CHIẾN LƯỢC XUẤT KHẨU QUỐC GIA Ngành công nghiệp chế biến gỗ tại Việt Nam - Pdf 60

CHIẾN LƯỢC XUẤT KHẨU QUỐC GIA
Ngành công nghiệp chế biến gỗ tại Việt Nam
Hà Nội
Tháng 6, 2009
1
Tóm tắt nội dung chính
Việt Nam có truyền thống lâu đời trong việc sản xuất đồ gỗ kiểu cổ nhưng lại khá lạ lẫm với
kiểu đồ gỗ thương mại trong nhà và ngoài trời của thế giới.
Việc sản xuất đồ gỗ thương mại quy mô lớn đã có bước phát triển nhanh chóng trong 7, 8 năm
trở lại đây, bắt đầu bằng việc một số nhà đầu tư nước ngoài tìm kiếm thị trường lao động giá
rẻ. Họ đã chuyển đến từ khu vực Đông Á như Đài Loan, Philipin, Malaixia, Thái Lan và mới
đây thậm chí là cả Trung Quốc. Việc sản xuất này xuất phát từ nugồn vốn FDI được bổ sung
nhờ có sự tham gia của các công ty thương mại lớn như IKEA, Carrefours, B & Q, Walmart,
vv. Họ tìm kiếm mặt hàng đồ gỗ trên cơ sở thương lượng giá thấp như một hàng rào chống lại
sự khuyếch trương quá mức của hàng hoá Trung Quốc. Điều này đã mang lại sư khởi đầu cho
một số lượng lớn các doanh nghiệp Việt Nam để đáp ứng nhu cầu thị trường. Bề ngoài, tất cả
có vẻ như đang tiến triển rất tốt. Xuất khẩu tăng với tỉ lệ đáng kể, số lượng lao động tăng lên,
ngành công nghiệp có vẻ như đang đi đúng hướng. Nhưng thực tế có phải vậy?
Sự tăng trưởng của ngành công nghiệp đồ gỗ dựa trên nền tảng không vững chắc. Cần phải có
một chiến lược để định hướng đúng và tạo ra một mội trường mà trong đó ngành công nghiệp
đồ gỗ được ghi nhận như một sự thành công thực sự về kinh tế nếu như có sự đảm bảo cho sự
đóng góp lâu dài của nó.
Sự thành công hiện tại đạt được không dựa trên cơ sở bền vững vì:
• thiếu nguồn nhân công lành nghề
• thiếu nghiêm trọng cở đào tạo nâng cao tay nghề
• trang thiết bị nghèo nàn, lạc hậu
• thiếu diện tích rừng được xác nhận về các điều kiện môi trường tại Việt Nam
• thiều nguồn cung cấp nguyên liệu thô
• thiều nguồn nhân sự marketing được đào tạo và kinh nghiệm
• yếu trong khâu thiết kế và
• cơ sở hạ tầng yếu kém

• khuyến khích các doanh nghiệp FDI đầu tư ổn định để họ không dễ dàng chuyển đến
một mục tiêu “giá rẻ” tiếp theo.
• sử dụng tất các cơ hội tận dụng công nghệ thông tin để thúc đẩy sự gia nhập của Việt
Nam vào thị trường thế giới và giữ thái độ vui vẻ với hàng hoá bị trả lại
• tận dụng tối đa các phương tiện hiệu quả để đưa sản phẩm đến tay người tiêu dùng cuối
cùng trong khi cần phải chú trọng đến tất cả các bước như sử dụng nguồn nguyên liệu
bền vững, môi trường sản xuất sạch và giảm tối thiểu các dấu vết cac-bon trong quá
trình giao hàng đến người tiêu dùng.
Sự phát triển bền vững của ngành công nghiệp đồ gỗ Việt Nam đòi hỏi phải có sự cam kết dài
hạn từ Chính phủ. Lý tưởng nhất là được hỗ trợ bởi “Một cửa” (one stop shop
1
) dưới sự quản
lý của một Bộ tương ứng mà có thể cung cấp tất cả đầu vào và tư vấn về các nguồn hỗ trợ quản
lý, marketing, đào tạo, tài trợ, hỗ trợ tài chính, vv.
1
“Một cửa” -‘one stop shop’ là nơi mà các nhà đầu tư ở một ngành công nghiệp có thể tìm kiếm sự hỗ trợ về
mọi khía cạnh trong chính sách của chính phủ đối với ngành công nghiệp đó bao gồm khung pháp lý, khung tài
chính và các ưu đãi sẵn có khác.
3
1 Giới thiệu
1.1 Cơ sở
Việc sản xuất đồ gỗ có truyền thông lâu đời tại Việt Nam nhưng chỉ mới nở rộ trong thời gian
gần đây. Nó đã trở thành một trong 5 ngành xuất khẩu mũi nhọn sau dầu thô, dệt may, da giày
và hải sản.
Đồ gỗ Việt Nam đã được công nhận trên thị trường thế giới với kim ngạch xuất khẩu tăng từ
135 triệu đô la Mỹ năm 1998 lên 1 tỉ đô năm 2004 và đạt 2.72 tỉ đô năm 2008. Năm 2008, đồ
gỗ Việt Nam đã gia nhập vào cộng đồng 167 quốc gia và lãnh thổ trên toàn thế giới, trong đó
Mỹ là thị trường nhập khẩu lớn nhất với kim ngạch nhập khẩu lên tới 1,1 tỷ USD, tiếp theo là
Nhật Bản (378,8 triệu USD), Anh (197 triệu USD), Đức (152 triệu USD). Từ năm 2000 - 2008,
mức tăng trưởng kim ngạch xuất khẩu trung bình hàng năm là 25%. Từ 2006, Việt Nam đã

