z
ĐỀ TÀI
Gía trị nhân văn trong tư
tưởng Hồ Chí Minh
Giáo viên thực hiện :
Sinh viên thực hiện :
1
Phụ Lục Trang
I .Mở đầu
1. Lý do chọn đề tài 1
2 . Đối tượng , nhiệm vụ, phương pháp nghiên cứu 2
3.Ý nghĩa đề tài
II.Nội dung
1. Con người là vốn quý nhất - nhân tố quyết định thắng
lợi của cách mạng
1.1 Nhận thức về con người 3
1.2 Thương yêu con người, thương yêu nhân dân 4
1.3 Tin vào sức mạnh, phẩm giá và tính sáng tạo 6
của con người
1.4 Lòng khoan dung rộng lớn 9
2. Con người vừa là mục tiêu,vừa là động lực cách mạng
11
2.1 Con người là mục tiêu của sự nghiệp cách mạng
2.2 Con người là động lực của cách mạng
12
3. Xây dựng con người là chiến lược hàng đầu của cách mạng
13
III.Kết luận 14
tự do, quyền mưu cầu hạnh phúc". Tư tưởng nhân văn
Hồ Chí
Minh được
nâng lên tầm cao hơn khi ở Người hội tụ những tư tưởng tiến bộ của toàn
nhân loại, trong đó có các hệ tư tưởng nhân văn Phục Hưng, Khai sáng.
Đặc biệt, tư tưởng nhân văn Hồ Chí Minh chỉ thật sự trở thành lý luận
khoa học, học thuyết vững chắc khi Người thấm nhuần tư tưởng Cộng sản
Chủ nghĩa của các lãnh tụ thiên tài: C.Mác, Ph.Ăngghen và V.I Lênin.Vì
vậy em chọn đề tài này nhằm làm rõ giá trị nhân văn trong tư tưởng của
Người, tìm kiếm phương châm hành động với tình yêu thương con người
trở thành lẽ sống, yêu thương con người gắn với lòng tin con người,dùng
sức mạng con người để giải phóng và phục vụ con người của Bác.
4
2.Đối tượng , nhiệm vụ, phương pháp nghiên cứu:
- Về đối tượng nghiên cứu: Đó là tư tưởng nhân văn nhân đạo mà Người
hướng đến xuyên suốt trong cuộc đời chính trị và nghệ thuật của mình.
- Về phương pháp luận, Hồ Chí Minh sử dụng phương pháp biện chứng
duy vật hành động khoa học, không giáo điều, rập khuôn, máy móc hoặc
xét lại, bảo thủ trì trệ. Hồ Chí Minh luôn nhắc chúng ta học đi đôi với
hành, lý luận gắn liền với thực tiễn, bất cứ ai làm việc gì, ở cấp bậc nào
đều phải đi sâu nghiên cứu lý luận, không ngừng học tập nâng cao trình
độ, đồng thời phải coi trọng tổng kết thực tiễn, bổ sung để làm sáng rõ
cho lý luận.
- Nhiệm vụ trong tư tưởng Hồ Chí Minh là: Giáo dục toàn diện về
mặt đạo đức giác ngộ Xã hội Chủ nghĩa, văn hóa, kỹ thuật, lao động
và sản xuất nhằm tẩy sạch ảnh hưởng chế độ giáo dục nô dịch thực
dân còn sót lại như: thái độ thờ ơ với xã hội, xa với đời sống lao động
và đấu tranh của nhân dân, học để lấy bằng cấp, dạy theo lối nhồi
sọ Cần xây dựng tư tưởng: dạy và học để phục vụ Tổ quốc, giáo
lại vẫn là tình yêu thương con người. Tình yêu thương con người ở Hồ
Chí Minh đã trở thành lẽ sống của Người, yêu thương con người gắn với
tin ở con người, dùng sức của con người để giải phóng cho con người, vì
con người và phục vụ con người.
1.1 Nhận thức về con người
Khác với một số quan niệm chưa đúng đắn về nhân dân lao động, về
con người,tôn giáo, v.v Hồ Chí Minh đề cập con người cụ thể gắn với
từng thời kì lịch sử; không có con người chung chung, trừu tượng phi
nguồn gốc lịch sử hay con người kiểu tôn giáo. "Chữ người, nghĩa hẹp là
gia đình, anh em, họ hàng, bầu bạn… Nghĩa rộng là đồng bào cả nước.
