QUY HOẠCH CÔNG NGHIỆP CHẾ BIẾN GỖ VIỆT NAM (ĐẾN NĂM 2015 VÀ ĐỊNH HƯỚNG ĐẾN NĂM 2025) - Pdf 20

1
BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN
CỤC CHẾ BIẾN, THƯƠNG MẠI NÔNG LÂM THỦY SẢN VÀ NGHỀ MUỐI
BÁO CÁO TỔNG HỢP
QUY HOẠCH
CÔNG NGHIỆP CHẾ BIẾN GỖ VIỆT NAM
(ĐẾN NĂM 2015 VÀ ĐỊNH HƯỚNG ĐẾN NĂM 2025)
Chủ đầu tư
Cục Chế biến, Thương mại
nông lâm thủy sản và nghề muối
Đơn vị tư vấn
Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam
Hà Nội – Năm 2010
Dự thảo
2
MỞ ĐẦU
I. SỰ CẦN THIẾT CỦA QUY HOẠCH
Công nghiệp chế biến gỗ của Việt Nam phát triển mạnh mẽ trong 10 năm trở
lại đây. Các doanh nghiệp chế biến gỗ đang hoạt động trong các lĩnh vực sản xuất
đồ gỗ nội thất, ngoại thất và đồ gỗ mỹ nghệ phục vụ thị trường trong nước và xuất
khẩu. Sản phẩm gỗ của Việt Nam đã có mặt trên thị trường của 120 quốc gia
thông qua hơn gần 1.000 doanh nghiệp xuất khẩu trực tiếp và gián tiếp. Những thị
trường lớn của Việt Nam là Hoa Kỳ (chiếm 38-41%), EU (chiếm 28-44%) và Nhật
Bản (chiếm 12-15%) thị phần giá trị sản phẩm gỗ xuất khẩu của Việt Nam.
Kim ngạch xuất khẩu sản phẩm gỗ đứng vị trí số một trong các mặt hàng lâm
sản xuất khẩu của nước ta. Năm 2007 đạt 2,4 tỷ USD, tăng gấp 11 lần so với năm
2000 (219 triệu USD). Theo thống kê cho thấy tốc độ tăng trưởng kim ngạch xuất
khẩu năm sau so với năm trước luôn đạt mức tăng xấp xỉ 500 triệu USD/năm. Kim
ngạch xuất khẩu sản phẩm gỗ các năm gần đây là:
- 2004: 1.154 triệu USD - 2006: 2.000 triệu USD
- 2005: 1.562 triệu USD - 2007: 2.400 triệu USD.

v.v. Đó là chưa kể đến những cạnh tranh (kể cả cạnh tranh không lành mạnh)
trong nội bộ các doanh nghiệp trong nước, cũng là một trong số các nguyên nhân
làm cho các doanh nghiệp Việt Nam chỉ gia công sản phẩm gỗ xuất khẩu mà
không mang thương hiệu của mình trên thị trường quốc tế.
3
Xuất phát từ thực tế trên đây, việc xây dựng Quy hochj Công nghiệp chế biến
gỗ là hết sức cần thiết Quy hoạch này là cơ sở để góp phần giải quyết những yếu
kém, khó khăn thách thức của công nghiệp chế biến gỗ Việt Nam và định hướng
cho công nghiệp chế biến gỗ nước ta phát triển một cách ổn định và bền vững.
II. CĂN CỨ XÂY DỰNG QUY HOẠCH
- Quyết định số 20/2008/QĐ-BNN ngày 28/01/2008 của Bộ trưởng Bộ Nông
nghiệp và PTNT quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của
Cục Chế biến, Thương mại nông lâm thuỷ sản và nghề muối;
- Chỉ đạo của Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn về việc
chuẩn bị các dự án trong kế hoạch năm 2009 trong Quyết định 2511/BNN-KH
ngày 20/8/2008;
- Chiến lược phát triển lâm nghiệp Việt Nam giai đoạn 2006-2020 được phê
duyệt tại Quyết định số 18/2007/QĐ-TTg ngày 05/02/2007;
- Nghị định số 92/2006/NĐ-CP ngày 07/9/2006 của Chính phủ về lập, phê
duyệt và quản lý quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội;
- Nghị định số 04/2008/NĐ-CP ngày 11/01/2008 về việc Sửa đổi, bổ sung
một số điều của Nghị định số 92/2006/NĐ-CP;
- Quyết định số 1564/QĐ-BNN-KH ngày 31/5/2006 của Bộ Nông nghiệp và
PTNT về Ban hành Quy định tạm thời về quản lý quy hoạch ngành công nghiệp
và PTNT.
- Công văn số 4045/BKH-TH ngày 11/6/2007 của Bộ Kế hoạch và Đầu tư về
khung hướng dẫn xây dựng kế hoạch phát triển Kinh tế - Xã hội năm 2008;
- Quyết định 281/2007/QĐ-BKH ngày 26/3/2007 về ban hành định mức chi
phí cho lập, thẩm định quy hoạch và điều chỉnh quy hoạch tổng thể phát triển kinh
tế - xã hội, quy hoạch ngành và quy hoạch sản phẩm chủ yếu;

