Luận chứng vai trò của tri thức - Pdf 20

LỜI GIỚI THIỆU
Lịch sử loài người đã trải qua hàng triệu năm hình thành và phát triển. Mỗi một
bước tiến trong kho lịch sử đồ sộ ấy là một bước chuyển mới trong nhận thức, tư duy.
Và cũng có thể nói đấy là sự chuyển biến của tri thức. Xã hội càng phát triển, đo là dấu
hiệu của một nền tri thức rộng mở. Vấn đề tri thức tồn tại từ rất lâu đời. Ở thời đại nào
cũng thế và ở đâu cũng vậy, tri thức trở thành một “tài nguyên” không thể thiếu của con
người, như Franxi Bêcon đã khẳng định: “Tri thức là sức mạnh”. Trong xã hội hiện đại,
thuật ngữ “tri thức” lại càng được nhắc đến nhiều hơn. Chúng ta có nền kinh tế tri thức,
xã hội tri thức, giáo dục tri thức rồi quản trị tri thức, công nghệ tri thức… Có thể nói
rằng, hàng loạt lĩnh vực đã được tri thức hoá. Tri thức là công cụ, là điều kiện tiên quyết
cho một xã hội văn minh, tiên tiến của loài người.
Trong bối cảnh hiện tại, sự bùng nổ của công nghệ và khoa học mang lại một
nguồn thông tin khổng lồ,đòi hỏi chúng ta phải biết chọn lọc, xử lý để biến nó thành tri
thức cho riêng mình. Nhận thấy rõ sự cần thiết này, em đã lựa chọn đề tài “Luận chứng
vai trò của tri thức”. Bài viết sử dụng các tư liệu có sẵn dựa trên hiểu biết của bản
thân, vì thế còn nhiều sai sót. Rát mong nhận được sự đóng góp ý kiến từ thầy, cô và các
bạn trong lớp.
Em xin chân thành cảm ơn.
1. Khái niệm và cấu trúc của tri thức.
a) Khái niệm về tri thức
Tri thức được hình thành nên từ những nhận thức, tư duy của con người về thế giớ
khách quan, về thực tiễn của cuộc sống. Tuy khái niệm tri thức đã có từ lâu trong lịch sử
loài người nhưng những nghiên cứu mang tính khoa học – tríêt học về tri thức chỉ thực
sự bắt đầu từ phát biểu Platon – một triết gia Hy Lạp cổ đại sống vào khoảng 427-347
TCN. Theo ông, tri thức là cái có trước các sự vật cảm biết mà không phải là sự khái
quát kinh nghiệm trong quá trình nhận biết các sự vật đó. Trên cơ sở lí luận nhận thức
này, Platon phân loại tri thức thành tri thức hoàn toàn đúng đắn, tin cậy và tri thức mờ
nhạt. Tuy nhận thức của ông còn hạn chế và khuynh hướng duy tâm xong nó cũng đã
khẳng định được sự tồn tại và vai trò của tri thức.
Những triết gia sau Platon đã tiếp tục nghiên cứu và tìm hiểu về khái niệm và bản
chất của tri thức. Những người có quan điểm tiến bộ hơn như Immanuel Kant đã trình