Rộng hơn nữa là cả loài người", Hồ Chí Minh đã từng nói như vậy, quan
niệm “bốn bể đều là anh em” rất rõ ràng, cụ thể. Tình thương yêu con
người của Hồ Chí Minh chính là sự đồng cảm với những người cùng
chung cảnh ngộ, của những người dân mất nước, nô lệ, lầm than. Trái tim
Người hoà nhịp với khát vọng cháy bỏng được giải phóng của các dân tộc
bị áp bức. Người đau nỗi đau chung của nhân loại lầm than. Xuất phát từ
tình yêu thương ấy mà Người đã đi tìm con đường giải phóng cho dân tộc,
giải phóng khỏi mọi áp bức, bất công. “Từ giải phóng những người nô lệ
mất nước, những người lao động cùng khổ đến giải phóng con người”. Đó
chính là mục tiêu mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng khẳng định trong Lời
ra mắt của báo “Người cùng khổ” (Le Paria) tại nước Pháp năm 1921.
Đứng vững trên lập trường giai cấp công nhân, từ khi về nước lãnh đạo
nhân dân đấu
tranh giành chính quyền cách mạng, Hồ Chí Minh lại dùng
đến khái niệm "đồng bào", "quốc dân" Khi miền Bắc quá độ lên Chủ
nghĩa xã hội, Người dùng thêm nhiều khái niệm như "công nhân", "nông
6
dân", "trí thức", "lao động chân tay", "lao động trí óc", "người chủ xã
hội"
1.2 Thương yêu con người, thương yêu nhân dân
Pháp và bè lũ tay sai. Với đường lối đúng đắn mà Người đề ra,
tập hợp, đoàn kết toàn dân tộc vào một Mặt trận thống nhất và tranh thủ
sự ủng hộ và giúp đỡ của quốc tế, nhân dân ta đã đánh đuổi đế quốc thực
dân, giải phóng dân tộc, nước ta hoàn toàn độc lập, thống nhất và xây
dựng cuộc sống mới. Luôn thương yêu con người, nên Hồ Chí Minh luôn
khát khao hòa bình, một nền hòa bình thật sự, trong độc lập, tự do. Trước
cách mạng, trong kháng chiến, Hồ Chí Minh luôn có thái độ nghiêm túc,
thận trọng đối với vấn đề khởi nghĩa, tranh thủ khả năng phát triển hòa
7
bình để hạn chế sự đổ máu cho nhân dân ta và nhân dân các nước. Lãnh
đạo Cách mạng Tháng Tám năm 1945, Người chủ trương chủ yếu sử
dụng bạo lực chính trị. Đó là cuộc cách mạng ít đổ máu nhất. Sau Cách
mạng Tháng Tám, Hồ Chí Minh đã cố gắng làm tất cả những gì có thể
làm được để tránh cuộc chiến tranh Việt - Pháp. Nhưng khi bọn thực dân
hiếu chiến quyết gây ra chiến tranh để buộc dân ta sống kiếp đời nô lệ,
mất nước thì Hồ Chí Minh kêu gọi cả dân tộc đứng lên chiến đấu vì độc
lập, tự do của Tổ quốc, vì nền hòa bình và phẩm giá của nhân loại tiến bộ.
Hồ Chí Minh coi sinh mạng con người là quý giá nhất. Theo Người,
"không có một trận đánh đẫm máu nào là "đẹp" cả, mặc dù thắng lớn.
Người quý trọng sứcdân, của dân; trọng người tài, đức, trân trọng "người
tốt, việc tốt" dù rất nhỏ".Người trân trọng từng ý kiến của dân, lắng nghe
dân, học hỏi dân, bàn bạc với dân, tự phê bình trước dân, trả lời ý kiến
của dân, tôn trọng và chấp hành nghiêm minh pháp luậtNgay sau khi
Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công, Người đề ra những nhiệm
vụ cấp bách là diệt giặc đói và diệt giặc dốt cùng với việc chống giặc
ngoại xâm. Trước mắt phải xóa đói nghèo, làm cho kinh tế phát triển "làm
cho người nghèo thì đủ ăn, người đủ ăn thì khá giàu và người khá giàu thì
giàu thêm" (Hồ Chí Minh toàn tập, Nxb CTQG, H.1995, t5, tr65). Kinh tế
có phát triển, đời sống đồng bào có ấm no thì đất nước mới cường thịnh.