6
II. BỐI CẢNH KINH TẾ - XÃ HỘI
2.1. Xu thế của thế giới tác động đến sự phát triển kinh tế - xã hội trong nước
- Toàn cầu hóa kinh tế là xu thế khách quan, hội nhập kinh tế là tất yếu và mở
rộng ra hầu hết các lĩnh vực, tạo ra cơ hội phát triển nhưng cũng chứa đựng nhiều
yếu tố bất bình đẳng, gây khó khăn thách thức lớn cho các quốc gia. Cạnh tranh
kinh tế - thương mại, giành giật các nguồn tài nguyên, năng lượng, thị trường,
nguồn vốn, công nghệ... giữa các nước ngày càng gay gắt. Khoa học và công
nghệ, đặc biệt là công nghệ thông tin, tiếp tục phát triển nhảy vọt, thúc đẩy sự hình
thành nền kinh tế tri thức đã tác động nhiều mặt và làm biến đổi sâu sắc các lĩnh
vực về đời sống xã hội của tất cả các quốc gia;
- Hòa bình, hợp tác và phát triển là xu thế chung trong khu vực và quốc tế.
Những vấn đề toàn cầu như dân số; môi trường; an ninh tài chính, lương thực;
bệnh tật… trở nên gay gắt hơn bao giờ hết. Nhu cầu hợp tác phát triển tăng lên,
chi phối ngay từ đầu sự lựa chọn chiến lược phát triển của tất cả các ngành kinh tế
kỹ thuật trong nước, trong đó bao gồm công nghiệp chế biến gỗ. Việc xây dựng
tuyến giao thông xuyên Á và hành lang kinh tế nối vùng Bắc Việt Nam với Tây
Nam Trung Quốc sẽ tạo nhiều cơ hội cho phát triển sản xuất, chế biến và thương
mại nông lâm thủy sản;
- Đối với các dòng vốn nước ngoài: xu thế chung, vốn ODA sẽ theo chiều
hướng giảm đi, vốn FDI sẽ tăng lên, hướng tới những vùng lãnh thổ có môi trường
đầu tư thuận lợi và các ngành sản xuất đem lại hiệu quả kinh tế cao;
Những xu thế phát triển này của thế giới và khu vực sẽ có tác động mạnh mẽ
đến tình hình trong nước. Đây là những cơ hội để tạo ra bước tiến mới trong phát
triển kinh tế - xã hội nói chung và công nghiệp chế biến gỗ nói riêng.
2.2. Bối cảnh phát triển trong nước những năm qua
7
- Sau hơn 20 năm đổi mới, nước ta đã đạt nhiều thành tựu trong phát triển kinh
tế - xã hội. Mức tăng trưởng GDP bình quân đạt 7,5% năm. Tuy nhiên, tăng trưởng
kinh tế chưa thực sự vững chắc, chất lượng và hiệu quả tăng trưởng còn thấp;