một số lượng lớn hàng xuất khẩu đang được sản xuất bởi các công ty có vốn đầu tư nước
ngoài( FDI), để mở rộng quy mô của ngành công nghiệp đò gỗ trong tương lai cần phải có
một chiến lược rõ ràng để thúc đẩy tính cạnh tranh, gia tăng giá trị xuất khẩu và cơ cấu
lại các doanh nghiệp tư nhân để có thể đứng vững và là những đối thủ cạnh tranh mạnh
trong thị trường đồ gỗ thế giới những năm tới. Cần phải nhấn mạnh rằng giá trị mới là chủ
yếu chứ không phải là số lượng.
Một chiến lược phát triển ngành là rất cần thiết khi mà Bộ Thương mại đã đặt ra mục tiêu xuất
khẩu là 5.56 tỉ đô la Mỹ vào năm 2020 và Thủ tướng cũng đặt ra mục tiêu là 7 tỉ đô la Mỹ vào
năm 2020.
1.2 Phương pháp
Chiến lược xuất khẩu ngành gỗ hướng tới việc đưa ra một cơ cấu để đạt được các mục tiêu xúc
tiến xuất khẩu và cải thiện tình hình phát triển của ngành. Xây dựng trên những đánh giá tổng
thể về chuỗi giá trị hiện tại, hiện trạng xuất khẩu, khả năng cạnh tranh xuất khẩu, các yếu tố
thiết yếu để thành công, các chính sách và chiến lược liên quan của chính phủ và mạng lưới hỗ
trợ ngành. Chiến lược này đề ra tầm nhìn dài hạn cùng với các biện pháp và hành động đề xuất
cần được triển khai trong vòng 5 năm tới.
Phương pháp chính được áp dụng là Phân tích chuỗi giá trị và Khung Bốn bánh xe tương tác
(Four - Wheel Gear Interactive Frame) của ITC. Một chuỗi giá trị bao gồm tất cả các cá nhân
và doanh nghiệp mua và bán lẫn nhau để cung cấp một sản phẩm hay một bộ sản phẩm gồm có
các liên kết dọc và ngang.
Trong ngành gỗ, chuỗi giá trị có thể được mô tả như một sự kết nối giữa những nhà cung cấp
nguyên liệu thô (cả gỗ và phụ liệu), nhà sản xuất, nhà xuất khẩu ở phía trong nước và các nhà
nhập khẩu, nhà bán buôn, bán lẻ, người tiêu dùng cuối cùng ở phía quốc tế trong.
Khung Bốn bánh xe tương tác được dùng để tạo ra một chiến lược xuất khẩu tổng thể bằng
cách đưa ra cái nhìn gần hơn với 4 hạng mục của vấn đề phát triển chuỗi giá trị là:
5
 Nội biên: phần này giải quyết các vấn đề liên quan đến:
(1) Phát triển nguồn lực liên quan đến khả năng sản xuất của ngành. Nó giải quyết các vấn
đề liên quan đến sản lượng, tăng số lượng, cải tiến chất lượng và quan trọng nhất là
tăng giá trị;

Các sản phẩm cũng có thể được chia ra thành nội thất trong nhà và ngoài trời. Trong nhiều
trường hợp, có thể chia ra theo các kiểu như Cổ điển, Sang trọng, Nông thôn, Hiện đại…
Việc sản xuất đồ gỗ tại Việt Nam được tiến hành cả tại các làng nghề và tại các xưởng sản xuất
công nghiệp (nhà máy). Có 4 trung tâm sản xuất đồ gỗ chính là Đồng bằng sông Hồng, tỉnh
Bình Dương, Tây Nguyên (Gia Lai, Đak Lak) và Miền Nam Việt Nam (Bình Dương, Tp.
HCM, Đồng Nai và Long An)
Tại đồng bằng sông Hồng thì Hà Tây, Bắc Ninh và Hà Nội là những trung tâm hàng đầu về sản
xuất đồ gỗ theo kiểu truyền thống. Những trung tâm nổi tiếng là làng Đồng Kỵ (Bắc Ninh),
Vạn Điểm (Hà Tây), Vân Hà (Hà Nội)… Còn có rất nhiều làng nghề sản xuất đồ gỗ tại các
tỉnh Hải Dương, Vĩnh Phúc, Nam Định, Hưng Yên. Tổng cộng có 342 làng nghề thủ công làm
đồ gỗ tạ Việt Nam, tạo việc làm cho 99,904 người lao động
2
. Hầu hết các đồ gỗ trạm khảm
được dùng trong nước hoặc xuất khẩu sang các thị trường như Trung Quốc, Đài Loan, Hồng
Kông.
Các sản phẩm gỗ công nghiệp sản xuất theo quy mô lớn tại Việt Nam, không phải đồ gỗ truyền
thống, tập trung ở 3 khu vực chính là tỉnh Bình Dương, Tây Nguyên (Gia Lai, Dak Lac) và
phía Nam (TP.HCM, Đồng Nai, Long An). Đồ gỗ xuất khẩu của Việt Nam chủ yếu là từ 3 khu
vực này, đặc biệt là tại các tỉnh miền Nam và Bình Dương. Từ những tỉnh này, các sản phẩm
như đồ gỗ trong nhà và ngoài trời làm từ gỗ tự nhiên, gỗ trồng hoặc gỗ hỗn hợp, gỗ dán và các
vật liệu khác được sản xuất. Thường thì chúng được sản xuất theo yêu cầu và đơn đặt hàng của
khách hàng. Ngoài ra, khu vực này cũng xuất khẩu một khối lượng lớn vỏ bào và gỗ vụn.
Có sự đa dạng rất lớn về các doanh nghiệp trong ngành, từ những tập đoàn, công ty lớn với
nhiều máy móc, dây chuyền hiện đại sản xuất hàng loạt tới những hộ gia đình sản xuất nhỏ hầu
hết với máy móc lạc hậu và phụ thuộc chủ yếu vào lao động thủ công. Việc sản xuất đồ gỗ tại
các gia định trong các làng nghề rất phổ biến ở Việt Nam. Những sản phẩm gia đình này có
nhưng lợi thế lớn vì hầu hết các công đoạn sản xuất đều được thực hiện bởi những người có
tay nghề cao. Họ sử dụng những máy móc rất đơn giản. Nhưng rất khó để họ thực hiện được
các đơn đặt hàng lớn.
Điều này cho phép có sự linh hoạt trong việc tìm kiếm các sản phẩm đa dạng về mẫu mã trang

