Chiến lược xuất khẩu quốc gia ngành thủ công mỹ nghệ việt nam - Pdf 83

CHIẾN LƯỢC XUẤT KHẨU QUỐC GIA
NGÀNH THỦ CÔNG MỸ NGHỆ
VIỆT NAM.
Báo cáo do VIETRADE/ITC thực hiện
Chiến lược Xuất khẩu Quốc gia ngành Thủ công Mỹ nghệ Việt Nam
Mục lục
Page
Lời nói đầu 3
1 Giới thiệu 4
1.1 Cơ sở 4
1.2 Tiếp cận 5
2 Thực trạng về ngành 6
2.1 Nhóm sản phẩm 6
2.2 Chuỗi giá trị hiện tại của ngành 10
2.3 Đánh giá hoạt động xuất khẩu thủ công mỹ nghệ giai đoạn 1999-2004 14
2.4 Hoạt động dựa vào những nhân tố quyết định thành công 18
2.5 Năng lực cạnh tranh quốc tế 22
3 Các điều kiện về khung chính sách 23
3.1 Chính sách của nhà nước đối với ngành 23
3.2 Thể chế 26
3.3 Mạng lưới hỗ trợ thương mại 28
3.4 Các nguồn hỗ trợ tài chính 32
3.5 Dịch vụ xuất khẩu 33
4 Phân tích SWOT đối với ngành 34
5 Tầm nhìn và chuỗi giá trị tương lai của ngành 35
5.1 Tầm nhìn 35
5.2 Chuỗi giá trị tương lai của ngành 37
6 Định hướng 39
6.1 Triển vọng phát triển 39
6.2 Triển vọng về năng lực cạnh 40
7 Đánh giá triển vọng của các bên tham gia 46

đôla Mỹ.
Trên cơ sở số liệu thống kê của Tổng Cục Thống kê Việt Nam, chính phủ Việt Nam đã đề ra
mục tiêu cho ngành thủ công Việt Nam là vào năm 2010 ngành sẽ đạt được kim ngạch xuất
khẩu 1,5 tỉ đôla Mỹ. Điều này có nghĩa là Việt Nam cần phải đặt mục tiêu cho tỉ lệ gia tăng
trung bình là 20% một năm. Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (MARD) cũng đã phê
duyệt kế hoạch phát triển ngành nghề vùng nông thôn đến năm 2010 với mục tiêu tạo ra
300.000 công ăn việc làm mỗi năm ở các khu vực nông thôn và mức tăng trưởng hàng năm
của kim ngạch xuất khẩu đề ra là 20-22%.
Các tác giả xin gửi lời cảm ơn đến tất cả những bên liên quan đã giúp đỡ chuẩn bị cho chiến
lược xuất khẩu ngành, đặc biệt là Nhóm dự án của Cục Xúc tiến thương mại và ITC ở Hà Nội
và Giơ-ne-vơ.
Tháng 8-2006
3
Chiến lược Xuất khẩu Quốc gia ngành Thủ công Mỹ nghệ Việt Nam
1 Giới thiệu
1.1 Cơ sở
Ngành thủ công và mỹ nghệ của Việt Nam đã có từ rất lâu, tuy nhiên, sự tăng trưởng ấn tượng
của ngành chỉ chỉ thực sự đạt được trong 5 (năm) năm gần đây, chủ yếu là gia tăng trong xuất
khẩu ra thị trường thế giới. Sự phát triển của ngành thủ công mỹ nghệ đã đóng góp đáng kể
vào sự phát triển chung về kinh tế - xã hội của đất nước.
Ngành thủ công mỹ nghệ đã có những tác động to lớn đến tình hình kinh tế và xã hội của đất
nước, đặc biệt đối với tình hình giảm đói nghèo và phát triển các khu vực nông thôn: thu nhập
ở các khu vực nông thôn tăng lên, tạo ra công ăn việc làm cho khoảng 1,35 triệu người ở hơn
2.000 làng nghề trên khắp đất nước, từ đó, thu hẹp khoảng cách về mức sống giữa thành thị và
nông thôn. Ngành thủ công mỹ nghệ cũng đã góp phần hình thành hàng ngàn các nhà sản xuất,
các thương gia, các nhà xuất khẩu và những công ty dịch vụ ở Việt Nam.
Ngành thủ công mỹ nghệ đã thể hiện năng lực cạnh tranh lớn trên thị trường quốc tế, đặc biệt
đối với các nhóm mặt hàng trang trí nội thất, trang sức và hàng quà tặng. Từ năm 1990 đến
năm 2003/2004, khối lượng xuất khẩu của ngành tăng với tỉ lệ gia tăng hàng năm từ 10-12%
trên tổng giá trị trong khoảng 533 triệu và 952 triệu đôla Mỹ (tuỳ thuộc vào các cách xác định

