiện tình cảm chân thành của Nguyễn Tuân đối với quê hương, đất
nước, đối với cách mạng và kháng chiến. Tập tùy bút mở đầu bằng những trang
chếnh choáng say sưa, trong đó cái tôi nghệ sĩ của Nguyễn Tuân được thăng hoa
nhờ chất men lãng mạn.
Nối tiếp “Đường vui”, là “Tình chiến dịch” (1950).Tác phẩm này thể hiện sâu
sắc hơn ý thức, trách nhiệm nhà văn – chiến sĩ của Nguyễn Tuân. Từ thực tế của
cuộc kháng chiến, ông nhận ra tính chất của thời đại mới – thời đại đặt trọng tâm
vào hành động và cảm thấy tự hào “sống trong tranh đấu là một điều vinh dự cho
cảm xúc của mình”. So với “Đường vui”, trong “Tình chiến dịch”, tình cảm của
nhà văn đối với nhân dân và cuộc kháng chiến càng sâu sắc và thắm thiết hơn.
Ngày 5/8/1964, đế quốc Mĩ đem không quân đánh phá miền Bắc. Trước tình
hình đó, Nguyễn Tuân đã viết tập “Hà Nội ta đánh Mĩ giỏi”. Bằng bút pháp châm
biếm, Nguyễn Tuân đã vạch trần chân tướng bỉ ổi, hèn nhát của kẻ thù, ngợi ca
cách đánh giặc vừa anh dũng, mưu trí, vừa đàng hoàng, sang trọng của quân dân ta.
Bên cạnh đó, văn chương Nguyễn Tuân sau CMT8 còn đi tìm vẻ đẹp của thiên
nhiên và trân trọng vẻ đẹp của con người mà ông gọi đó là “chất vàng mười”. Sáng
tác tiêu biểu là tùy bút” sông Đà” được sáng tác năm 1960, gồm 15 tùy bút. Đây là
kết quả chuyến đi thực tế của Nguyễn Tuân lên Tây Bắc vào năm 1958.
Phân tích văn bản: “Người lái đò Sông Đà”.
Nội dung văn bản đề cập đến: Vẻ đẹp của thiên nhiên Tây Bắc qua hình ảnh
sông Đà hung bạo – trữ tình và vẻ đẹp của người lao động Tây Bắc qua hình ảnh
ông lái đò trên sông.
Nguyễn Tuân rất tài tình trong việc xây dựng hình ảnh sông Đà vừa hung bạo
vừa trữ tình. Hình ảnh con sông dữ dội được Nguyễn Tuân miêu tả thông qua các
hình ảnh như: “Bờ đá dựng thành vách; dòng sông lúc đúng ngọ như một cái hang
tối, sâu và lạnh; nước xô đá, đá xô sóng, sóng xô gió như muốn đòi nọ một chiếc
Những con người có trí dũng tài ba, họ có thể viết nên những thiên anh hùng ca,
có thể tạo hình tạc mẫu cho nghệ thuật. Họ là đối tuợng của cái đẹp, của ánh sáng
thẩm mĩ mới.
6
II. Phong cách nghệ thuật của Nguyễn Tuân:
1. Nguyễn Tuân chủ yếu khám phá thiên nhiên và sự vật ở phương diện văn
hóa thẩm mĩ, khám pha con người ở phương diện tài hoa nghệ sĩ.
2. Ngòi bút của Nguyễn Tuân có thói quen tô đậm những cái phi thường xuất
chúng, gây cảm giác mãnh liệt. Tất cả đều có xu hướng vươn tới cai tuyệt
vời và tuyệt đích.
3. Nguyễn Tuân là một cây bút tài hoa và uyên bác.
4. Nguyễn Tuân có công lao to lớn trong việc thúc đẩy thể tùy bút đạt tới trình
độ cao.
5. Nguyễn Tuân là bậc thầy của ngôn ngữ văn xuôi hiện đại. Văn Nguyễn Tuân
vừa trang nhã, cổ kính vừa sâu sắc hiện đại.
Hệ thống hóa kiến thức qua :TRÒ CHƠI Ô CHỮ
(Có mười ô hàng ngang, với từ khóa ở hàng dọc là tên tác giả: NGUYỄN TUÂN.)
1. Đây là mảnh đất quê hương gắn bó với tuổi thơ của Nguyễn Tuân ?
HÀ NỘI
2. Ngoài cá tính và tài năng, yếu tố nào ảnh hưởng đến phong cách nghệ thuật
của Nguyễn Tuân sau này ?
GIA ĐÌNH
3. Đây là tiểu thuyết thuộc đề tài chủ nghĩa xê dịch của Nguyễn Tuân ?
THIẾU QUÊ HƯƠNG
4. Tập truyện “Vang bóng một thời” gồm bao nhiêu truyện ngắn ?
11 TRUYỆN NGẮN
5. Tùy bút nằm trong mảng đề tài đời sống trụy lạc ?
CHIẾC LƯ ĐỒNG MẮT CUA
6. Tác phẩm nào là kết quả của Nguyễn Tuân trong chuyến đi dài hạn lên Tây