sinh không ít thách thức cho các doanh nghiệp nông, lâm nghiệp trong cạnh tranh
trên thị trường thế giới và ngay cả thị trường nội địa.
Chiến lược phát triển lâm nghiệp đang được triển khai mạnh mẽ, đầy đủ và sâu
rộng hơn trong giai đoạn mới là nền tảng thuận lợi để thực hiện Quy hoạch công
nghiệp chế biến gỗ Việt Nam.
2.3. Nguồn nhân lực và Chất lượng lao động.
Theo các chuyên gia về nhân lực, nguồn nhân lực ở Việt Nam được đánh giá
là rất dồi dào nhưng lại yếu về chất lượng. Lao động ở Việt Nam được đánh giá là
khéo léo, thông minh, sáng tạo, tiếp thu nhanh những kỹ thuật và công nghệ hiện
đại được chuyển giao từ bên ngoài vào, nhưng thiếu tính chuyên nghiệp. Tính từ
năm 2001 đến 2008 có khoảng trên 10 triệu người được đào tạo trong tổng số gần
45 triệu người trong độ tuổi lao động- tức khoảng 25% “lao động qua đào tạo”.
Riêng đối với khu vực nông thôn, trình độ văn hóa, chuyên môn kỹ thuật
của lao động hiện nay thấp hơn so với mặt bằng chung của cả nước. Trên 85% số
lao động ở nông thôn chưa từng qua trường lớp đào tạo chuyên môn kỹ thuật nào,
khoảng 18,9% số lao động nông thôn có trình độ văn hóa tiểu học. Về thể lực của
lao động nông thôn ở độ tuổi 20 -24, thống kê năm 2008 cho thấy, chỉ có 75% số
lao động có thể lực bình thường, 23,6% gầy, 1,4% thừa cân.
9
Theo đánh giá của các nhà kinh tế năm 2008 yếu tố lao động của Việt
Nam tham gia vào tăng trưởng nền kinh tế chiếm khoảng 20%, yếu tố vốn
chiếm khoảng 57,7%, và các yếu tố khác chiếm 22,3%.
10
Phần thứ hai
HIỆN TRẠNG CÔNG NGHIỆP CHẾ BIẾN GỖ VIỆT NAM
II. TÌNH HÌNH CUNG ỨNG NGUYÊN LIỆU GỖ
Thực hiện chủ trương đóng cửa rừng tự nhiên, mỗi năm Việt Nam chỉ khai
thác khoảng 200 nghìn m
3
gỗ rừng tự nhiên. Để cung cấp nguồn nguyên liệu gỗ