năm là trên 1 triệu M3, thì sau đó đã giảm xuống 300,000 M3 vào năm 2000 và đến 2008 thì
hạn mức khai thác gỗ chỉ còn 120,000 M3 trên cả nước.
Bảng 1: Hạn mức khai thác gỗ tại Việt Nam
Năm 1990s 2000 2004 2005 2006 2007 2008
Hạn ngạch
khai thác (m3)
Trên 1
triệu.
300,000 200,000 150,000 130,000 120,000 120,000
3
Số liệu cập nhật 31.12. 2006 – MARD
8
* Các dịch vụ (Services) ở đây đề cập đến các dịch vụ sấy khô bằng lò, bảo dưỡng dụng cụ máy móc.
** Nguyên liệu hoàn thiện (finishing materials) là các nguyên liệu dùng để chuẩn bị và hoàn thiện sản phẩm ví dụ như băng dính, nguyên liệu mài mòn (đá mài, đánh giáp),
dung môi, sơn mài, sơn nước, vv. Bản thân việc sản xuất đồ gỗ với những công đoạn phức tạp của nó chỉ chiếm 25% giá trị tiêu dùng của sản phẩm. 75% giá trị còn lại nằm
trong chuỗi giá trị bên ngoài. Điều này nhấn mạnh vào cơ hội tăng phần giá trị còn lại cho sản phẩm.
Gỗ nhà
Gỗ nhập
khẩu cho
nhà máy xẻ
Gỗ và ván
nhập khẩu
Tre
Mây và sợi
tự nhiên
Gỗ tiện
Sx Vải
Thuộc da
Nguyên
liệu độn

quốc gia
Bán buôn
Bán lẻ
Người tiêu dùng
Thị trường chính 2 (Mỹ, Nhật)
Vận chuyển Nhập khẩu Bán buôn
Người tiêu dung
Thị trường chính 3. Đông Nam Á
Nhập khẩu
Người hoàn
thiện
Xuất khẩu Bán buôn
Bán lẻ
Người tiêu dùng
9
Cần phải lưu ý rằng, số lượng gỗ tự nhiên khai thác hàng năm ở trên không phải chỉ để sản
xuất đồ gỗ mà còn dùng vào rất nhiều mục địch khác như xậy dựng và khai thác mỏ. Theo
ước tính chỉ khoảng 60% gỗ khai thác từ các khu rừng tự nhiên được dùng vào mục đích sản
xuất đồ gỗ (tương đương 72,000 M3 năm 2008).
Diện tích rừng trồng ở Việt Nam là 2.2 triệu ha, trong đó rừng sinh lợi là 1.45 triệu ha
(681,000 ha là rừng trưởng thành). Khối lượng khai thác từ các khu rừng trồng tăng dần mỗi
năm từ 800.000 M3 năm 2000 lên trên 2 triệu M3 năm 2008. Hầu hết gỗ từ nguồn rừng trồng
của Việt Nam được sử dụng để sản xuất giấy, làm giá đỡ để khai thác mỏ, các nguyên liệu ván,
tấm nhân tạo và sản xuất đồ dùng bằng gỗ.
Tổng khối lượng đồ gỗ sản xuất từ gỗ trồng chiếm khoảng 20% tổng khối lượng gỗ khai thác.
Tổng khối lượng gỗ trồng dùng để sản xuất đồ gỗ từ năm 2003-2006 là khoảng 1triệu M3.
Lượng tiêu thụ gỗ trồng để sản xuất đồ gỗ ước tính vào năm 2010 là khoảng 3.5 triệu M3.
Một khối lượng tương tự nguyên liệu ván, tấm nhân tạo cũng sẽ được sử dụng tới 2010
4
. Một