cạnh tranh trong xuất khẩu, các nhân tố chủ yếu quyết định sự thành bại, các chính sách, chiến
lược liên quan của nhà nước và mạng lưới hỗ trợ ngành, chiến lược xuất khẩu ngành sẽ đề ra
một tầm nhìn dài hạn và đề xuất những hoạt động và biện pháp cần thực hiện trong khoảng
thời gian từ 1-5 năm tới.
Các công cụ chủ yếu được áp dụng là Phân tích chuỗi giá trị trên cơ sở tài liệu phân tích về tác
động của bốn bánh xe động lực của ITC. Một chuỗi giá trị gồm có tất cả các công ty mua và
bán sản phẩm từ một công ty nhằm cung cấp một sản phẩm đặc trưng hoặc một bộ sản phẩm
bao gồm cả những liên kết ngang và liên kết dọc. Trong ngành thủ công mỹ nghệ, chuỗi giá trị
có thể được mô tả như một tập hợp có sự liên kết của những nhà sản xuất nguyên liệu thô,
những nhà thu gom nguyên liệu, thương gia, các nhà cung cấp dịch vụ hỗ trợ, nhà sản xuất,
bán buôn, bán lẻ, các nhà xuất khẩu trong nước và các nhà nhập khẩu, các nhà bán buôn, bán
lẻ và người sử dụng quốc tế trong chuỗi giá trị.
Cơ cấu bốn bánh xe động lực được sử dụng để xây dựng một chiến lược xuất khẩu ngành
mang tính tổng thể thông qua việc cân nhắc cẩn trọng hơn đối với bốn hạng mục về phát triển
chuỗi giá trị:
 Trong đường biên giới (Border-In): Phương thức này đề cấp đến những vấn đề liên
quan đến (1) phát triển năng lực liên quan đến nâng cao năng lực sản xuất về năng suất,
khối lượng, chất lượng và giá trị gia tăng; (2) đa dạng hoá năng lực như sản xuất ra các
dòng sản phẩm mới và/hoặc những sản phẩm liên quan; (3) phát triển vốn nhân lực gồm
phát triển nguồn nhân lực và các doanh nghiệp trong ngành.

 Tại đường biên giới (Border): Phương thức này đề cập đến những vấn đề liên quan đến:
(1) cải thiện cơ sở hạ tầng cần thiết cho phát triển ngành; (2) thuận lợi hoá thương mại
nhằm nâng cao hiệu quả và hiệu suất kinh doanh; và (3) giảm chi phí trong hoạt động kinh
doanh để duy trì sức cạnh tranh của ngành.
 Ngoài đường biên giới (Border-Out): Phương thức này đề cập đến những vấn đề liên
quan: (1) tiếp cận thị trường gồm có các hàng rào thuế quan, phi thuế quan và những vấn
đề thâm nhập thị trường liên quan khác; (2) dịch vụ hỗ trợ trên thị trường; và (3) xúc tiến
tầm quốc gia về xây dựng và củng cố hình ảnh của ngành trên các thị trường mục tiêu.
 Phát triển: Phương thức này đề cập đến những vấn đề liên quan đến phát triển kinh tế xã

xuất ở nhiều tỉnh thành trên cả nước nhưng hầu hết đến từ Hà Tây, Hà Nam, Thái Bình, Thanh
Hoá, Khánh Hoà và Tiền Giang.
Trong các năm gần đây, xuất khẩu sản phẩm thủ công từ nguyên liệu bèo tây đã phát triển nở
rộ. Có nhiều làng nghề ở các tỉnh phía Nam như Tiền Giang, Đồng Tháp, Đồng Nai và thành
phố Hồ Chí Minh đặc biệt chuyên về các sản phẩm từ bèo tây.

6
Chiến lược Xuất khẩu Quốc gia ngành Thủ công Mỹ nghệ Việt Nam
Hoạt động cung cấp nguyên liệu như tre/mây/cói/lá là một ngành tự thân có tầm quan trọng
đặc biệt đối thu nhập ở vùng nông thôn. Tuy nhiên, các nguyên liệu thô dồi dào trước kia ngày
càng trở nên khan hiếm. Việt Nam hiện phải nhập khẩu tre từ Trung Quốc và mây từ Lào,
Campuchia và In-đô-nê-xi-a.
Nguyên liệu mây cần phải có sự lưu tâm đặc biệt do nó có truyền thống rất lâu đời. Việt Nam
đã luôn được nhìn nhận là một đất nước của mây (đứng thứ ba chỉ sau In-đô-nê-xi-a và Ma-
lai-xi-a) và người Việt Nam rất giỏi chế tạo các sản phẩm không chỉ từ các giỏ đan làm bằng
mây mà còn cả những đồ dùng bằng mây sử dụng trong nhà và ngoài trời. Ghế, bàn và ngăn
kéo mây sản xuất ở Việt Nam đã trở nên rất phổ biến ở nhiều nước như Đức, Italia và Mỹ với
nhu cầu thậm chí còn đang tăng lên.
Gốm
Nghề gốm của Việt Nam có thể được chia ra làm 04 nhóm chính: Bộ đồ ăn, bình và lọ hoa,
tượng và những vật dụng trang trí khác. Tuỳ thuộc vào công nghệ và nhiệt độ nung mà các sản
phẩm sẽ là gốm, sứ, sành hay đất nung
Nghề gốm đã có ở Việt Nam từ 10.000 năm nay và các cơ sở sản xuất gốm phân bổ trên khắp
cả nước. Tuy nhiên, một số trung tâm sản xuất sản phẩm gốm lớn nằm ở Hà Nội (Bát Tràng),
Đồng Nai và Bình Dương. Gần đây, các sản phẩm nghệ thuật làm từ sành phục vụ nhu cầu
trang trí nhà và vườn đã phát triển mạnh ở các tỉnh Đồng Nai, Vĩnh Long, Hà Nam và Bắc
Ninh và đã thu hút đuợc sự chú ý đặc biệt của các nhà nhập khẩu trên khắp thế giới..
Gỗ
Nhóm sản phẩm có ưu thế lớn của ngành gỗ là đồ dùng trong nhà, chiếm hơn 70% kim ngạch
xuất khẩu. Hầu hết hoạt động sản xuất đồ dùng làm từ gỗ tập trung ở các tỉnh khu vực phía