3
, đạt 90,60% so với kế hoạch (Nguồn:
Tổng Cục Lâm nghiệp).
11
Năm 2009, giá trị kim ngạch nhập khẩu nguyên liệu gỗ khoảng 1,134 tỷ
USD, tăng 3,56% so với cùng kỳ năm 2008.
Hiện nay, phần lớn gỗ rừng trồng (chủ yếu là Keo và Bạch đàn) được khai
thác ở độ tuổi từ 6-10 năm, đường kính nhỏ, chất lượng chưa đáp ứng yêu cầu sản
xuất sản phẩm gỗ. Vì vậy, phần lớn nguyên liệu gỗ rừng trồng được dùng để sản
xuất dăm mảnh xuất khẩu, phần còn lại được sử dụng làm các sản phẩm ván nhân
tạo, gỗ xẻ xây dựng cơ bản, mộc dân dụng và sản xuất sản phẩm gỗ xuất khẩu.
Việc áp dụng công nghệ, thiết bị chế biến phù hợp gỗ rừng trồng đường
kính nhỏ như công nghệ bóc ván mỏng không trấu kẹp, công nghệ sản xuất ván
ghép thanh đã mở rộng khả năng sử dụng gỗ rừng trồng đường kính nhỏ để phục
vụ sản xuất đồ mộc. Do đó, tỷ lệ sử dụng gỗ rừng trồng trong nước cho sản xuất
đồ mộc đã ngày càng tăng lên.
Để đáp ứng nhu cầu sản xuất, xuất khẩu sản phẩm gỗ, Việt Nam đang phải
nhập khẩu khối lượng lớn nguyên liệu gỗ, khoảng 70-80% nhu cầu nguyên liệu
mỗi năm.
Theo thống kê của Hiệp hội Gỗ và Lâm sản Việt Nam, mỗi năm Việt Nam
phải nhập khẩu khoảng 1 triệu m
3
ván nhân tạo các loại, trong đó MDF chiếm
khoảng 60%. Tổng kim ngạch nhập khẩu ván nhân tạo chiếm khoảng 25% tổng
kim ngạch nhập khẩu nguyên liệu gỗ.
Nguyên liệu gỗ được nhập khẩu chủ yếu từ các nước Đông Nam Á, Châu
Mỹ, Châu Phi, Châu Đại Dương và Châu Âu. Các nước xuất gỗ cho Việt Nam với
lượng lớn trong thời gian gần đây gồm Malaysia, Trung Quốc, Mỹ, Lào,
Newzilan, Braxin…
Dưới đây là tổng hợp nguồn cung cấp nguyên liệu gỗ qua các năm.

II. TÌNH HÌNH XÂY DỰNG VÀ PHÁT TRIỂN CƠ SỞ CHẾ BIẾN GỖ VÀ
CÁC VẤN ĐỀ LIÊN QUAN (Giai đoạn 2000 – 2009)
2.1. Về số lượng cơ sở và chế biến năng lực chế biến gỗ
Theo thống kê của Cục Chế biến, Thương mại nông lâm thủy sản và nghề
muối và Hiệp hội Gỗ và Lâm sản Việt Nam, hiện nay cả nước có khoảng 2500
doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực chế biến gỗ, với công suất hoạt động tối
thiểu 200 m
3
gỗ tròn/năm.
Cùng với sự phát triển của nền kinh tế, trong bối cảnh bùng nổ số lượng
doanh nghiệp vừa và nhỏ, công nghiệp chế biến gỗ đã có những thay đổi đáng kể
13
trong vòng 10 năm qua. Năm 2000, cả nước có khoảng 1.200 doanh nghiệp chế
biến gỗ, đến 2005 có khoảng 1.500 cơ sở chế biến gỗ, đến 2007 có khoảng 2.000
cơ sở chế biến gỗ, đến 2009 có khoảng 2.500 cơ sở chế biến gỗ như đã nêu trên.
Sự phát triển công nghiệp chế biến gỗ được nhìn nhận qua việc tăng số
lượng cơ sở chế biến; tăng công suất (bao gồm việc mở rộng công suất thiết kế
của nhiều doanh nghiệp) và tăng trưởng nhanh của giá trị kim ngạch xuất khẩu.
Năng lực sản xuất công nghiệp ước đạt hơn gần 15 triệu m
3
gỗ tròn. Trong
đó năng lực của các nhà máy băm dăm mảnh khoảng 6,3 triệu m
3
gỗ tròn rừng
trồng/năm (tương đương 3,150 tấn dăm khô/năm); năng lực sản xuất ván nhân tạo
ước đạt hơn 1 triệu m
3
gỗ tròn/năm; năng lực sản xuất gỗ xẻ khoảng 3 triệu m
3