khẩu. Theo thống kê, Việt Nam nhập khẩu nguyên liệu gỗ từ hơn 100 nước trên thế giới. Khối
lượng gỗ nhập khẩu tăng lên hàng năm từ 151,5 triệu đô la Mỹ năm 2000 lên 535,8 triệu đô la
năm 2004. Thông thường kim ngạch nhập khẩu nguyên liệu nhập khẩu chiếm 42-49% tổng
kim ngạch xuất khẩu đồ gỗ. Do giá dầu nguyên liệu gia tăng gần đây nên cước phí vận chuyển
từ các quốc gia xa xôi đang xuất khẩu gỗ về Việt Nam như Nam Phi, Nam Mỹ (Brazin…)
cũng tăng rất cao, nếu tính nguồn gỗ từ Nam Phi thì giá cước phí vận chuyển đã chiếm tới
27% giá gỗ nguyên liệu, và nếu tính từ Nam Mỹ thì cước phí vận chuyển đường biển lên tới
37%. Điều này thể hiện tính phụ thuộc cao vào nguồn nguyên liệu nhập khẩu và là điểm yếu
của các nhà sản xuất đồ gỗ ngoài trời giá rẻ, thứ được làm hoàn toàn từ gỗ liền khối.
Bảng 2: Kim ngạch nhập khẩu gỗ
Năm 2000 2001 2002 2003 2004 2006 2007 2008
Trị giá nhập
khẩu (nghìn
USD)
151.48
6
160.91
5
249.34
7
344.69
2
535.76
7
720.00
0
1.020.00
0
1.010.00
0

7.Ván dăm gỗ 50,500,000 5% Thailand, Malaysia, China
8. Bạch dương 50,500,000 5% America, Canada
9.Sồi 50,500,000 5% America, Germany, France, China,
Russia, Samoa, Denmark, Canada…
10.Gỗ vơ nia (gỗ
dán)
40,400,000 4% Taiwan, China, USA, Germany, Japan,
Cambodia…
11.Ván ép 30,300,000 3% China, Japan, Malaysia…
12.Chò chỉ 30,300,000 3% Laos, Malaysia…
13.Giáng hương 20,200,000 2% Malaysia, Laos
14.Dầu đen 20,200,000 2% Malaysia, Laos
15. Các loại gỗ khác 272,700,000 27% Myanmar, Ghana, Papua New Guinea,
Australia, New Zealand, Sweden, Brazil,
South Africa, Laos, USA, Canada…
Chi phí cho gỗ và các nguyên liệu nhân tạo chiếm một phần rất lớn trong kết cấu của sản phẩm
(40-65%), do đó việc tìm kiếm giải pháp để làm giảm tối đa chi phí cho vật liệu gỗ đóng một
vai trò rất quan trọng trong việc giảm giá thành sản phẩm và tăng khả năng cạnh tranh của các
nhà sản xuất. Thực tế là Malaysia cung cấp đến 50% gỗ sồi cắt khúc cho các nhà sản xuất Việt
Nam trong khi ở Malaysia không có cây sồi mà cây này bắt nguồn từ Mỹ, Đức, Nga và
Rumani. Điều này thể hiện sự yếu kém trong việc tiếp cận các nguồn cung phù hợp. Các nhà
buôn gỗ của Malaysia lại tìm được những nguồn cung tốt hơn để buôn bán với các nhà sản
xuất của Việt Nam. Điều tương tự cũng xảy ra khi các nhà trung gian cung cấp gỗ của Mỹ lại
tìm các nguồn cung từ Canada và bán cho các công ty Việt Nam. Việc có quá nhiều trung gian
tham gia vào quá trình cung cấp nguyên liệu cùng với việc giá nguyên liệu ngày càng tăng đã
làm cho đồ gỗ của Việt Nam càng ngày càng ít lợi thế và đe doạ nghiêm trọng đến khả năng
cạnh tranh. Đây là vấn đề chính cần được giải quyết.
Cùng lúc đó thì các nhà cung cấp truyền thống về đồ gỗ của Việt Nam là Lào, Myanmar,
Indonesia, đã cấm xuất khẩu gỗ khúc. Vì vậy, các công ty Việt Nam đang phải nhập khẩu gỗ
sơ chế với giá cao hơn. Ngoài ra, hầu hết các công ty nhập khẩu gỗ một cách độc lập với số

tốt với gỗ trong quá trình thiết kế và sản xuất đồ nội thất. Tuy nhiên, cũng như cây mây, cây
tre ở Việt Nam cũng đang bị đe doạ cạn kiệt và cần có biện pháp triệt để để bảo tồn và trồng
mới . Giá cả ngày càng cao và giờ đây Việt Nam đang phải nhập khẩu mây tre từ Trung Quốc,
Lào và Indonesia.
Căn cứ vào tình hình trên, chính phủ Việt Nam đã thông qua chiến lược phát triển các sản
phầm phi gỗ rừng tới năm 2015, trong đó tre và mây là hai thành phần quan trọng.
Gỗ kết hợp với kim loại đang ngày càng thu hút được sự chú ý của các nhà nhập khẩu nước
ngoài, nhưng chỉ có một số nhà máy tại Việt Nam có thể sản xuất các bộ phận kim loại như
khung đúc, khung lắp ghép. Chất lượng và thiết kế vẫn rất hạn chế và các nhà xuất khẩu đồ gỗ
vẫn phải nhập khẩu các bộ phận này từ Trung Quốc và một số nơi khác để đáp ứng đơn hàng.
Sự phát triển nguyên liệu kim loại và các nguyên liệu đầu vào khác cho ngành công nghiệp là
thiết yếu và có khả năng mang lại lợi nhuận để có thể nắm bắt được phần lớn hơn nữa trong
13
chuỗi giá trị.
2.2.4 Phần cứng và phụ kiện
Phần cứng, phần lắp ghép và các phụ kiện được sản xuất tại địa phương hoặc mua lại từ các
nhà buôn và các nguồn từ nước ngoài. Các phần cứng như bu-lông, ốc vít, đinh vít, đinh, vv
được sản xuất trong nước nhưng rất hạn chế về chất lượng và chủng loại. Việc cung cấp các
mặt hàng này là cơ hội lớn cho sự phát triển ngành công nghiệp phụ liệu. Đài Loan là một mô
hình hoàn hảo cho việc phát triển ngành này và cần được nghiên cứu cụ thể trong quá trình
hoạch định chiến lược phát triển ngành. Với những phụ kiện lắp ráp đặc biệt họ vẫn nhập khẩu
từ Đức, Ý, Nhật, Trung Quốc và Đài Loan. Trong nhiều trường hợp, nhà nhập khẩu sẽ cung
cấp những phần cứng thích hợp và/hoặc các phụ kiện mà nhà sản xuất cần để đảm bảo chất
lượng sản phẩm. Các phụ liệu này cần được cung cấp trong nước (Việt Nam) càng nhiều càng
tốt.
Các phụ kiên khác như sơn xịt, sơn nước, keo dán, lá kim loại, sợi, vv có thể được sản xuất tại
Việt Nam, nhưng vẫn cần nhập khẩu các nguyên liệu chất lượng cao.
Các phần cứng và phụ kiện này chủ yếu được bán tập trung tại TP.HCM và điều này có thể
gây khó khăn cho những nhà sản xuất tại miền Bắc khi mà hoạt động phân phối hàng hoá còn
yếu.