thấp. Sản phẩm từ lụa và cotton là các nguồn thu nhập chính. Khăn tay làm từ cotton (ở Thái
Bình, Hà Tây, Nam Định…), sản phẩm dùng trong nhà tắm và nhà bếp làm từ các nguyên liệu
dệt khác (Ninh Bình, Hà Tây…) là một số những sản phẩm dệt có tiềm năng xuất khẩu cao
nhất. Tuy nhiên, hầu hết các nguyên liệu cotton thô đều phải nhập khẩu.
Nhóm khác gồm có các dân tộc thiểu số sống ở các khu vực miền núi sử dụng các khung cửi
và một số nguyên liệu đặc biệt và nhuộm màu tự nhiên. Đây là các nhóm sản phẩm có tiềm
năng phát triển rất tốt nếu chúng ta phát triển các thị trường ngách cũng như tập trung vào thị
trường thương mại bình đẳng.
Do những khó khăn về nguồn nguyên liệu thô, các nhà sản xuất đang ngày càng sử dụng các
nguyên liệu thô nhập khẩu giá rẻ, điều này sẽ làm giảm chất lượng các sản phẩm. Đối với các
sản phẩm dệt và các sản phẩm của người thiểu số định hướng để xuất khẩu, điều vô cùng quan
trọng quyết định đến thành công là sự sẵn có của nguyên liệu thô chất lượng cao, cải thiện
chất lượng và phát triển thị trường.
Kim khí mỹ nghệ
Các vật phẩm dùng để trang trí và sản phẩm quà tặng làm từ kim loại như tượng nhỏ, đồ trang
sức, chuông, chiêng và khung tranh. Trong số những sản phẩm này, các vật dụng như đồ mạ
bạc, đồ đồng chế tác và đồ đúc bằng đồng thiếc được xuất khẩu.
Gần đây, sản phẩm chế tác đồng đã tăng mạnh về kim ngạch xuất khẩu, đặc biệt do sự kết hợp
giữa sản phẩm đồng chế tác với các nguyên liệu tự nhiên khác như mây, bèo tây và các
8
Chiến lược Xuất khẩu Quốc gia ngành Thủ công Mỹ nghệ Việt Nam
nguyên liệu khác. Trên cơ sở kết hợp nguyên liệu này, có thể tạo ra nhiều loại sản phẩm đa
dạng trong thời điểm hiện nay.
Giấy thủ công

Hoạt động sản xuất giấy thủ công gần như đã biến mất ở Việt Nam trong các năm gần đây
mặc dù nó có lịch sử phát triển hàng nghìn năm. Nguyên liệu được sử dụng để sản xuất giấy
này rất phổ biến, từ gỗ (Dó, dướng) tới các sợi của chuối, dứa hay rơm, bên cạnh đó, có rất
nhiều các nghệ nhân có tay nghề cao trong sản xuất giấy.
Ngành giấy thủ công phát triển mạnh ở một số nước như Thái Lan, Nê-pan, Nhật Bản và Bờ-

thuật và khách hàng của họ thường là khách du lịch nước ngoài. Một số người trong số họ đã
xuất khẩu thông qua những đơn hàng lẻ.
Các tác phẩm nghệ thuật chỉ chiếm chưa đến 1% kim ngạch xuất khẩu liên quan đến ngành và
có xu hướng giảm đi trong các năm gần đây.
Các sản phẩm thủ công khác
Cái gọi là những sản phẩm thủ công mỹ nghệ “khác” ở đây gồm có nhiều loại vật phẩm từ
nến, sản phẩm dùng cho Giáng sinh, hoa giả, quả khô tới bộ gõ (như trống, kèn xắc-xô-phôn,
chũm choẹ, catanhet), búp bê, đồ chơi…
Sản phẩm trang sức chiếm hơn 50% tổng kim ngạch xuất khẩu của nhóm này. Đồ chơi đứng
thứ hai với 20% kim ngạch xuất khẩu. Xuất khẩu nến chiếm 7 triệu đôla Mỹ vào năm 2003.
Trừ đồ trang sức, hoạt động sản xuất các sản phẩm thủ công mỹ nghệ khác đều rất kém phát
triển.
2.2 Chuỗi giá trị hiện nay của ngành.
Tất cả các nhóm ngành chính về gỗ, mây/tre/cói, gốm, dệt, thêu và sơn mài thông thường
được sản xuất thông qua các hộ gia đình nhỏ trong làng nghề. Mô hình về chuỗi giá trị của
những tiểu ngành khác nhau đều tương đồng và có thể tóm tắt theo sơ đồ sau đây:
Nguyên liệu thô hoặc là được sản xuất trong nước hoặc nhập khẩu. Các nhóm nguyên liệu
như mây, tre, cói, chạm khắc gỗ, gốm…, thường được các cá nhân hoặc các hộ sản xuất đơn
lẻ trực tiếp khai thác và thu hoạch từ các khu rừng lân cận ở địa phương hoặc ở các tỉnh khác
trong nước. Sau đó, họ bán nguyên liệu này cho những người thu gom với giá rất thấp để kiếm
sống hàng ngày.
Đối với các sản phẩm khác như dệt và thêu, hầu hết nguyên liệu thô gồm có vải hoặc chỉ được
nhập khẩu do nguyên liệu sẵn có trong nước chất lượng thấp. Tơ Việt Nam có chất lượng tốt
nhưng kỹ thuật nhuộm lại không đảm bảo.
10
Chiến lược Xuất khẩu Quốc gia ngành Thủ công Mỹ nghệ Việt Nam
Những nhà thu gom nguyên liệu thu thập nguyên liệu thô từ những nhà sản xuất nguyên
liệu, tiến hành phân loại cơ bản xong rồi họ vận chuyển nguyên liệu tới các nhà bán buôn ở
các tỉnh. Nhiều khâu trung gian tham gia vào mạng lưới này làm cho kênh nguyên liệu thô trở
nên phức tạp và làm nâng giá mặt bằng sản xuất.

