- 1 -
KHẢO SÁT VẤN ĐỀ LAO ĐỘNG
TRONG NGÀNH CÔNG NGHIỆP CHẾ BIẾN
THỦY SẢN KHÁNH HÒA
NHỮNG CHỮ VIẾT TẮT
STT VIẾT TẮT NỘI DUNG
1 VCCI Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam
2 VCCI Khánh Hòa VPĐD Phòng Thương mại và CNVN tại Khánh Hòa
3 ILO Tổ chức lao động quốc tế
4 DNCBTS Doanh nghiệp chế biến thủy sản
5 CBTS Chế biến thủy sản
6 KCN Khu công nghiệp
7 DNNN Doanh nghiệp Nhà nước
8 DNTN Doanh nghiệp tư nhân
9 DNFDI Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài
10 NSDLĐ Người sử dụng lao động
11 NLĐ Người lao động
12 QHLĐ Quan hệ lao động
13 ATVSLĐ An toàn vệ sinh lao động
14 BHXH Bảo hiểm xã hội
15 BHYT Bảo hiểm y tế
16 BHTN Bảo hiểm thất nghiệp
MỞ ĐẦU
Thực hiện đường lối đổi mới của Đảng, trong những năm qua, nền kinh tế nước ta liên
tục tăng trưởng cao, vốn đầu tư trong nước và nước ngoài tăng nhanh, cơ cấu kinh tế và cơ
cấu lao động chuyển dịch theo hướng tích cực, hàng năm tạo việc làm cho hàng triệu lao
- 2 -
động, thu nhập và đời sống của NLĐ trong các doanh nghiệp được cải thiện, từng bước hình
thành QHLĐ lành mạnh trong doanh nghiệp, xuất hiện nhiều mô hình, nhiều doanh nghiệp
có QHLĐ tốt.
Đạt được kết quả trên là do thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa
và các chính sách lao động khác trong doanh nghiệp. Nhóm tác giả đã tiến hành cuộc khảo
sát điều tra sâu 15 doanh nghiệp đang hoạt động trong lĩnh vực CBTS tại tỉnh Khánh Hòa.
Kết quả của cuộc điều tra đã phản ánh phần nào tình hình chung của môi trường QHLĐ hiện
tại, những khó khăn vướng mắc mà các doanh nghiệp đang gặp phải. Luận văn cũng hi vọng
những kiến nghị được đưa ra trong báo cáo nghiên cứu này sẽ góp phần tác động tích cực tới
quá trình xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật và chính sách của Chính phủ về lao
động.
- 4 -
Chương 1
GIỚI THIỆU CHUNG
I. Tổng quan về nội dung và phương pháp nghiên cứu :
- 5 -
1. Cơ sở nghiên cứu :
Cuộc khảo sát nhằm tìm hiểu thực trạng và những thách thức mà các DNCBTS Khánh
Hòa đang phải đối mặt về tiền lương, tuyển dụng, đào tạo, sa thải, QHLĐ và khả năng liên
kết giữa doanh nghiệp với các tổ chức đại diện NSDLĐ. Thông tin thu thập từ cuộc khảo sát
sẽ được sử dụng làm cơ sở để VCCI báo cáo tham mưu Chính phủ về các vấn đề lao động
trong trong ngành thủy sản nói riêng từ góc độ quan điểm của người chủ sử dụng lao động,
đồng thời giúp xây dựng định hướng hợp tác của VCCI với cộng đồng doanh nghiệp nói
chung trong tương lai.
Cuộc khảo sát được tiến hành tại tỉnh Khánh Hòa, bao gồm : KCN Suối Dầu ( Cam
Lâm ), KCN Bình Tân ( Nha Trang ), khu vực Đồng Đế và Lê Hồng Phong ( Nha Trang ),
khu vực ngoại thành Nha Trang ( Lương Sơn, Phước Đồng ). Đây cũng là những nơi có thế
mạnh về thủy sản điển hình của tỉnh, khảo sát được thực hiện trong thời gian từ tháng 5 đến
tháng 6 năm 2010. Khảo sát tập trung vào các DNCBTS Khánh Hòa sử dụng nhiều lao động
thuộc ba khu vực doanh nghiệp: khu vực DNNN, khu vực DNTN và khu vực DNFDI. Có 15
doanh nghiệp được lựa chọn ngẫu nhiên để khảo sát, bao gồm những doanh nghiệp thuộc
các thành phần kinh tế và các địa bàn nói trên tại tỉnh Khánh Hòa..