Nhà máy MDF liên doanh của Tổng Công ty Lâm nghiệp Việt Nam với công suất
54.000 m
3
sản phẩm/năm; tại tỉnh Hà Giang một Công ty tư nhân đang lập dự án
14
đầu tư xây dựng nhà máy sản xuất MDF với công suất 100.000 m
3
sản phẩm/năm;
Liên doanh giữa Tập đoàn Dongwha và Tập đoàn Công nghiệp cao su Việt Nam
đang chuẩn bị xây dựng nhà máy MDF (gọi là Công ty cổ phần MDF VRG
Dongwha) tại huyện Chơn Thành, tỉnh Bình Phước với công suất 300.000 m
3
sản
phẩm/năm.
2.2. Cơ cấu cơ sở chế biến gỗ theo loại hình doanh nghiệp
- Số Doanh nghiệp nhà nước: 108
- Số Công ty TNHH: 401
- Số Công ty cổ phần: 189
- Số Doanh nghiệp tư nhân: 418
- Số Doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài: 421 (Nguồn: Bộ Kế
hoạch và đầu tư – 2008).
- Công ty liên doanh: Rất ít (số liệu không rõ)
- Hình thức khác (bao gồm cơ sở hộ gia đình): 687 cơ sở
2.3. Hiện trạng phân bố các cơ sở chế biến gỗ theo các Vùng, Tiểu Vùng
Các nhà máy chế biến gỗ, sản xuất giấy quy mô lớn được mô tả tại hình 1.
Các cơ sở chế biến gỗ có quy mô lớn tập trung chủ yếu tại các tỉnh Đông Nam Bộ,
như: Bình Dương (khoảng 370 cơ sở quy mô lớn (trong tổng số khoảng 650 cơ
sở), trong đó hơn 50% là các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài); Thành phố
Hồ Chí Minh, Đồng Nai (khoảng 219 cơ sở quy mô lớn (trong tổng số 706 cơ sở),
trong đó có khoảng 50 doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài) và Bình Định.

khô/năm. Các nhà máy này đều được đặt tại Quảng Ninh, nơi có Cảng Cái Lân.
2.3.2. Tiểu vùng Tây Bắc
Tổng số cơ sở chế biến gỗ: 19, trong đó:
- 2 cơ sở sản xuất ván dăm với tổng công xuất thiết kế: 3.000 m
3
sản
phẩm/năm.
- 2 cơ sở sản xuất ván ghép thanh với tổng công xuất thiết kế: 6.000 m
3
sản
phẩm/năm.
- 1 cơ sở băm dăm mảnh gỗ quy mô nhỏ, với tổng công xuất thiết kế: 5.000
tấn khô/năm.
2.3.3. Đồng bằng sông Hồng
- Tổng số cơ sở chế biến gỗ: 135, trong đó, có 4 cơ sở sản xuất ván ghép
thanh với tổng công xuất thiết kế: 4.300 sản phẩm/năm.
- Tại Hải Phòng có 01 nhà máy băm dăm mảnh gỗ với tổng công xuất thiết
kế: 100.000 tấn khô/năm.
- 201 làng nghề gỗ (và song mây, tre, trúc).
2.3.4. Vùng Bắc Trung Bộ
Tổng số cơ sở chế biến gỗ: 127, trong đó:
- 4 cơ sở sản xuất ván dăm với tổng công xuất thiết kế: 6.000 m
3
sản
phẩm/năm.
- 2 nhà máy sản xuất MDF với tổng công xuất thiết kế: 75.000 m
3
sản
phẩm/năm.
17

200 m
3
gỗ tròn/năm.), trong đó:
- Tổng sản lượng ván dăm ước khoảng: 20.000 m
3
.
18
- Tổng sản lượng ván ghép thanh ước khoảng: 45.000 m
3
.
- Tổng sản lượng ván dán ước khoảng: 30.000 m
3
.
- 12 nhà máy băm dăm mảnh gỗ với tổng công xuất thiết kế: 470.000 tấn
khô/năm.
2.3.8. Vùng đồng bằng sông Cửu Long
- Tổng số cơ sở chế biến gỗ: 166
- 05 Nhà máy băm dăm mảnh gỗ với tổng công xuất thiết kế: 330.000 tấn
khô/năm.
2.4. Phân loại doanh nghiệp theo tài sản
Căn cứ quy mô vốn, cơ cấu doanh nghiệp chế biến gỗ thể hiện tại Bảng
dưới đây.
Bảng 1: Diễn biến về số lượng doanh nghiệp chế biến gỗ theo quy mô vốn
Năm
Tổng
số
doanh
nghiệp
Từ 1 tỷ
đến dưới