Các nhà cung cấp máy móc hiện tại không có vai trò lớn do trang thiết sử dụng trong ngành
thủ công mỹ nghệ rất đơn giản, chỉ bao gồm lò nung gốm, máy sấy, máy tiện, máy nặn, máy
11
Chiến lược Xuất khẩu Quốc gia ngành Thủ công Mỹ nghệ Việt Nam
may nhỏ, máy khoan, thiết bị phun dùng cho sản xuất đồ nội thất hoặc máy may cho sản phẩm
dệt,…
Các nhà xuất khẩu tìm kiếm nguồn hàng từ các nhà sản xuất ở các làng nghề, các nhà thu
gom sản phẩm hoặc các nhà kinh doanh sản phẩm này ở nông thôn. Hầu hết các đơn hàng
thực hiện theo hình thức hợp đồng phụ (subcontract) với các nhà sản xuất. Trong một số
trường hợp, các nhà xuất khẩu cũng cung cấp cho các nhà sản xuất ở các làng nghề nguyên
liệu thô hoặc những cấu phần được làm sẵn.
Một phần của hoạt động sản xuất đang ngày càng có xu hướng được thực hiện tại nhà máy của
các nhà xuất khẩu (sản phẩm cần những kỹ năng hoặc trang thiết bị đặc biệt, khâu hoàn thiện
sản phẩm, sản xuất những cấu phần làm sẵn cho những thợ dệt và thợ gốm đòi hỏi công nghệ
hiện đại) với lực lượng lao động gồm vài trăm, thậm chí hàng ngàn người.
Trước đây, các nhà xuất khẩu hàng thủ công ở một số thành phố chính và các tỉnh khác hầu
như đều là những doanh nghiệp nhà nước. Vài năm trở lại đây, có sự gia tăng nhanh chóng về
số lượng các công ty trách nhiệm hữu hạn tư nhân hoạt động kinh doanh rất thành công và
đang cạnh tranh mạnh với các doanh nghiệp quốc doanh. Các nhà xuất khẩu khu vực tư nhân
có tầm quan trọng ngày càng tăng.
Một cuộc khảo sát gần đây đã có được số liệu về tổng số các nhà xuất khẩu hàng thủ công ở
Việt Nam là 1.120
1
Các nhà nhập khẩu hầu hết là những nhà bán buôn ở Châu Âu, Châu Á hoặc Châu Mỹ, các
cửa hàng lớn ở nước ngoài và những chuỗi bán lẻ mua trực tiếp từ các nhà sản xuất hoặc xuất
khẩu của Việt Nam. Một số khách hàng quốc tế có đại lý hoặc văn phòng đại diện ở Việt Nam
để tìm kiếm các sản phẩm thủ công. Một vài người trong số họ là những doanh nghiệp lớn có
thương hiệu nổi tiếng trên thế giới. Những công ty nước ngoài này có vai trò quan trọng trên
thị trường và họ mua với số lượng lớn.
Toàn bộ khối lượng xuất khẩu hàng thủ công Việt Nam hiện nay phụ thuộc lớn vào một số rất

thông qua hai sản phẩm cụ thể
2

Giá của các bên liên quan (Việt Nam) & tỉ lệ tăng giá
Nhà sản
xuất
(các) nhà
thu gom
Thương gia
trong nước
Nhà xuất
khẩu
Nhà bán lẻ
nước ngoài
Nệm cói
Ø50 x h4.5 cm
26.000 29.200 36.400 396.250
12% 24% 988%
Giá của các bên liên quan (Việt Nam) & tỉ lệ tăng giá
Nhà sản
xuất
(các) nhà
thu gom
Thương gia
trong nước
Nhà xuất
khẩu
Nhà bán lẻ
nước ngoài
Thảm cói

6 Khác 15.207 13.869 9.192 5.344 5.069 3.477
3 HS:'57' H -9% -34% -42% -5% -31%
- Tổng 331.629 368.551 394.311 409.902 456.245 533.098
11% 7% 4% 11% 17%
Tuy nhiên nếu áp chuẩn HS của UNESCO và dựa vào kết quả thống kê của các HS này do
Tổng cục Thống kê công bố thì kim ngạch xuất khẩu của Việt nam cao hơn rất nhiều và đạt
952 triệu đôla Mỹ vào năm 2003, số liệu này gấp hai lần con số do cơ quan thống kê đưa ra.
Bảng 2: Xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ từ Việt Nam giai đoạn 1999-2003 (mã HS theo
cách xác định của UNESCO)
4
Mô tả
Năm (theo 1.000 đôla Mỹ)
1999 2000 2001 2002 2003
Tổng
(5 năm)
1 Hàng thủ công làm từ gỗ 152.152 157.527 213.703 209.711 384.140 1.117.233
2 Dệt 113.460 126.766 141.021 168.970 162.862 713.080
3 Gốm 67.414 108.393 116.715 120.002 132.829 545.353
4 Mây, tre, cói, lá 62.499 78.730 95.878 113.379 142.673 493.158
5 Mỹ nghệ làm từ kim loại 2.723 1.020 4.850 8.836 19.029 36.459
6
Các sản phẩm nghệ thuật từ
đá, xương, sừng, thuỷ tinh 3.901 1.140 2.378 5.893 9.453 22.764
3
Nguồn: Tổng cục Thống kê Việt Nam
4
Nguồn: Đánh giá tiềm năng xuất khẩu của ngành thủ công mỹ nghệ ở Việt Nam, Trung tâm Nghiên cứu, Hỗ
trợ và Phát triển làng nghề truyền thống Việt Nam t
14
Chiến lược Xuất khẩu Quốc gia ngành Thủ công Mỹ nghệ Việt Nam