Người từng nói: Tôi thấy các cháu bụng ỏng, mắt choẹt, tôi hết sức đau
tiêu của Nhà nước là: "Làm cho dân có ăn. Làm cho dân có mặc. Làm
cho dân có chỗ ở. Làm cho dân có học hành". Người còn nói: "Chúng ta
đã hy sinh phấn đấu để giành độc lập. Chúng ta đã tranh được rồi
Chúng ta tranh được tự do, độc lập rồi mà dân cứ chết đói, chết rét, thì tự
do, độc lập cũng không làm gì . Dân chỉ biết rõ giá trị của tự do, của độc
lập khi mà dân được ăn no, mặc đủ".
1.3 Tin vào sức mạnh, phẩm giá và tính sáng tạo của con người
Hồ Chí Minh kế thừa tư tưởng kiệt xuất của các anh hùng, hào kiệt
của dân tộc như Trần Hưng Đạo, Nguyễn Trãi về sức mạnh của nhân
dân "Khoan thư sức dân để làm kế bền gốc, sâu rễ", "đẩy thuyền cũng là
dân mà lật thuyền cũng là dân". Người còn kế thừa tư tưởng nhân văn
"lấy dân làm gốc" và chủ nghĩa nhân đạo hiện thực của học thuyết Mác để
hình thành tư tưởng nhân văn mới, tin tưởng mãnh liệt vào sức mạnh, tính
chủ động, sáng tạo của quần chúng nhân dân và lòng tôn trọng, kính trọng
nhân dân lao động. Người nói "Trong bầu trời không có gì quý bằng nhân
dân. Trong thế giới không gì mạnh bằng lực lượng đoàn kết của nhân
dân".
Trong điều kiện bị đế quốc thực dân thống trị, kẻ thù đàn áp dã man,
cùng với chính sách ngu dân của chúng, người dân các nước thuộc địa
tưởng chừng
không thể
gượng dậy nổi, song Chủ tịch Hồ Chí Minh vẫn
tin tưởng ở nhân dân mình, dân tộc mình " đằng sau sự phục tùng tiêu
cực, người Đông Dương đang dấu một cái gì đang sôi sục, đang gào thét
và sẽ bùng nổ một cách ghê gớm khi thời cơ đến " và sự tàn bạo của chủ
nghĩa tư bản đã chuẩn bị đất rồi: chủ nghĩa xã hội chỉ cần phải làm cái
việc là gieo hạt giống của công cuộc giải phóng nữa thôi. Trong quá trình
đấu tranh, Người đã làm cho nhân dân thế giới nhận thức rõ vấn đề thuộc
địa, đoàn kết giúp đỡ phong trào giải phóng dân tộc là giúp đỡ cho chính
mình. Năm 1921, Hồ Chí Minh đã có những quan điểm khác hẳn với
Hồ Chí Minh đã vận dụng vô tinh tế truyền thống của cha ông trong một
triết lý: “Có trọng người, kính người thì người mới trọng ta”. Ngày nay,
nội dung trên càng có ý nghĩa lớn lao, nó đã thúc đẩy và tạo được mối
dung hoà, gắn kết bền chặt ở cả lý luận và thực tiễn.
Người nhận thấy rõ vai trò của quần chúng nhân dân trong sự
nghiệp cách mạng, "người là gốc của làng nước", "nước lấy dân làm
gốc", "gốc có vững cây mới bền", "xây lầu thắng lợi trên nền nhân
dân". Người còn nói rằng: "Dân như nước, mình như cá", "lực lượng
nhiều là ở dân hết". "Công việc đổi mới là trách nhiệm ở dân". Do đó,
Người yêu cầu "Đem tài dân, sức dân, của dân, làm lợi cho dân".
Niềm tin vào sức mạnh của dân còn được nhận thức từ mối quan hệ
giữa nhân dân với Đảng và Chính phủ. Hồ Chí Minh chỉ rõ: nếu
không có nhân dân thì Chính phủ không đủ lực lượng; nếu không có
Chính phủ thì nhân dân không có ai dẫn đường. Đảng lãnh đạo để
dân làm chủ. Lực lượng bao nhiêu là nhờ ở dân hết. Nhận thức như
10
vậy để hiểu rằng tin dân, học dân, tôn trọng dân, dựa vào dân theo
đúng đường lối quần chúng sẽ tạo nên sức mạnh vô địch. Bởi vì sự
nghiệp cách mạng giành độc lập dân tộc và xây dựng chủ nghĩa xã hội
chỉ có thể thực hiện được với sự giác ngộ đầy đủ và lao động sáng tạo
của hàng chục triệu quần chúng nhân dân.