cắt mộng tự động hai đầu (Automatic double end tenoners), máy cắt khuôn hàng loạt cũng như
các dụng cụ cơ bản như cưa, máy bào, máy bào bàn, vv.
Chưa có số liệu chính xác về tỉ lệ máy chế biến gỗ nhập khẩu nhưng số lượng ứng tính khoảng
hơn 80%. Điều này, như đã nói ở trên, là một cơ hội lớn cho các nhà sản xuất trong nước.
Năm 2006, tổng giá trị máy móc chế biến gỗ nhập khẩu vào Việt Nam là 57 triệu đô la Mỹ.
Máy móc được mua chủ yếu từ Nhật, Ý, Đài Loan, Trung Quôc và Đức. Nhiều máy móc chất
lượng cao hơn sẽ được nhập khẩu khi số nhà sản xuất chuyển sang sản xuất đồ nội thất trong
nhà tăng lên.
Các máy móc nhập khẩu được cung cấp bởi mạng lưới các công ty thương mại. Hầu hết là các
công ty thương mại trong nước, một số là đại diện của công ty nước ngoài. Cũng có nhiều
trường hợp các nhà sản xuất đồ gỗ tự liên hệ và nhập khẩu trực tiếp từ các nhà sản xuất ngước
ngoài.
2.2.6 Đào tạo kỹ thuật, quản lý và hướng nghiệp
Ngành công nghiệp chế biến gỗ ở Việt Nam được hỗ trợ bởi một hệ thống các trường đào tạo
nghề và các cơ quan nghiên cứu để cung cấp các kiến thức chế biến cho những nhà quản lý và
công nhân. Có 3 kiểu cơ quan nghiên cứu và trường đào tạo nghề khác nhau (bao gồm đại học,
cấp 3, cấp 2, trường dạy nghề kỹ thuật và trường đào tạo cán bộ quản lý) trên cả nước. Hệ
thống đào tạo về rừng nằm trong phạm vi quản lý của Bộ NN&PTNT bao gồm Viện khoa học
tài nguyên rừng (đào tạo sau đại học), Cao đẳng lâm nghiệp ở Xuân Mai, Hà Tây, 2 trường đào
tạo cán bộ quản lý về nông nghiệp và phát triển nông thôn tại Hà Nội và Tp.HCM, 3 trường
trung cấp lâm nghiệp trung ương tại Quảng Ninh, Đông Nai và Gia Lai; trường hướng nghiệp
dạy nghề chế biến gỗ tại Hà Nam, trường công nhân lâm nghiệp trung ương Số 1 tại Lạng Sơn,
Số 2 tại Ninh Bình, Số 3 tại Bình Dương, số 4 tại Phú Thọ, 2 trung tâm đào tạo bảo vệ và
quản lý rừng ở phía Bắc và phía Nam cũng mới được thành lập. Nhìn chung, hệ thống đào tạo
15
đã cung cấp nguồn nhân sự đáng kể cho ngành nhưgn chất lượng đào tạo hiện nay, đặc biệt là
các ngành liên quan đến công nghệ, máy móc, thiết kế, marketing… vẫn rất kém.
Hàng năm, các đơn vị đào tạo thuộc Bộ NN&PTNT tuyển sinh 5.170 sinh viên trong đó 70 là
thạc sĩ, 800 là cử nhân chính quy, 450 tại chức, 50 sinh viên cao đẳng, 850 học sinh trung học
chính quy và, 400 học sinh trung học tại chức, và 2.550 học sinh tại các trường hớng nghiệp.