Tỉ lệ tăng trưởng của ngành hàng năm trong cả hai phương thức thống kê đều giống nhau (tỉ lệ
tăng trưởng trung bình hàng năm là 10-12% trong thời kỳ 1999-2003/2004). Có 04 nhóm hàng
có ưu thế và chiếm khoảng 90% kim ngạch xuất khẩu hàng thủ công gồm:
 Các sản phẩm gỗ
 Mây/tre/cói/lá
 Gốm
 Dệt/thêu.
Nhìn chung, thị trường quốc tế của hàng thủ công mỹ nghệ Việt Nam đã thay đổi nhiều trong
vài thập kỷ gần đây. Trong khi hàng thủ công truyền thống của Việt Nam như hàng dệt lụa
15
Chiến lược Xuất khẩu Quốc gia ngành Thủ công Mỹ nghệ Việt Nam
hay nghề chế tác bạc hầu hết vẫn được xuất khẩu sang các nước láng giềng như Lào, Capuchia
và Thái Lan thì các sản phẩm thủ công hiện thời của Việt Nam hầu hết đang được bán trên thị
trường thế giới.
Năm 2003, hàng thủ công của Việt Nam được xuất khẩu sang 133 nước khác nhau (so với 50
nước năm 1998). Hiện tại, 03 thị trường lớn của xuất khẩu hàng thủ công từ Việt Nam là EU,
các nước Đông Nam Á và Hoa Kỳ).
Thậm chí nếu Nhật Bản có xếp thứ nhất trong số những thị trường xuất khẩu mục tiêu lớn thì
Liên minh châu Âu vẫn là thị trường có tầm quan trọng nhất. Năm 2003, trong số 15 thị
trường xuất khẩu mục tiêu chính của hàng thủ công Việt Nam thì 07 nước của EU chiếm khối
lượng xuất khẩu là 404.702 triệu đô la (43% của tất cả sản phẩm xuất khẩu và gấp 03 lần
lượng xuất khẩu sang Nhật bản hay Hoa Kỳ).
Cần nhấn mạnh rằng, Hoa Kỳ là thị trường đã được xem là có sức tăng trưởng ấn tượng trong
thời kỳ 1999-2003 và thị trường này cũng vẫn còn nhiều tiềm năng tăng trưởng trong tương
lai.
Bảng 3: Thị trường xuất khẩu chính của thủ công mỹ nghệ Việt Nam (mã HS theo cách xác
định của UNESCO)
5
ST
T Nước/vùng lãnh thổ 1999

Nguồn: Đánh giá tiềm năng xuất khẩu của thủ công mỹ nghệ ở Việt Nam, Trung tâm Nghiên cứu, Hỗ trợ và
Phát triển Làng nghề truyền thống Việt Nam.P
16
Chiến lược Xuất khẩu Quốc gia ngành Thủ công Mỹ nghệ Việt Nam
Tổng 466.413 551.820 662.200 720.625 952.215 3.353.273
Đối với Liên minh Châu Âu, Việt Nam là nhà cung cấp có tầm quan trọng thứ hai về đồ gốm
và các sản phẩm bằng nguyên liệu mây tre. Đặc biệt, hoạt động nhập khẩu sản phẩm này gia
tăng nhanh chóng trong một số năm gần đây, tăng thị phần ở Châu Âu từ 7,5 – 11% chỉ trong
01 năm từ 2003 – 2004.
Bảng 4: Các nhà cung cấp hàng đầu về đồ dùng trong nhà và hàng quà tặng sang thị trường EU
6
.
Nhóm sản phẩm
Phần trăm của nhập
khẩu từ các nước
đang phát triển vào
EU năm 2004
Các nhà cung cấp hàng đầu ở các nước đang phát triển vào
EU năm 2004
Nến 30,1% Trung Quốc (27,8%), Thái Lan (0,7%), Ấn độ (0,3%), In-đô-nê-
xi-a
(0,2%), Nam Phi (0,2%)
Đồ gỗ 54,4% Trung Quốc (34,9%), In-đô-nê-xi-a (5,3%), Thái Lan (5.0%),
Ấn Độ
(3.7%), Việt Nam (1,2%), Nam Phi (0,3%), Brazil (0,2%), Ken-
ya (0,2%)
Sản phẩm làm
từ liễu
80,5% Trung Quốc (54,8%), Việt Nam (11,0%), In-đô-nê-xi-a (7,1%),
Phi-lip-pin (2,7%), Madagascar (1,1%), Ma-rốc (0,8%), Myan-

