10 đặc điểm dân số nước ta hiện nay pot - Pdf 20

10 đặc điểm dân số nước ta hiện nay
Việt Nam hiện có dân số đông thứ 2 khu vực Đông Nam Á và thứ 13 thế giới.
Để xây dựng được chính sách dân số hợp lý và hữu hiệu, cần thấy rõ một số
đặc điểm dân số nước ta hiện nay.
Quy mô lớn, phát triển nhanh
Theo Tổng cục Thống kê, năm 2005, Việt Nam có khoảng 83, 1199 triệu
người. Mật độ lên tới 252 người /km2; vùng Đồng bằng Sông Hồng (ĐBSH)
khoảng 1.200 người /km2, nhiều tỉnh “thuần nông” như Thái Bình, Nam Định,
Hưng Yên, Bắc Ninh, mật độ cũng lên tới trên 1.100 người /km2. Các nhà
khoa học của Liên Hợp quốc tính toán, để có cuộc sống thuận lợi, bình quân
trên 1km2 chỉ nên có 35 - 40 người. Như vậy, ở Việt Nam, mật độ dân số đã
gấp khoảng 6-7 lần “mật độ chuẩn”. Căn cứ vào chỉ báo này, có thể khẳng định: Việt Nam là quốc gia có
quy mô dân số rất lớn.
Dân số trẻ nhưng đang bước vào thời kỳ chuyển sang già
Năm 1999, tỷ lệ trẻ từ 14 tuổi trở xuống là 33%; ở Nhật Bản là 15%. Những người sinh ra sau ngày miền
Nam giải phóng (1975) ước chiếm 63% tổng dân số hiện nay. Tuy nhiên, tỷ lệ trẻ em giảm khá nhanh,
còn tỷ lệ người cao tuổi lại tăng.
Với khoảng 80 triệu dân như Việt Nam, Nhật Bản chỉ có 12 triệu trẻ em, còn nước ta có hơn 21, 1 triệu.
Tỷ lệ người cao tuổi (69 tuổi trở lên) hiện chiếm khoảng 9%, sẽ tăng lên nhanh, do sự già hoá của thế hệ
sau cách mạng tháng Tám và mức sinh giảm, đạt tới mức thay thế.
Tỷ số phụ thuộc (tổng số trẻ em và người già bình quân cho một người trong độ tuổi lao động, từ 15 đến
59) không ngừng giảm: năm 1979 là 0,95, năm 1989 là 0, 86 và năm 1999 là 0, 7. Theo dự báo, tỷ lệ này
đến năm 2014 chỉ còn khoảng 0, 48. Đây là “cơ hội dân số vàng”, hay “dư lợi dân số”, tức là mỗi người
lao động gánh nhẹ dần số người ăn theo, tạo điều kiện tốt cho kinh tế quốc dân, kinh tế gia đình có tiết
kiệm để đầu tư phát triển.
Thực tế nói trên cho thấy khoảng 2 thập kỷ qua, Việt Nam không chỉ đổi mới nhanh chóng về kinh tế - xã
hội mà còn đổi mới nhanh chóng các thế hệ dân số.
Mất cân đối giới tính
Việt Nam là một trong những nước có tỷ số giới tính (số nam tương ứng với 100 nữ) thấp và không ổn
định (năm 1989 tỷ số là 94,7; năm 1999 là 96,7). Nhóm từ 0 đến 4 tuổi, tỷ số giới tính không ngừng tăng,
nghĩa là trẻ em trai ngày càng nhiều hơn trẻ em gái cùng nhóm tuổi (năm 1989 là 106, 5 và năm 1999 là