Các thông tin nằm trong phiếu điều tra doanh nghiệp bao gồm :
• Tiền lương: mức thu nhập (bao gồm lương cơ bản, trợ cấp, phụ cấp, tiền ăn giữa ca
với sự thay đổi về mức lương trung bình, quỹ lương và ưu tiên chi tiêu của doanh
nghiệp.
• Nhu cầu đối với các kỹ năng của lao động và mối liên hệ giữa các cơ sở dạy nghề với
doanh nghiệp.
- 7 -
• Tác động của khủng hoảng kinh tế với quyết định tuyển dụng, sa thải và giữ chân lao
động của doanh nghiệp.
• Quan điểm của doanh nghiệp đối với việc thương lượng và ký kết thoả ước lao động
tập thể.
• Các biện pháp đối thoại và giải quyết tranh chấp lao động giữa NLĐ và NSDLĐ
trong doanh nghiệp từ quan điểm của người quản lý
• Quan điểm của doanh nghiệp đối với một số chính sách tiền lương, lao động của Nhà
nước và những kiến nghị.
3. Câu hỏi nghiên cứu:
Nghiên cứu hướng tới trả lời các câu hỏi sau đây:
• Tác động của khủng hoảng kinh tế toàn cầu đối với vấn đề lao động trong các
DNCBTS Khánh Hòa bao gồm giá nhân công, ưu tiên trong sử dụng và tuyển dụng
lao động ?
• Cách tiếp cận của doanh nghiệp đối với vấn đề QHLĐ như cách đối thoại với NLĐ
và giải quyết khiếu nại của họ, cách ngăn ngừa và giải quyết tranh chấp lao động,
nhận định của NSDLĐ về sự gia tăng các cuộc đình công tự phát gần đây ?
• Hiện trạng và thách thức trong mối liên hệ giữa cơ sở dạy nghề và doanh nghiệp
trong bối cảnh khủng hoảng và thiếu hụt lao động ?
• Quan điểm của DNCBTS Khánh Hòa về các chính sách như tiền lương tối thiểu, phí
công đoàn, BHXH ?
• Cách tốt nhất để VCCI đại diện cho doanh nghiệp là gì?
4. Phương pháp nghiên cứu :
4.1. Nghiên cứu định lượng : khảo sát qua thư 15 doanh nghiệp
• Mục đích : khảo sát định lượng để đo lường mức độ thường xuyên xảy ra của các vấn đề
đã phát hiện trong quá trình nghiên cứu tại bàn và phỏng vấn trực tiếp.
Khánh Hòa ( đại diện cho NLĐ ); và Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam tại
Khánh Hòa ( đại diện cho NSDLĐ ). Cuộc phỏng vấn này nhằm cung cấp thêm một số quan
điểm về lao động và quản lý lao động của các cơ quan hữu quan, đồng thời có ý nghĩa kiểm
tra chéo tính chính xác của những thông tin đã thu thập được từ kết quả khảo sát của các
doanh nghiệp.
Phỏng vấn trực tiếp 15 NLĐ là công nhân nhập cư tại Khánh Hòa
4.3. Một số phương pháp như :
Luận văn sử dụng các phương pháp khoa học hành chính, quản lý Nhà nước và khoa
học pháp lý, phương pháp nghiên cứu tổng quan, phương pháp thu thập, phân tích, tổng hợp,
thống kê …
4.4. Công cụ xử lý thông tin :
Sử dụng trên máy vi tính với phần mềm Word, Excel là chủ yếu và một số công cụ
khác.