Sự sẵn có của nguồn nguyên liệu phù hợp và đủ điều kiện.
 Việt Nam có nguồn nguyên liệu thô lớn và đa dạng, phục vụ hoạt động sản xuất cho xuất
khẩu hàng thủ công, đặc biệt là mây, tre, lá…
 Mặt khác, nhu cầu ngày càng tăng đối với hàng xuất khẩu của Việt Nam đã dẫn đến tình
trạng một số loại mây và tre đã trở nên khan hiếm. Chẳng hạn như ở tỉnh Thanh Hoá, giá
của nguyên liệu tre đã tăng lên từ 7.000 tới 17.000 đồng một cây chỉ trong vòng 02 năm
gần đây. Giá của nguyên liệu thô cao hơn của Trung Quốc, điều này làm giảm đáng kể khả
năng cạnh tranh. Việt Nam bắt đầu nhập khẩu tre từ Trung Quốc và khoảng 50% mây
đựoc nhập khẩu cả hợp pháp và bất hợp pháp từ Lào, Campuchia và In-đô-nê-xi-a. Trong
trường hợp chưa có động thái thích hợp nào được thực hiện, hy vọng là sự thiếu hụt
nghiêm trọng về nguồn nguyên liệu thô chỉ diễn ra trong khoảng thời gian từ 3-5 năm.
Điều quan trọng cần thực hiện là phải làm sao tổ chức thực sự hiệu quả chuỗi cung ứng
nguyên liệu thô.
 Việc không có sẵn nguyên liệu thô giá rẻ cũng là một vấn đề của các tiểu ngành khác. Vải
có chất lượng dùng cho ngành thêu hầu như phải nhập khẩu hoàn toàn dẫn tới tình trạng
chi phí cho nguyên liệu thô chiếm đến 60-80% chi phí sản xuất. Chi phí nhập khẩu sợi
visco cao tạo ra mối đe doạ cho các ngành dệt khác. Không có sẵn các nguyên liệu đất sét
phù hợp, không thể sản xuất ra những sản phẩm gốm chất lượng cao, phục vụ nhu cầu của
thị trường thế giới.
 Nhìn chung, tình trạng đang ngày càng u ám của nguồn nguyên liệu thô đã trở thành mối
nguy cơ lớn của các nhà sản xuất của Việt Nam.
Lực lượng lao động có kỹ năng
 Việt Nam có lực lượng lao động lành nghề, có kỹ năng tốt trong ngành thủ công, họ có
khả năng tiếp thu những công nghệ mới một cách nhanh chóng và sản xuất ra các loại sản
phẩm đa dạng.
 Kỹ năng điêu luyện của lực lượng lao động tại các làng nghề cho phép họ có thể sản xuất
ra sản phẩm thủ công với sự kết hợp từ rất nhiều loại nguyên liệu.
Quy mô sản phẩm
 Xuất khẩu hàng thủ công của Việt Nam chủ yếu được thực hiện ở 04 tiểu ngành chính: Đồ
gỗ, mây/tre/cói/lá, đồ gốm, dệt/thêu.

 Việt Nam đang thúc đẩy khả năng xuất khẩu hàng thủ công để đáp ứng được yêu cầu từ
những chuỗi bán lẻ và các nhà nhập khẩu lớn của thế giới với những số lượng theo yêu
cầu.
 Sự nhanh chóng là một nhân tố quyết định thành công. Trung Quốc vẫn vượt trội hơn về
cách tổ chức và khả năng chuyển giao hàng nhanh chóng.
Độ tin cậy của việc cung cấp
 Các nhà xuất khẩu của Việt Nam đã tạo dựng được danh tiếng với vai trò là những nhà
cung ứng sản phẩm hoàn toàn đáng tin cậy.
Hệ thống phân phối
 Nhiều nhà trung gian hoạt động giữa các làng nghề và các thị trường ở đô thị trong chuỗi
19
Chiến lược Xuất khẩu Quốc gia ngành Thủ công Mỹ nghệ Việt Nam
phân phối sản phẩm. Do thiếu thông tin thị trường nên không thể thực hiện được việc xác
định mức giá phù hợp và cải tiến chất lượng, điều này ảnh hưởng không tốt đến năng lực
cạnh tranh. Do đó, cần phải thiết lập hệ thống phân phối hợp lý trong đó các nhà phân phối
hoạt động như những nhà cung cấp dịch vụ phát triển kinh doanh (BDS).
Đổi mới và thiết kế sản phẩm.
 Ước tính có 90% sản xuất của Việt Nam dựa trên những chi tiết kỹ thuật của khách hàng
cung cấp. Do đó, có ít sự đổi mới và phát triển sản phẩm theo đúng nghĩa là những sáng
kiến của riêng ngành, các nhà xuất khẩu chưa có năng lực thiết kế.
 Sản phẩm thủ công của Việt Nam đều có vẻ bề ngoài khá giống nhau. Việt Nam chưa có
sự hỗ trợ của hoạt động nghiên cứu và phát triển cho sản xuất hàng thủ công.
 Tiềm năng thị trường cho các nước Hoa Kỳ, EU và Nhật Bản về các nhà cung cấp sản
phẩm với số lượng lớn và giá rẻ sẽ hạn chế hơn khi toàn bộ chuỗi phân phối đạt được mức
chất lượng cao hơn, sản phẩm được thiết kế với mẫu mã đẹp hơn. Hiện tại, các nhà cung
cấp sản phẩm của Việt Nam đang cạnh tranh hoàn toàn dựa vào mức giá thấp nhất của
mình và vẫn đang chịu sự lép vế so với các nhà máy của Trung Quốc. Để có thể cung cấp
sang thị trường cao cấp hơn, các nhà sản xuất cần phải nâng cao năng lực về thiết kế, chất
lượng, hoàn thiện về kỹ thuật và luôn luôn dẫn đầu về các xu thế tiêu dùng và thiết kế hiện
hành. Có tiềm năng xuất khẩu lớn và dài hạn cho các doanh nghiệp quy mô vừa trong việc