Trong số các công ty này đã có 99 công ty đạt được Chứng nhận Chuỗi hành trình sản phẩm
(COC ) và số lượng các công ty đạt chứng nhận sẽ còn tăng trong tương lai. Hầu hết các công
ty lớn và một số công ty vừa cũng đã đạt tiêu chuẩn ISO 9001-2000 và SA 8000.
Nhìn chung hiệu quả sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp chế biến gỗ còn thấp. Lợi
nhuận trước thuế so với tổng vốn đầu tư năm 2008 của toàn ngành là 2,5% trong đó lợi nhuận
của các công ty ở phía nam là 5,48%, 14 lần cao hơn so với các doanh nghiệp ở phía Bắc
(0,04%).
Các công ty chế biến đồ gỗ cũng đang trong quá trình tập hợ lại để thúc đẩy tăng trưởng thông
qua việc hợp tác và đồng minh chiến lược. Mới đây, một số nhà sản xuất đã đóng vai trò nhà
thầu phụ cho các công ty với năng lực giới hạn hoặc sản xuất các chi tiết đặc biệt. Các nhà sản
xuất đã dần nhận ra rằng mỗi công ty phải tìm ra yếu tố cạnh tranh chủ chốt của mình và tập
trung vào đó. Cùng lúc đó, một số công ty đang cố gắng chính thức hội nhập vào khu vực sản
xuất ván và lớp dán bề mặt để có thêm sức mạnh trong việc điều chỉnh chi phí và giá cả. Thêm
vào đó, họ cũng đang là nhà cung cấp cho các công ty sản xuất đồ gỗ nhỏ.
Các công ty chế biến gỗ có vốn đầu tư nước ngoài đóng một vai trò quan trọng trong sự phát
triển của ngành công nghiệp gỗ Việt Nam, không chỉ trong lĩnh vực xuất khẩu mà còn trong
lĩnh vực trình độ công nghệ, đào tạo nhân lực, đa dạng hoá sản phẩm và thậm chí là nâng cao
hình ảnh về ngành công nghiệp gỗ trên thị trưòng thế giới. Vì giá lao động ngày càng tăng và
khan hiếm nguôn nhân công trong nước nên các nhà sản xuất nước ngoài từ Mỹ, Châu Âu,
Nhật Bản đang tìm kiếm một môi trường sản xuất kinh doanh phù hợp hơn ở Malaysia,
Singapore, Thailand, Philippines, và gần đây là Việt Nam. Đây là thời cơ rất tốt để thúc đẩy
sản xuất ở Việt Nam khi các doanh nghiệp Đài Loan xây dựng và mở rộng quy mô nhà máy tại
đây, đặc biệt là tại Tp.HCM vì họ đang tăng tốc để đối đầu với Trung Quốc trong cuộc chạy
đua xuất khẩu vào thị trường Mỹ và Châu Âu. Có cở sở để đặt niềm tin và sự lạc quan vào
tiềm năng ở đây và vì vậy một nguồn vốn khổng lồ đã được đầu tư để đặt dấu ấn chắc chắn
vào thị trường sản xuất đồ nội thất đang lên này. Những nhà máy mới này được trang bị máy
móc mới với các loại thiết bị mới nhất trong một số công đoạn – như hoàn thiện.
2.2.8 Các đại lý và công ty môi giới
Đây là các cá nhân hoặc công ty đóng vai trò đàm phán và xác lập mối làm ăn theo chỉ dẫn của
người uỷ nhiệm hoặc đóng vai tròn trung gian giữa người mua và người bán. Họ không mua

làm các giấy tờ cần thiết và điều hành khâu vận chuyển.
2.2.11 Nhà bán lẻ
Bán lẻ là khâu cuối cùng trong chuỗi phân phố từ nhà sản xuất đến người tiêu dùng. Các nhà
bán lẻ với quy mô khác nhau từ quy mô nhỏ được biết đến ở Mỹ như chuỗi cửa hàng ‘Mom &
Pop’ đến các đại gia bán lẻ như Walmart, IKEA và Carrefours.
Các cửa hàng nhỏ thường là chuyên gia hoặc về sản phẩm hoặc về dịch vụ. Họ mua từ nhà bán
buôn và thường không kèm theo dịch vụ lưu kho. Nhà bán buôn đã tính họ cả chi phí nhập
khẩu, lưu kho và phân phối. Giá cả có thể tăng nhưng thường trong khoảng từ 80 đến 100%,
18
đôi khi có thể hơn so với giá FOB. Nhà bán lẻ sau đó cũng thêm vào khoảng 100% công với
thuế và vì vậy khi đồ gỗ đến tay người tiêu dùng cuối cùng thì giá cả đã cao gấp 4 lần so với
giá FOB.
Đối tượng tiếp theo là nhóm mua hàng, người mua đại diện cho một số nhà bán lẻ mua hàng
với số lượng lớn. Họ lấy một tỉ lệ phần trăm nhất định trong giá sản phẩm trả công cho dịch vụ
tìm kiếm và lựa chọn của mình. Thường thì tỉ lệ đó khoảng 10% đến 12% nhưng các nhà bán
lẻ đã chịu tất cả các chi phí từ nhà máy đến cửa hàng nên giá cuối cùng của sản phẩm cũng chỉ
tương đương với giá mua từ nhà bán buôn và các nhà bán lẻ có thể đạt được mức tăng giá lớn
hơn 100%.
Tiếp đến là các chuỗi cửa hàng nhỏ. Đây là nhóm cửa hàng thuộc cùng một chủ sở hữ hoạt
động trong một thành phố hoặc một địa phương nhưng thường không phân bố rộng khắp cả
nước. Họ thường hoạt động như những nhà bán buồn thu mua hàng về một trung tâm chứa
hàng và phân phối đến các cửa hàng của mình. Và khi hàng đến tay người tiêu dùng thì giá cả
cũng gấp 4 lần giá FOB.
Nhóm tiếp theo là các nhà phân phối bán lẻ lớn như IKEAs, Walmarts, Carrefours, vv. Nhóm
này là ông chủ trên khắp thế giới và có quyền năng chi phối biệc mua bán hàng. Họ mua trực
tiếp từ nhà sản xuất và bán trực tiếp cho các khách hàng cuối cùng. Họ tìm kiếm lợi nhuận từ
các nền kinh tế và rất cứng rắn trong quá trinh đàm phán mua hàng. Họ thường yêu cầu số
lượng lớn với giá rất rẻ. Họ thường bán háng với giá ưu việt thấp hơn 20 –22% trong các cửa
hàng của mình do đó để cung cấp hàng cho họ các nhà sản xuất cần phải hết sức năng suất để
có thể thu được lợi nhuận. Ngày càng nhiều nhóm mua hàng lớn đang trở thành độc quyền