– Nam chuyển sang hướng di dân nông thôn - đô thị và trong nước ra nước ngoài những năm gần đây.
Khoảng 10 năm trở lại đây, số phụ nữ lấy chồng nước ngoài khá lớn và có xu hướng tăng, đặc biệt là các
vùng ĐBSCL. Chỉ tính đến đầu năm 2004, đã có gần 80.000 phụ nữ lấy chồng Đài Loan, gây ra những
hậu quả phức tạp về các mặt dân số, pháp lý, tâm lý xã hội.
Tỷ lệ dân đô thị thấp
Theo Tổng cục Thống kê, đến năm 2004, tỷ lệ dân đô thị mới đạt 26,3%. Ngay vùng ĐBSH có hai thành
phố lớn là Hà Nội và Hải Phòng, nhưng tỷ lệ dân đô thị chỉ có 23,8%. Nhiều tỉnh, tỷ lệ dân đô thị chưa
đến 10% như: Thái Bình 7,2%, Hà Nam 9,6%, Hà Tây 9% Như vậy, về đại thể, Việt Nam vẫn là một
đất nước “tam nông” (nông thôn, nông nghiệp và nông dân). Đây là cơ sở vật chất hình thành nên nhu cầu
nhiều con và cần có con trai.
Mức sinh giảm nhưng chưa ổn định
Mức sinh của Việt Nam bắt đầu giảm từ những năm 1970. Đặc biệt giảm nhanh từ năm 1993 trở lại đây.
Năm 2004, có khoảng 75,7% số cặp vợ chồng trong độ tuổi sinh đẻ sử dụng biện pháp tránh thai, ở mức
này, nói chung đã có thể đạt được mức sinh “thay thế”, nghĩa là trung bình mỗi người phụ nữ khi hết tuổi
sinh đẻ có 2 con.
Mặt khác, mức sinh có sự khác biệt rất lớn giữa nông thôn, thành thị, giữa các vùng địa lý kinh tế, các
tỉnh và giữa các nhóm xã hội.
Năm 1999, tổng suất sinh bình quân cả nước là 2,33, và năm 2005 là 2,11; trong đó, năm 1999 ở thành thị
mức tương ứng là 1, 59 và 1,73, còn ở nông thôn mức tương ứng là 2, 54 và 2,28.
Mức chết thấp, ổn định
Năm 2005, tỷ suất chết thô (số người chết tính trên 1.000 dân trong năm) của toàn quốc là 5, 34 phần
nghìn - vào loại thấp thế giới. Tuy nhiên, ở Tây Bắc, tỷ lệ này cao gấp 1, 5 lần Đông Nam Bộ. Đặc biệt là
tỷ lệ chết trẻ sơ sinh rất khác nhau giữa các vùng. Nếu như tỷ lệ này ở ĐBSH là 10 phần nghìn thì ở Tây
Nguyên, Tây Bắc là 34 phần nghìn.
Chất lượng dân số chưa cao
Về thực lực: Trên phạm vi toàn quốc, theo điều tra y tế quốc gia 2002, tỷ lệ trẻ sơ sinh nặng dưới 2500g là
5,6%; tỷ lệ trẻ dưới 5 tuổi thuộc diện thấp còi (thấp hơn so với lứa tuổi) 33%; trẻ em có cân nặng theo
tuổi thấp 25,7%, béo phì: 1,3%. Năm 2004, tỷ lệ suy dinh dưỡng của trẻ dưới 5 tuổi vẫn còn cao, ở mức
26,6%, đặc biệt là ở khu vực Tây Nguyên, Tây Bắc.
Ngoài ra, còn hàng triệu trẻ em tàn tật, bị mắc bệnh bẩm sinh, ảnh hưởng chất độc da cam.

người, gấp hơn 40 lần 10 năm về trước (nam chiếm khoảng 85%, nữ 15%). 100% số tỉnh, 93% số huyện
và 50% số xã có người nhiễm HIV. ở Quảng Ninh, năm 2003, cứ 100.000 dân có 573 người nhiễm HIV.
Tỷ lệ vô sinh ở nước ta khá cao. Theo GS. Nguyễn Khắc Liêu, tỷ lệ này tới 13%.
NHÓM PVTSXH


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status