Phát triển cụm liên kết (Các ngành phụ trợ)
 Các ngành phụ trợ đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao năng lực cạnh tranh cho
ngành thủ công ở Việt Nam. Tuy nhiên, khi các ngành phụ trợ hiện nay của Việt Nam
chưa thực sự phát triển, các nhà xuất khẩu hàng thủ công của Việt Nam thường phải nhập
khẩu rất nhiều loại nguyên liệu và phụ liệu từ nước ngoài, ví dụ như sơn mài PU và chất
nhuộm màu để thực hiện các khâu hoàn thiện bề mặt của sản phẩm.
Cơ sở hạ tầng
 So với Trung Quốc, các nhà xuất khẩu của Việt Nam phải chịu chi phí vận chuyển ra nước
ngoài khá cao đối với cả đường hàng không và đường biển. Những phát hiện gần đây từ
trường Đại học Georgetown, Mỹ về cước vận chuyển đường biển từ Trung Quốc và Việt
Nam sang các nước cho biết “Vận chuyển 50 côngtenơ từ Việt Nam sang các nước với
mức cước vận chuyển đường biển là 322.000 đôla Mỹ và thời gian vận chuyển là từ 17-35
ngày, trong khi đó Trung Quốc với hoạt động tương tự nhưng ở mức 136.000 đôla Mỹ và
trong 11 ngày”
 Các nhà nhập khẩu quốc tế cho rằng có từ 10-30% trợ cấp kín cho các nhà xuất khẩu của
Trung Quốc.
 Cơ sợ hạ tầng về đường xá còn yếu kém.
Tiêu chí về trách nhiệm xã hội
 Khả năng đáp ứng Tiêu chí về Trách nhiệm xã hội (CSR) đang ngày càng trở thành nhân
tố quyết định tới thành công - dưới dạng những vấn đề thuộc về sinh thái.
 Việt Nam đang được kỳ vọng sẽ thành công về khả năng cạnh tranh lớn đối với Trung
Quốc nếu ngành thủ công mỹ nghệ có khả năng sắp xếp hợp lý hệ thống sản xuất.
Trên thị trường quốc tế, các đối thủ cạnh tranh quan trọng nhất của Việt Nam đối với hàng thủ
công là Trung Quốc, Thái Lan, Phi-lip-pin, In-đô-nê-xi-a và Ấn Độ.
2.5 Năng lực cạnh tranh quốc tế.
21
Chiến lược Xuất khẩu Quốc gia ngành Thủ công Mỹ nghệ Việt Nam
Dựa trên những nhân tố quyết định đến thành công, khả
năng cạnh tranh của Việt Nam đối với những nước này
được thể hiện vắn tắt như sau:

cho Việt Nam rất dễ bị tác động khi có khả năng đứng đầu về xu thế thị trường thế giới.
Những đối thủ cạnh tranh chính đã triển khai một cơ sở sản phẩm đa dạng hơn phục vụ
nhu cầu của khách hàng quốc tế.
 Hiện tại, năng lực cạnh tranh của Việt Nam chủ yếu dựa vào các sản phẩm từ gỗ, mây/tre/
cói/lá và đồ gốm được sản xuất bằng lực lượng lao động rẻ và hiệu quả (sản xuất ở các
làng nghề rẻ hơn so với sản xuất ở nhà máy) và sự sẵn có của nguyên liệu thô.
 Trên thực tế, sản phẩm gỗ, mây/tre/liễu và đồ gốm không những không thể mang lại nhiều
lợi nhuận về thương mại trên thị trường quốc tế mà nó còn có thể tạo ra nguy cơ lớn cho
ngành. Do đó, việc nâng cao chất lượng và đa dạng hoá sản phẩm là rất cần thiết.
22
Tông quan về các nhân tố được lựa
chọn, có khả năng quyết định thành
công
 Sự sẵn có của nguồn nguyên liệu
thô +/-
 Lực lượng lao động có kỹ năng +
 Quy mô sản phẩm -
 Chi phí sản xuất ++
 Chất lượng sản phẩm +
 Cam kết số lượng +
 Độ tin cậy +
 Đổi mới/thiết kế sản phẩm --
 Khuôn khổ xúc tiến
thương mại -
 Kỹ năng kinh doanh +/-
 Cơ sở hạ tầng +/-
 Các tiêu chí CRS +
Chiến lược Xuất khẩu Quốc gia ngành Thủ công Mỹ nghệ Việt Nam
3 Các điều kiện về khung chính sách
3.1 Chính sách của nhà nước đối với ngành

(MOCI)
Nghị định số 134/2004/NĐ-CP ngày 09 tháng 6 năm 2004 về khuyến khích các
ngành ở nông thôn
Chính phủ
Thông tư số65/2004/TTLT/BTC-BLDTBXH ngày 02 tháng 7 năm 2004 hướng
dẫn về hỗ trợ đào tạo nghề thủ công ở các vùng nông thôn
Bộ Tài chính và Bộ Lao
động, Thương binh và Xã
hội
Quyết định số184/2004/QĐ-TTg ngày 22 tháng 10 năm 2004 về sử dụng tín
dụng dành cho phát triển của nhà nước để nâng cấp cơ sở hạ tầng ở các làng
nghề cho giai đoạn 2006-2010
Thủ tướng
Thông tư số 03/2005/TT-BCN ngày 23 tháng 6 năm 2005 hướng dẫn về hoạt
động khuyến khích các ngành thủ công nông thôn
Bộ Công nghiệp
Quyết định số 910 QĐ/BNN-CB ngày 31 tháng 03 năm 2006 về kế hoạch phát
triển nghề thủ công nông thôn đến năm 2010
Bộ Nông nghiệp và phát
triển nông thôn
Nghị định 66/2006/NĐ-CP ngày 07 tháng 7 năm 2006 về phát triển ngành thủ
công nông thôn.
Chính phủ
Theo những nghị định, quyết định và thông tư ở trên thì:
 Nhà nước sẽ khuyến khích, tạo điều kiện thuận lợi và thông qua những chính sách bảo vệ
lợi ích hợp pháp cho hoạt động sản xuất và kinh doanh hàng thủ công nông thôn, đặc biệt
là các hoạt động kinh doanh truyền thống nhằm đáp ứng nhu cầu xuất khẩu và tiêu thụ
trong nước, thu hút nguồn lao động và góp phần tạo công ăn việc làm ở nông thôn, xoá đói
giảm nghèo, bảo tồn và thúc đẩy các giá trị văn hoá của dân tộc.
23