Chuyên chở sang thị trường Mỹ nói riêng đạt trên 1 tỷ đô la năm 2008, chiếm 39% tổng kim
ngạch xuất khẩu. Tuy nhiên thị phần của đồ gỗ Việt Nam tại những thị trường trên còn rất nhỏ
so với thực tế tiêu thụ.
Bảng 5: Thị trường xuất khẩu chính các sản phẩm đồ gỗ của Việt Nam năm 2008
TT
Thị trường Kim ngạch
(USD)
TT
Thị trường Kim ngạch
(USD)
1
Achentina 1.354.214
26
Italia 46.786.705
2
CH Ailen 18.887.030
27
Látvia 1.255.407
3
Aixơlen 1.240.423
28
Lítva 299.708
4
Ấn Độ 5.766.892
29
Malaixia 15.474.250
5
Anh 197.651.285
30
Nauy 7.793.383

13
Cămpuchia 2.487.548
38
Philippin 584.339
14
Canada 67.900.481
39
CH Séc 3.327.199
15
Đài Loan 56.455.576
40
Xingapo 6.587.306
20
TT
Thị trường Kim ngạch
(USD)
TT
Thị trường Kim ngạch
(USD)
16
Đan Mạch 30.725.278
41
CH Sip 768.282
17
CHLB Đức 152.002.406
42
Slôvakia 1.076.910
18
Extônia 421.399
43

Các thị trường xuất khẩu cho từng nhóm sản phẩm đồ gỗ như sau (từ cao đến thấp):
Bảng 6: Thị trường xuất khẩu đô gỗ Việt Nam
Ghế bọc (khung gỗ) Anh, Đan Mạch, Đức, Úc, Đài Loan, Canada, Hà Lan, Bỉ
Ghế không bọc, làm từ gỗ Đức, Anh, Hà Lan, Bỉ, Úc, Đan Mạch...
Các loại ghế khác Anh, Đức, Đan Mạch, Đài Loan, Pháp...
Các bộ phận của ghế Mỹ, Đài Loan, Malaysia...
Đồ gỗ văn phòng, làm từ gỗ Mỹ, Nhật, Pháp, Anh, Hàn Quốc, Đan Mạch. (hầu hết các
thị trường này không tăng trưởng trong những năm qua)
Nội thất nhà bếp và các đồ gỗ
nhà bếp khác, làm từ gỗ
Mỹ, Nhật, Hàn Quốc, Đài Loan, Anh.... (các thị trường Mỹ,
Nhật và Hàn Quốc tăng trưởng nhanh)
Nội thất phòng ngủ, làm từ
gỗ
Mỹ, Nhật, Anh, Trung Quốc, Hàn Quốc, Úc... (thị trường
Mỹ và Nhật tăng trưởng nhanh, các thị trường khác tăng
trưởng ổn định với tỉ lệ cao)
Nội thất phòng ăn và phòng
khách, làm từ gỗ
Mỹ, Nhật, Pháp, Hà Lan, Anh, Đức, Úc... (thị trường Mỹ
tăng trưởng từ 100-300%/năm, thị trường Nhật cũng tăng ổn
định)
Kim ngạch xuất khẩu mang lại do các công ty có vốn đầu tư nước ngoài chiếm một phần rất
lớn trong xuất khẩu đồ gỗ của Việt Nam. Hơn một nửa lợi nhuận từ xuất khẩu năm 2006 (1,93
tỉ đô la Mỹ) là từ các công ty có vốn đầu tư nước ngoài. Tỉnh Bình Dương, nơi chiếm khoảng
40% kim ngạch xuất khẩu của cả nước, hiện nay có 542 doanh nghiệp chế biến gỗ, bao gồm
200 công ty có vốn đầu tư nước ngoài với tổng số vốn đầu tư lên tới hơn 700 triệu đô la. Cũng
vậy, dựa vào số liệu thống kê của một công ty tư vấn tại thành phố Hồ Chí Minh chuyên về
21
xúc tiến xuất khẩu đồ gỗ vào thị trường Mỹ, khoảng 80% kim ngạch xuất khẩu đồ gỗ của Việt