Tình thương bao la của Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ đối với các anh
hùng, liệt sĩ, cán bộ, dân quân, du kích, thanh niên xung phong, đối với
cha mẹ, vợ con của thương binh, liệt sĩ, mà ngay cả đối với các nạn nhân
chiến tranh, đối với những người lầm đường lạc lối, những người thiếu
tu dưỡng…Người cũng tìm cách phát huy những ưu điểm và hạn chế
những nhược điểm của họ. Người căn dặn phải
giúp họ trở thành những người lao động lương thiện
Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt coi trọng xây dựng "con người mới" vì
đây là động lực quyết định hướng đi lên của xã hội Việt Nam tương lai.
triển và tiến bộ của Đảng, của dân tộc; Người vẫn dành muôn vàn tình
thương yêu cho mọi người.
1.4 Lòng khoan dung rộng lớn
Tư tưởng bao dung Hồ Chí Minh xuất phát từ quan điểm: “Sông to,
biển rộng, thì bao nhiêu nước cũng chứa được, vì độ lượng nó rộng và
sâu. Cái ché nhỏ, cái đĩa cạn, thì một chút nước cũng đầy tràn: vì độ
lượng nó hẹp nhỏ”. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã phân biệt bọn thực dân
cướp nước ta với nhân dân lương thiện ở các nước đó. Người cũng phân
biệt bọn hiếu chiến Mỹ với nhân dân Mỹ yêu tự do và hoà bình. Người
không hề đánh đồng bọn xâm lược Mỹ với nhân dân Mỹ. Và chính
Người đã coi bạn bè năm chân tận tình ủng hộ cuộc đấu tranh chống đế
quốc Mỹ của nhân dân ta, trong đó có cả nhân dân yêu chuộng hoà
bình Mỹ.Vì sự nghiệp giải phóng dân tộc, vì tiến bộ xã hội, Hồ Chí Minh
đưa ra chủ trương có lý, có tình đối với kiều dân nước ngoài ở Việt Nam,
nhằm bảo vệ tính mạng,tài sản của họ. Người đánh giá cao vấn đề này và
ghép tội "vô cớ sát hại kiều dân ngoạiquốc" vào tử hình.Với lòng nhân ái
bao la, phát huy truyền thống "thương người như thể thương thân", "đánh
kẻ chạy đi không đánh kẻ chạy lại", Hồ Chí Minh có chính sách khoan
hồng đại lượng, đối xử nhân đạo với tù binh.
Chủ nghĩa bao dung trong tư tưởng nhân văn Hồ Chí Minh không chỉ
là sự quan tâm đến hạnh phúc của con người, mà còn là tấm lòng rộng
mở đối với cả tự nhiên. Người không quên dặn dò các thế hệ sau này phải
bảo vệ hệ sinh
thá
i cho đa dạng, cân bằng. Người đề xuất ý tưởng trồng
cây và bảo vệ sự trong sạch của môi trường sống. Trong tư tưởng nhân
văn Hồ Chí Minh đã đặt vấn đề cần giáo dục đạo đức sinh thái cho nhân
dân.
Có thể nói, bao dung trong tư tưởng nhân văn Hồ Chí Minh gắn chặt chẽ
với các vấn đề đạo đức mới, mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã gọi là đạo đức
châu, làm cho kẻ thù cũng phải khâm phục.