chuẩn của sản phẩm theo các yêu cầu của thị trường trong nước và nước ngoài.
 Cơ sở kinh doanh hàng thủ công nông thôn được giảm 50% hoặc hơn thế về phí thuê mặt
bằng khi tham gia trưng bày tại hội trợ và triển lãm sản phẩm trong nước.
 Cơ sở kinh doanh hàng thủ công nông thôn có thể liên doanh và hợp tác với các tổ chức và
cá nhân trong và ngoài nước về hoạt động sản xuất và bán sản phẩm.
 Bộ Thương mại sẽ trực tiếp điều hành các thương vụ ở nước ngoài khai thác thị trường
của nước chủ nhà, giới thiệu họ với các cơ sở kinh doanh hàng thủ công trong nước
 Bộ Khoa học, Công nghệ và Môi trường sẽ tổ chức, hướng dẫn và cung cấp những nguồn
quỹ cần thiết trong kế hoạch hàng năm dành cho nghiên cứu và đổi mới công nghệ, nâng
cao kỹ năng thiết kế và sử dụng các nguồn nguyên liệu thô trong nước, chỉ dẫn áp dụng
các công nghệ thích hợp nhằm nâng cao năng suất lao động; giảm chi phí, đa dạng sản
phẩm, tăng giá trị thẩm mỹ và sự tinh xảo của sản phẩm do các làng nghề sản xuất; nghiên
cứu và chuyển giao công nghệ xử lý rác thải, chấm dứt tình trạng ô nhiễm môi trường do
các ngành nghề ở nông thôn gây ra.
 Đối với lao động, sẽ có sự ưu tiên dành cho đào tạo và sử dụng người lao động là thành
24
Chiến lược Xuất khẩu Quốc gia ngành Thủ công Mỹ nghệ Việt Nam
viên của những hộ gia đình có đất đai thuộc diện quy hoạch của nhà nước phục vụ cho
công tác phát triển ngành nghề nông thôn và người lao động địa phương.
 Đố với đào tạo, bản thân người thợ thủ công có thể tổ chức truyền nghề của mình và thu
phí từ những học viên theo nguyên tắc hai bên cùng thoả thuận và hoạt động này được
miễn thuế; thợ thủ công, hợp tác xã, tổ chức và các hiệp hội sẽ được khuyến khích thực
hiện việc truyền nghề và các khoá đào tạo cho người lao động; các trường đào tạo nghề
của nhà nước sẽ ưu tiên cho hoạt động đào tạo nghề của các cơ sở kinh doanh hàng thủ
công nông nông; mỗi huyện có thể thiết lập một trung tâm đào tạo nghề, đặc biệt là nghề
truyền thống ở địa phương. Chính phủ sẽ hỗ trợ 200.000 đ/học viên/tháng trong suốt thời
gian đào tạo.
Không chỉ được hưởng lợi ích từ những chính sách trên, các cơ sở kinh doanh hàng thủ công
nông thôn cũng sẽ được hưởng những ưu đãi về đầu tư theo Nghị định số 51/1999/NĐ-CP
ngày 08 tháng 7 năm 1999 quy định về việc thực hiện Luật Xúc tiến Đầu tư trong nước số

Chính phủ
Quyết định số 71/2005/QĐ-TTg ngày 5 tháng 04 năm 2005 về cơ chế
quản lý và thực hiện vốn vay từ Quỹ trong nước dành cho việc tạo công
ăn việc làm
Thủ Tướng
Quyết định số 108/2006/QĐ-TTg về thiết lập Ngân hàng Phát triển Việt
nam
Thủ Tướng
Xúc tiến
Xuất khẩu
Quyết định số 195/1999/QĐ-TTg ngày 27 tháng 9 năm 1999 về Thiết lập
Quỹ hỗ trợ xuất khẩu.
Thủ Tướng
Quyết định số 02/2001/QĐ-TTg ngày 02 tháng 01 năm 2001 về những
Chính sách hỗ trợ đầu tư từ Quỹ Hỗ trợ phát triển cho các dự án chế biến
xuất khẩu.
Bộ Kế hoạch và
Đầu tư
Quyết định số 133/2001 ngày 10 tháng 9 năm 2001về thúc đẩy Quy chế
đối với tín dụng hỗ trợ xuất khẩu.
Thủ tướng
Thông tư số 76/2001/TT-BTC ngày 25 tháng 9 năm 2001 Hướng dẫn về
Quy chế đối với tín dụng xuất khẩu.
Bộ Tài chính
Quyết định số 279/2005/QĐ-TTg ngày 03 tháng 11 năm 2005 Ban hành
Quy chế xây dựng và thực hiện Chương trình Xúc tiến Thương mại
Quốc gia giai đoạn 2006-2010
Thủ tướng
25


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status