19
Thông kê, tính đến năm 2008, cả nước có khoảng trên 1.700 cơ sở chế biến gỗ quy
mô siêu nhỏ có vốn nhỏ hơn 1 tỷ đồng. Các cơ sở này chủ yếu đóng tại các vùng
nông thôn, miền núi sản xuất các sản phẩm mộc phục vụ nhu cầu tiêu dùng của địa
phương.
2.5. Hiện trạng về sản phẩm và thị trường tiêu thụ
2.5.1. Thị trường
Trong những năm qua, ngành chế biến và xuất khẩu sản phẩm gỗ đã có
những bước phát triển vượt bậc, với kim ngạch xuất khẩu luôn tăng trưởng cao,
năm 2009 đạt 2,6687 tỷ USD, vượt xa mục tiêu đạt 750 triệu USD kim ngạch xuất
khẩu sản phẩm gỗ năm 2004 và đạt 2 tỷ USD năm 2010 đã được đặt ra tại Chỉ thị
số 19/2004/CT-TTg ngày 01/6/2004 của Thủ tướng Chính phủ. Theo đó, sản
phẩm gỗ đã trở thành một trong những sản phẩm xuất khẩu chủ lực của Việt Nam.
Kim ngạch xuất khẩu (KNXK) sản phẩm gỗ trong những năm gần đây:
Đơn vị tính: triệu USD
Năm 1996 1998 2000 2001 2002 2003 2004 2005 2006 2008 2007 2009
Dự
kiến
2010
KNXK 61 108 219 334 435 567 1.154 1.562 1.930 2.820 2.500 2.620 >3.000
Kim ngạch xuất khẩu sản phẩm gỗ sang các thị trường chính giai đoạn 2003
– 2009:
Đơn vị tính: triệu USD

m
Thị trường
2003 2004 2005 2006 2007 2008 2009
Mỹ 115,46 318,8 566,96 744,1 930
20
EU 160,74 379,1 457,63 500,23

gỗ của Việt Nam.
Việc tập trung vào 3 thị trường lớn này bên cạnh tạo ra sức tiêu thụ lớn,
tăng nhanh kim ngạch xuất khẩu nhưng cũng đầy những rủi ro khi chính các thị
trường này có những biến động bất lợi. Vì vậy, ngoài việc duy trì khả năng tiêu
thụ trên các thị trường lớn đã có, các doanh nghiệp Việt Nam cần đẩy mạnh phát
triển các thị trường mới như: Các Quốc gia vùng Tây Á, Khu vực Đông Âu… và
quan tâm hơn đến thị trường nội địa.
2.5.2. Sản phẩm
Chủng loại sản phẩm đa dạng hơn, trước năm 2003, sản phẩm gỗ của Việt
Nam xuất khẩu sang các nước chủ yếu là ván sàn, bàn ghế ngoài trời. Đến những
năm gần đây, sản phẩm gỗ nội thất tăng trưởng mạnh và đang được các doanh
nghiệp ngày càng quan tâm hơn. Theo cách phân loại quốc tế, sản phẩm gỗ xuất
khẩu của Việt Nam chủ yếu thuộc nhóm HS 94 gồm: Ghế ngồi đệm; Ghế ngồi loại
khác; Nội thất văn phòng; Nội thất nhà bếp; Nội thất phòng ngủ và các loại khác.
Hiện có nhiều cách phân loại các sản phẩm gỗ dựa trên các quan điểm về
ngành sản xuất, theo công dụng, theo cấu tạo sản phẩm... Thực tế, sản phẩm gỗ
thường được phân thành các nhóm sau:
22
(1) Nhóm đồ gỗ mỹ nghệ
Bao gồm các sản phẩm chế biến có hàm lượng mỹ thuật cao được chế biến
từ gỗ rừng tự nhiên, gỗ nhập khẩu và gỗ rừng trồng. Đồ gỗ mỹ nghệ thường được
chế biến bằng máy móc kết hợp công nghệ thủ công như chạm, khắc, khảm sơn
mài. Đồ gỗ mỹ nghệ bao gồm các loại sản phẩm sau đây:
- Các sản phẩm sơn mài.
- Các loại tượng bằng gỗ, các sản phẩm bằng gốc và rễ cây.
- Các lọai tranh gỗ: tranh chạm khắc, tranh khảm trai, tranh ghép gỗ.
- Các sản phẩm trang trí lưu niệm, quảng cáo như: cốc, chén, đĩa, khay, thìa
(muỗng), quạt, lọ, bình cung kiếm, đế lọ, guốc bài vị, thảm hạt, chuỗi hạt, hộp các
loại, huy hiệu, biểu tượng, biểu trưng khung tranh, khung ảnh, phào mỹ nghệ,
thuyền buồm mỹ nghệ các loại, mành trang trí, giá đỡ hàng mỹ nghệ.