thể hiện trình độ thấp và tri thức lí luận – thể hiện trình độ cao của tri thức khoa học.
Giữa hai trình độ tri thức này có mối liên hệ mật thiết với nhau, làm tiền đề, cơ sở cho
nhau cùng phát triển và từ đấy phản ánh một cách ngày càng đầy đủ hơn, sâu sắc hơn về
thế giớ vật chất ddang vận động không ngừng.
- Tri thức kinh nghiệm: chủ yếu thu nhận qua quan sát và thí nghiệm. Từ những
hiểu biết được tích lũy trong cuộc sống hàng ngày, con người so sanhd, đối chiếu, xem
xét các sự vật và hiên tượng,từ đấy nhận thức và cải tạo thực tiễn, hình thành nên tri
thức kinh nghiệm. Đây là những hình dung thực tế về sự vật, hiện tượng, biết cách ứng
xử trong các hiên tượng tự nhiên và trong các quan hệ xã hội. Theo thời gian và bằng
kinh nghiệm sống, số lượng và chất lượng tri thức kinh nghiệm ngày càng trở nên phong
phú, đa dạng, chứa đựng những mặt đúng đắn nhưng còn riêng biệt, chưa thể đi sâu vào
bản chất. Nó mới chỉ là một hình thức,một trình độ của nhận thức nên chưa nắm được
một cách đầy đủ, toàn diện cái tất yếu, cái bản chất bên trong của sự vật hịên tượng.
Như Ph.Ănghen trong cuốn biện chứng của tự nhiên đã nhận xét: “Sự quan sát theo kinh
nghiệm tự nó không bao giờ có thể chứng minh được đầy đủ tính tất yếu” ( C.Mác và
Ph.Ănghen, 1978-1995, tập 20, trang 718)
- Tri thức lí luận : Để nắm bắt được bản chất sâu xa của sự vật, hiên tượng thì
nhận thức của con người tất yếu phải chuyển lên trình độ tri thức lí luận. Nó tồn tại
trong hệ thống các khái niệm, phạm trù, quy luật, giả thuyết, lý thuyết, học thuyết khoa
học. Lí luận hình thành từ kinh nghiệm nhưng nó không xuất hiện một cách trực tiếp, tụ
phát và không phải mọi lí luận đều xuất phat từ kinh nghiệm “Lí luận là sự tổng kết kinh
nghiệm của loài người, là sự tổng hợp những tri thức về tự nhiên và xã hội, được tích
lũy lại trong quá trình lịch sử” (Hồ Chí Minh, 1995-1996, tập 8, trang 497).
 Tri thức công nghệ: Khi đã có một vốn tri thức khoa học đầy đủ, tư duy con người
phat triển cao hơn thì hinh thành tri thức công nghệ. Dạng tri thức này quan tâm đến các
kĩ năng hay khả năng làm việc và cách xử lí tình huống một cách lin hoạt, nạy bén, trả
lời cho câu hỏi “Biết – Như thế nào?” (Know – how?). Đây cũng có thể coi la “bí
quyết” của từng người cụ thể. Nó đem đến một nhà lãnh đạo tài ba với những chiến
lược sắc bén, một công ty phát triển với những bí quyết riêng hay một nhà khoa học với
những phát minh sáng chế nổi tiếng…

cậu sinh viên mãi mê với những cuốn Bách khoa tri thức phổ thông hay giáo trình kinh
tế chính trị Mác Lênin, Toán cao cấp, … Tất cả mọi người, tuy hoàn cảnh địa vị khác
nhau nhưng họ đang cùng có chung một hoạt động, đấy là hoạt động tri thức. Và vì thế,
tri thức không còn là vấn đề riêng của mỗi cá nhân mà đã trở thành vấn đề chung của
mọi xã hội.
Xã hội càng phát triển, công cụ tìm kiếm, lưu giữ và tuyên truyền tri thức càng trở
nên tiên tiến , hiên đại. Ban đầu chỉ là những mảnh đât sét, những thanh trúc, những tờ
giấy… rồi đến những quyển sách, cái máy phát thanh, truyền hình… Bước phát triển
cao nhất của nên công nghệ thông tin hiện đại mang đến loại công cụ thay thế con người
trong các hoạt đông trí óc, đó là máy tính điện tử. Từ hàng chục năm nay, cùng với khả
năng lưu trữ, xử lí thông tin nhanh chóng và khả năng tính toán khoa học, các hệ thông
máy tính được ứng dụng để hình thành nên cơ sở dữ liệu điện tử thuộc nhiều nghành
khác nhau, trên mọi lĩnh vực và phương diện, từ đấy tạo nên hạ tầng thông tin quốc gia,
nền móng của sự phát triển thông tin ở nhiều nước. Sự phong phú về thông tin, dữ liệu
cùng khả năng khai thác nhanh chóng dễ dàng tri thức điện tử đã trở thành nguồn tri
thức mở. Tuy nhiên, chúng ta cũng cần lưu ý là sự phong phú về thông tin chưa hẳn đã
mang lại sự đầy đủ và chính xác về tri thức John Naisbett đã từng cảnh cáo : “Chúng ta
chìm ngập trong dữ liệu mà vẫn đói tri thức”. Vì vậy, con người cần biết chọn lọc và sử
lí thông tin một cách có hiệu quả, biến nó trở thành tri thức của riêng mình. Sự giàu có
về thông tin trở thành sự giàu có về tri thức sẽ mang lại một xã hội văn minh với trình
độ phát triển cao.
b) Xã hội tri thức


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status