II . Khái quát về ngành công nghiệp chế biến thủy sản Khánh Hòa :
Khánh Hòa là tỉnh có ngành CBTS mạnh, kim ngạch xuất khẩu đứng thứ tư so với cả
nước ( sau Cà Mau, Sóc Trăng, Cần Thơ ), kim ngạch xuất khẩu năm 2009 là khoảng 255
triệu USD, chiếm 6,9% tổng kim ngạch xuất khẩu ngành thủy sản Việt Nam.
Tính đến năm 2009, Khánh Hòa đã có 60 xưởng chế biến xuất khẩu; trong đó 33 nhà
máy chế biến đông lạnh, 5 phân xưởng chế biến đồ hộp, 22 cơ sở chế biến thủy sản khô. Các
doanh nghiệp trong ngành ngoài những phân xưởng mới xây dựng, các phân xưởng cũ cũng
đã từng bước nâng cấp nhà xưởng, đầu tư máy móc thiết bị đạt yêu cầu của ngành do Bộ
Thủy sản qui định. Đến năm 2009 đã có 9 nhà máy đông lạnh đạt tiêu chuẩn được cấp Code
xuất khẩu vào thị trường châu Âu. Có 25 nhà máy chế biến đông lạnh, 16 phân xưởng chế
biến thủy sản khô, 4 phân xưởng chế biến đồ hộp được Bộ Thủy sản chứng nhận đạt tiêu
chuẩn ngành.
- 10 -
Trước đây từ chỗ sản phẩm đông lạnh xuất thô thì nay các doanh nghiệp đã tiếp cận
với nhu cầu thị trường, chế biến sản phẩm phục vụ bán hàng trực tiếp cho người tiêu dùng
tại siêu thị. Sản phẩm được cải tiến, đảm bảo chất lượng và mẫu mã đẹp, được các thị
trường khó tính chấp nhận. Các doanh nghiệp đã chịu khó tìm hiểu về mẫu mã, tham dự các
nay. Trong chiến lược xuất khẩu thủy sản Khánh Hòa luôn đánh giá rất cao về tính ổn
định của thị trường này với số lượng nhập khẩu nhiều, giá cả tương đối và đòi hỏi
chất lượng phù hợp. Trước đây thị trường này vẫn được xem là tiêu chuẩn để đánh
giá về trình độ công nghệ và chất lượng sản phẩm của doanh nghiệp. Trong xu
hướng những năm gần đây do sản phẩm xuất khẩu sang thị trường Mỹ, EU…nên sản
lượng và giá trị kim ngạch xuất khẩu có giảm, tuy nhiên trước tình hình chung về các
rào cản kỹ thuật đang đặt ra với Việt Nam như tình hình kiểm tra dư lượng kháng
sinh, đánh thuế tôm Việt Nam khi xuất khẩu vào thị trường Mỹ…thì thị trường Nhật
lại chính là thị trường quan trọng như những năm trước đây.
Thị trường Mỹ : Cùng với sự phát triển hợp tác chung về kinh tế đối ngoại, ngành
Thủy sản Việt Nam nói chung và Khánh Hòa nói riêng đã mở rộng xuất khẩu sang thị
trường Mỹ. Thị trường Mỹ có nhiều triển vọng vì sức mua lớn, giá cả ổn định và cao
hơn một số thị trường khác. Tôm sú, tôm chân trắng, cá ngừ đại dương…là những
mặt hàng chính của Khánh Hòa xuất sang thị trường Mỹ.
Thị trường Đông Nam Á : Là thị trường mang tính truyền thống sau Nhật, kim ngạch
xuất khẩu thủy sản của Khánh Hòa sang thị trường này thường ổn định khoảng
20-25%. Mặt hàng xuất khẩu không đòi hỏi chất lượng cao,chủng loại phong phú, đa
dạng phù hợp với nguồn lợi đánh bắt được, thường là các loại sản phẩm đông lạnh
dạng block, dạng ướp đá, hoặc tươi sống, hàng chế biến khô. Loại hàng này phần lớn
thường được xuất qua các tàu vào nhận hàng tại cảng Nha Trang. Cần tiếp tục duy trì
thị trường này vì nó phù hợp với phần lớn các doanh nghiệp vừa và nhỏ, tiêu thụ
được những loại sản phẩm không xuất khẩu được sang những thị trường khó tính.