Văn hóa khoan dung Hồ Chí Minh là kết tinh truyền thống nhân ái, độ
lượng Việt Nam và cũng là nét đặc trưng của văn hóa hòa bình trong thời
đại ngày nay. Người nói: “Dân tộc ta là một dân tộc giàu lòng đồng tình
và bác ái”. Hồ Chí Minh đã kế thừa và phát triển những giá trị khoan
dung của dân tộc và nhân loại, nâng
lên thành
một chất lượng mới, ở một
tầm cao mới.Là người cộng sản, Hồ Chí Minh có thái độ tôn trọng,
không bao giờ tỏ ra kỳ thị, bài bác mà luôn luôn có ý thức khai thác, vận
dụng những yếu tố tích cực của các học thuyết chính trị và tôn giáo như
Nho, Phật, Lão, Thiện chúa giáo… vào sự nghiệp bảo vệ và xây dựng đất
nước.Khoan dung văn hóa Hồ Chí Minh được xây dựng trên cơ sở chữ
“nhân” nhưng là một chữ nhân sáng suốt, có nguyên tắc, lấy công lý,
chính nghĩa là nền tảng, chủ trương giải quyết những vấn đề dân tộc và
quốc tế trên cơ sở “có lý, có tình”.Khoan dung văn hóa Hồ Chí Minh là
thái độ trân trọng đối với mọi giá trị văn hóa nhân loại, là không ngừng
rộng mở, thâu hóa những yếu tố tích cực, tiến bộ và nhân văn của loài
người để làm giàu cho văn hóa Việt Nam. Khoan dung văn hóa Hồ Chí
Minh là chấp nhận giao lưu và đối thoại bình đẳng về giá trị để đạt tới cái
chung, cái nhân loại, để cùng tồn tại và phát triển. Trong khi chống thực
13
dân Pháp xâm lược, Người vấn đề cao văn hóa Pháp. Trong khi chống đế
quốc Mỹ, Người vẫn ca ngợi truyền thống văn hóa dân chủ và cách mạng
Mỹ. Nói về văn hóa khoan dung Hồ Chí Minh, nhà báo Mỹ Đ.Han-bơ-
xtam đã thừa nhận: “Cụ Hồ đã làm được một điều đáng chú ý: biết dùng
tới văn hóa và tâm hồn kẻ thù để chiến thắng” Chủ tịch Hồ Chí Minh đã
để lại cho dân tộc Việt Nam một di sản văn hóa cao đẹp và phong phú,
trong đó không thể nhắctới những tư tưởng chỉ đạo của Người về xây
dựng một nền văn hóa mới: dân tộc, khoa học và nhân văn, một nền văn
Chúng ta đã tranh được rồi… Chúng ta tranh được tự do, độc lập rồi mà
dân cứ chết đói, chết rét, thì tự do, độc lập cũng không làm gì. Dân chỉ
biết rõ giá trị của tự do, của độc lập khi mà dân được ăn no, mặc đủ" Do
vậy, khi có chính quyền rồi, Người luôn nhắc nhở phải xây dựng bộ
máy trong sạch, đấu tranh với những biểu hiện của thói quan liêu, hách
dịch, nhũng nhiễu nhân dân; phải dựa vào nhân dân, khơi dậy sức mạnh
tiềm tàng trong nhân dân để phục vụ cho sự nghiệp đổi mới, xây dựng
đời sống mới trong nhân dân…
2.2 Con người là động lực của cách mạng
Con người là động lực của cách mạng được nhìn nhận trên phạm vi
cả nước, toàn thể đồng bào, song trước hết là ở giai cấp công nhân và
nông dân. Điều
này có ý nghĩa to lớn trong sự nghiệp giải phóng dân tộc và xây dựng chủ
nghĩa xã hội. Không phải mọi con người đều trở thành động lực, mà phải
là
những con
người được thức tỉnh, giác ngộ, giáo dục, định hướng và tổ
chức. Họ phải
có trí tuệ và bản lĩnh, văn hóa, đạo đức, được nuôi dưỡng trên nền truyền
thống lịch sử và văn hóa hàng ngàn năm của dân tộc Việt Nam
Như vậy, con người phải được đặt vào vị trí trung tâm của sự phát
triển. Nó vừa nằm trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của đất
nước với nghĩa rộng,
vừa nằm trong chiến lược giáo dục - đào tạo theo nghĩa hẹp. Người khẳng
định: Muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội, trước hết cần có những con người
xã hội chủ
nghĩa. Con người xã hội chủ nghĩa đương nhiên phải do chủ nghĩa xã hội
tạo ra. Nhưng ở đây trên con đường tiến lên chủ nghĩa xã hội thì "trước
hết cần có những con người xã hội chủ nghĩa". Điều này cần được hiểu là
ngay từ đầu phải đặt ra nhiệm vụ xây dựng con người có những phẩm
giàu mọi người Việt Nam đều phải hiểu biết quyền lợi của mình, bổn
phận của mình, phải có kiến thức mới để có thể tham gia vào công cuộc
xây dựng nước nhất. Vì thế, giáo dục có tầm quan trọng hàng đầu trong
chiến lược con người, bởi giáo dục đào tạo nên chất người, nên nhân tài.