2.4 Triển khai các hoạt động hỗ trợ
Có một số nhân tố thành công thiết yếu quyết định đến tính cạnh tranh trong ngành công
nghiệp gỗ:
2.4.1 Cấp Chính phủ:
6
Bộ Thương mại, Tháng 6, 2005
7
Việt Nam: Vietnam: Anti-dumping duty: Wood products eyed, Thai News Service, Jun 20, 2005
8
HCM City, Hiệp hội Gỗ HCM, Dec 2005
22
• Chính phủ phải gắn bó với ngành, tạo cơ hội phát triển cho ngành và cung cấp một nền
móng mà ở đó có thể triển khai các biện pháp tiếp cận thị trường tiên tiến. Một yếu tố tất
yếu cho sự thành công của ngành công nghiệp chế biến gỗ là các công ty tiến đến càng gần
với người tiêu dùng cuối cùng càng tốt.
• Việc đào tạo phải được thưc hiện ở mọi cấp độ, kỹ năng thủ công, kỹ năng công nghệ, thiết
kế, cải tiến và quản lý marketing.
• Cần phải phát triển nguồn cung cấp gỗ nội địa lâu dài để đảm bảo nguồn nguyên liệu thô
trong thời gian dài cũng như đảm bảo tính bền vững của ngành.
• Cần phải có một đội ngũ cán bộ được lựa chọn/tuyển dụng để dẫn dắt và lãnh đạo ngành
trong quá trình tiếp cận với thị trường thế giới, xây dựng hình ảnh và giá trị tăng trưởng
của ngành.
• Các công ty cần phải được khuyến khích mua vào các sản phẩm cải tiến được marketing và
có thương hiệu của Việt Nam và họ phải được chuẩn bị để đóng góp vào quá trình hoạt
động của ngành.
2.4.2 Cấp độ ngành:
2.4.2.1 Nguyên liệu sẵn có
Hiện tại, 42-49% giá trị xuất khẩu của Việt Nam phải dùng để chi trả cho việc nhập khẩu gỗ và
ván. Đây là tỉ lệ quá cao và đòi hỏi cần có sự quan tân vì sự tồn tại lâu dài của ngành.

có các khu rừng được chứng nhận ở Việt Nam là được chuyên trồng để lấy gỗ. Chính phủ
đang tiến tới việc chứng nhận rừng quốc gia và có một ý kiến chung là việc khai thác gỗ một
cách bền vững là cách tốt nhất để bảo tồn rừng khỏi nạn khai thác trái phép và cải thiện thực
tiễn quản lý nhưng như vậy các khu rừng tự nhiên sẽ không cho sản lượng cần thiết.
42-49% giá trị xuất khẩu đồ nội thất ngoài trời là chi trả cho nguyên liệu thô. Điều này có
nghĩa là một phần giá trị còn lại rất nhỏ được dành cho nhân công, This leaves very little value
to be distributed to labour, chi phí sản xuất và lợi nhuận. Với một tỉ lệ nguyên liệu thô nhập
cao như vậy, các doanh nghiệp không thể đạt được lợi nhuận cao hay đầu tư vào sự phát triển
bền vững của doanh nghiệp. Hiện trạng này chỉ có thể được cải thiện bằng cách cải tiến tiếp
thị, thiết kế, phát triển sản phẩm và chất lượng sản phẩm và dịch vụ tốt đồng đều. Đây là
nhưng yếu tốt thiết yếu của sự thành công.
Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn hiện đang có 5.300 héc ta rừng giống phục vụ cho
việc tuyển chọn cây giống cho trồng rừng ở trong nước, rừng giống này hiện mới chỉ đủ năng
lực cung cấp giống một số loại cây như keo, bạch đàn, thông, còn các chưa có loại cây rừng có
giá trị cao mà thị trường thế giới ưa chuộng như teak, lát Mehico. Năng lực nhân giống cây
bằng hạt, bằng cấy mô của cả nước hiện chỉ 128 triệu cây giống mỗi năm, chưa thể đáp
ứng nếu các doanh nghiệp ngành lâm nghiệp có nhu cầu sử dụng nhiều cây giống tốt.
Một số công ty chế biến gỗ đã bắt đầu quan tâm và tiến hành trồng rừng nguyên liệu để lấy gỗ
phục vụ sản xuất, tuy nhiên việc đầu tư trồng rừng cũng không dễ, vì vốn đầu tư lớn, vòng
quay vốn lại kéo dài nên ảnh hưởng tới hoạt động sản xuất của doanh nghiệp. Ngoài chuyện
trồng rừng, doanh nghiệp còn phải lo chuyện bảo vệ rừng do lâm tặc và hiện trạng phá rừng
làm nương rẫy của dân địa phương.
9
Ý kiến của một nhà nhập khẩu đồ gỗ lớn của Việt Nam
24
Nhu cần gỗ có nguồn gốc xuất xứ hợp pháp ngày càng tăng và sớm trở thành nhu cầu bắt buộc
của các quốc gia nhập khẩu để chống lại tình trạng phá rừng bất hợp pháp – là một trong
những nguyên nhân làm biến đổi khí hậu toàn cầu. Gần đây, cộng đồng Châu Âu đã chuẩn y
Hiệp định “Tăng cường thực thi Luật Lâm nghiệp, quản trị rừng và buôn bán gỗ” (FLEGT)
nhằm đưa ra các biện pháp phối hợp giữa người sản xuất và người tiêu thụ để thúc đẩy thương

nhà sản xuất khác tại địa phưong như Inchem (Malaysia), Duy Hoàng... Các phụ liệu ngành
gỗ không những giá cao, chất lượng thấp và đôi khi khó đựơc giao hàng đúng hẹn. Ví dụ riêng
việc cung cấp nguyên liệu dệt cũng gây rất nhiều khó khăn cho các doanh nghiệp chế biến và
xuất khẩu đồ gỗ. Ví dụ, một doanh nghiệp dệt đồng ý sản xuất lớp bọc theo màu sắc và kiểu
25

Trích đoạn Thiết kế và cải tiến sản phẩm Cơ sở hạ tầng Môi trường cạnh tranh quốc tế Chính sách về ngành của Chính phủ Các cơ quan
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status