- 12 -
Thị trường châu Âu : Đây là thị trường lớn có nhiều triển vọng, là thị trường đòi hỏi
đầu tư công nghệ và chất lượng sản phẩm cao. Mặc dù được xếp vào thị trường khó
tính nhưng giá cả cao, ổn định. Do Việt Nam chưa được xếp vào danh sách nhóm I
( nhóm các nước được phép nhập khẩu vào châu Âu ở cấp cộng đồng ) nên các doanh
nghiệp phải qua thủ thục đăng ký, kiểm tra xét duyệt và được công nhận mới đủ điều
kiện xuất khẩu vào thị trường này. Tuy nhiên nó thể hiện được uy tín của doanh
nghiệp trên thương trường vì khi được Code vào EU thì được phép xuất khẩu vào các
đông thô, kích thước lớn…hoặc có doanh nghiệp do thiếu vốn nên phải mua thiết bị qua sử
dụng ( second hand ).
Bảng 7 : Lao động trong ngành chế biến thủy sản Khánh Hòa
Stt Các chỉ tiêu ĐV
tính
2005 2006 2007 2008
I. Chế biến công
nghiệp, tổ hợp
Tổng số; trong đó Người 15.200 16.500 17.300 18.700
Lao động Nam “ 4.900 5.300 5.800 5.900
Lao động Nữ “ 10.300 11.200 11.500 12.800
Lao động trực tiếp “ 12.700 14.000 14.620 15.450
Lao động gián tiếp “ 2.300 2.500 2.380 2.550
Đại học “ 1.610 1.640 1.680 1.730
Trung cấp “ 128 135 147 158
Công nhân “ 13.462 14.725 15.473 16.712
II. Chế biến hộ gia đình
Tổng số; trong đó Người 2.070 2.140 2.300 2.500
Lao động Nam “ 790 820 850 920
Lao động Nữ “ 1.280 1.320 1.450 1.580
Lao động trực tiếp “
Lao động gián tiếp “ 165 169 180 198
Đại học “ 86 92 98 105
Trung cấp “ 57 65 72 78
Công nhân “ 1.827 1.983 2.130 2.317
- 14 -
( Nguồn : Sở Nông nghiệp & Phát triển nông thôn tỉnh Khánh Hòa )
Chương 2
TIỀN LƯƠNG
Tiền lương là một vấn đề hết sức nhạy cảm và cốt yếu cho mọi doanh nghiệp, vì nó
DNTN với mức 1.608.000 đồng/người/tháng và thấp nhất là DNFDI với mức 1.500.000
đồng/người/tháng. Như vậy thu nhập trung bình của NLĐ trong DNNN cao hơn các DNFDI
tới 30% và mức chênh lệch thu nhập giữa DNTN và DNFDI là 7,2%. Một phần lý do dẫn tới
sự chênh lệch này là các DNNN tham gia khảo sát là các doanh nghiệp có quy mô lớn, có thị
trường ổn định và nguồn vốn khá dồi dào. Đối với DNTN, bên cạnh các doanh nghiệp nhỏ
- 16 -
và vừa, thì còn có các doanh nghiệp khác lớn hơn tham gia phỏng vấn với qui mô hoạt động
và tiềm lực tài chính tương đối vững mạnh như : Công ty TNHH Hải Vương, Công ty CP
Hải sản Nha Trang …và cũng chính những công ty này đã thực sự trả lương cho NLĐ ở
mức cao và tương đối cao so với các doanh nghiệp khác; chính vì vậy đã dẫn đến kết quả
chung về tiền lương của khối DNTN cao hơn khối DNFDI. Ngược lại, đối với các DNFDI
tham gia phỏng vấn đa phần là các doanh nghiệp hoạt động ở qui mô vừa và nhỏ, giá trị các
mặt hàng xuất khẩu chưa cao ( tuy nhiên đây cũng là các DNFDI điển hình của tỉnh Khánh
Hòa ); do vậy các doanh nghiệp này trả lương cho NLĐ phần lớn chỉ ở mức trung bình và
thấp, đặc biệt có doanh nghiệp trả lương thấp nhất, chỉ với 1.200.000 đồng/người/tháng; và
cũng là mức lương thấp nhất trong các doanh nghiệp tham gia khảo sát.