Trong Nhật ký trong tù, Bác viết: "Hiền dữ phải đâu là tính sẵn. Phần
nhiều do giáo dục mà nên". Chiến lược giáo dục là hạt nhân trong chiến
lược con người, cung cấp trí thức mới, đào tạo nên nhân tài cho đất nước.
Gửi thư cho học sinh nhân ngày khai trường đầu tiên của nước Việt Nam
dân chủ cộng hòa, tháng 9/1945, Bác viết: "Ngày nay, các cháu được cái
may mắn hơn cha anh là được hưởng một nền giáo dục của một nước độc
lập, một nền giáo dục nó sẽ đào tạo các cháu nên nhưng người công dân
có ích cho nước Việt Nam, một nền giáo dục làm phát triển hoàn toàn
năng lực sẵn có của các cháu… Đó là một nền giáo dục “vì lợi ích trăm
năm" của đất nước.
Trong năm vừa qua, một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên, kể cả
16
một số cán bộ chủ chốt các cấp, yếu kém cả về phẩm chất và năng lực…
thoái hóa, biến chất về chính trị, tư tưởng, về đạo đức, lối sống, tệ quan
liêu, tham nhũng, lãng phí… Vì thế trong công tác cán bộ, Đại hội X đã
đưa ra mục tiêu chung là xây dựng đội ngũ cán bộ có bản lĩnh chính trị
vững vàng, có đạo đức, lối sống lành mạnh, không quan liêu, tham
nhũng, lãng phí, có tư duy đổi mới, sáng tạo, có kiến thức chuyên môn,
nghiệp vụ đáp ứng yêu cầu của thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện
đại hóa… Đại hội X đã đề ra mục tiêu những năm tới của giáo dục và
đào tạo là: Nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, đổi mới cơ cấu tổ
chức, nội dung, phương pháp dạy và học, thực hiện “chuẩn hóa, hiện đại
hóa, xã hội hóa” chấn hưng nền giáo dục Việt Nam
Nội dung và phương pháp giáo dục phải toàn diện, cả đức, trí, thể,
mỹ, phải đặt đạo đức, lý tưởng và tình cảm cách mạng, lối sống xã hội
chủ nghĩa lên hàng đầu. Hai mặt đức, tài thống nhất với nhau, không tách
lập tự do. Người luôn luôn dành trọn muôn vàn tình thương yêu cho mọi
người con đất Việt. Lời dạy của Bác muôn vàn kính yêu cũng chính là
tâm niệm của mỗi thanh niên bao thế hệ. Theo lời dặn của Bác, Đảng và
Nhà nước ta luôn dành sự quan tâm tin tưởng đặc biệt đối vào thế hệ trẻ.
Đó chính là niềm cổ vũ lớn lao, là lực lượng lao động mạnh mẽ để tuổi
trẻ tự tin, vững bước đi lên xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Chúng ta,
những sinh viên “tuổi trẻ ĐHBK” hôm nay hãy ra sức học tập, rèn luyện
và làm theo lời Bác, luôn tu dưỡng đạo đức để sau này trở thành những
trí thức hoàn thiện cả về đức và tài, đem sức lực và trí tuệ cống hiến cho
đất nước.
Ý nghĩa của đề tài soi đường cho đảng và nhân dân trên con đường
xây dựng đất nước,nâng cao tư duy lí luận,rèn luyện bản lĩnh chính
trị,nâng cao đạo đức cách mạng năng lực công tác, thực hiện tốt các
nhiệm vụ trọng đại của Đảng và nhà nước ta .
18
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1)Tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục – NXB LĐ Hà Nội 2005.
2) Giáo trình Tư tưởng Hồ Chí Minh của bộ giáo dục và đào tạo.
3) Giáo trình tư tưởng Hồ Chí Minh – ĐH BKHN
4) Tư tưởng Hồ Chí Minh- TS Phạm Ngọc Anh. PGS TS Bùi Đình
Phong đồng chủ biên- NXB lý luận chính trị ( trang 169).
5)Cổng thông tin tư liệu về HCM ( www
.
t
h e