đã được nâng cấp thành trường Cao đằng nghề.
Với quy mô, năng lực và chất lượng đào tạo hiện có của hệ thống cơ sở đào
tạo chế biến gỗ, số lượng công nhân kỹ thuật chế biến gỗ không đủ đáp ứng nhu
cầu của công nghiệp chế biến gỗ. Vì vậy, hiện nay nhiều doanh nghiệp đang lựa
chọn hình thức đào tạo tại chỗ hoặc gửi công nhân đi đào tạo theo nhu cầu. Chỉ có
một số doanh nghiệp lớn tự thiết lập được các tổ chức đào tạo trực thuộc doanh
nghiệp. Nội dung đào tạo chủ yếu là hướng dẫn học viên (công nhân) sử dụng
24
công cụ cầm tay và một số loại máy chế biến gỗ thông dụng. Nội dung đào tạo
chuyên sâu theo từng công nghệ, từng vị trí thao tác máy còn hạn chế.
Đối với bậc đào tạo đại học, hiện tại tập trung chủ yếu vào nội dung đào tạo
kỹ sư công nghệ. Số lượng kỹ sư được đào tạo chuyên ngành thiết kế mẫu mã sản
phẩm mộc còn rất hạn chế, đồng thời nội dung chưa thật sự phù hợp nhu cầu thực
tế sản xuất.
Trên thực tế, phần lớn sản phẩm gỗ của Việt Nam được sản xuất theo đơn
đặt hàng của khách hàng nước ngoài. Vì vậy, công nghiệp chế biến gỗ Việt Nam
hiện nay cơ bản được coi là một ngành gia công phục vụ thị trường thế giới.
Nguyên nhân chủ quan là do bản thân các doanh nghiệp chế biến gỗ Việt Nam
chưa thật sự đủ năng lực tham gia chuỗi giá trị toàn cầu. Theo đó, chính các doanh
nghiệp chưa tạo ra nhu cầu đủ mạnh để thúc đẩy phát triển đội ngũ chuyên gia
thiết kế vốn được đạo tạo chưa phù hợp thực tế như đã nêu trên đây.
Theo kết quả khảo sát doanh nghiệp chế biến gỗ phục vụ việc lập Báo cáo
Quy hoạch này, tổng số lao động của 120 doanh nghiệp là 36.890 người, trong đó,
cơ cấu và chất lượng lao động được mô tả theo Bảng x:
Bảng x: Cơ cấu và chất lượng lao động tại các doanh nghiệp khảo sát
Tình hình lao động
120
doanh
nghiệp
khảo sát


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status