1,950,000
1,608,000
1,500,000
1,625,000
0
200,000
400,000
600,000
800,000
1,000,000
1,200,000
1,400,000
1,600,000
1,800,000
1,000,000
1,500,000
2,000,000
KCN Suối Dầu KCN Bình Tân Nha Trang Ngoại thành
Nha Trang
Địa bàn doanh nghiệp
Đồng
Hầu hết các doanh nghiệp thủy sản trả lương công nhân theo sản phẩm chiếm 80%; còn
lại 20% các doanh nghiệp trả lương theo thời gian. Vì vậy tay nghề của NLĐ sẽ đóng vai trò
quan trọng quyết định mức thu nhập của họ. Theo kết quả phỏng vấn NLĐ, hiện nay có 3
mức thu nhập theo tay nghề:
• Tay nghề cao: trên 2 triệu đồng/người/tháng.
• Tay nghề khá: từ 1,5 đến 2 triệu đồng/người/tháng.
• Tay nghề trung bình: dưới 1,5 triệu đồng/người/tháng.
Khi được hỏi về các khoản chi tiêu hàng tháng như thế nào, NLĐ cho biết trung bình
mỗi tháng họ chi tiêu hết khoảng 1.490.000 đồng; trong đó bao gồm các khoản như : tiền ăn;
- 18 -
tiền thuê nhà, trả điện nước; chi phí đi lại, mua sắm các vật dụng sinh hoạt cơ bản, chi phí
khác…
Bảng 10 : Tỉ lệ % chi tiêu trung bình hàng tháng
của người lao động
Khác , 20%
Mua sắm các vật
dụng SHCB,
10%
Chi phí đi lại,
10%
Thuê nhà, trả
tiền điện nước,
thể dễ dàng dẫn đến sự bùng phát các cuộc đình công trong công nhân. Bên cạnh đó, chỉ có
26,7% NLĐ có đủ phần tích lũy; tuy nhiên những trường hợp này phần lớn là họ thật sự rất
gói ghém trong việc chi tiêu của mình, họ thậm chí tiết kiệm và hạn chế đến mức tối đa các
khoản như mua sắm vật dụng, các chi phí giao tiếp xã hội..ngoài ra một số khác muốn có
tích lũy phải chịu khó làm thêm một số công việc khác ngoài giờ như phụ bán hàng, làm tạp
vụ…Trả lời khảo sát về vấn đề nếu có tích lũy thì NLĐ sẽ dùng vào việc gì, đa phần họ cho
rằng sẽ giúp đỡ và gửi về cho gia đình , một số khác thì để giành, gửi ngân hàng hoặc đầu tư
cho việc học thêm.
II. Thưởng Tết :
- 20 -
Kinh nghiệm trong một số năm gần đây cho thấy ngoài lương và thu nhập hàng
tháng, thưởng Tết cũng là một vấn đề rất được doanh nghiệp và NLĐ quan tâm. Các làn
sóng đình công lớn cũng thường xảy ra vào thời điểm quyết định mức thưởng Tết hàng năm.
Kết quả khảo sát cho thấy trung bình mức thưởng Tết năm 2009 của ngành công nghiệp
CBTS Khánh Hòa đạt 1.841.000 đồng/người. Như vậy mức thưởng Tết cao hơn mức thu
nhập trung bình hàng tháng là 13,3%.
Nếu xét theo khu vực doanh nghiệp, mức thưởng Tết cao nhất là 4.300.000 đồng/người
trong khu vực DNNN. Tiếp theo là khu vực DNFDI với mức 1.750.000 đồng/người và thấp
nhất là DNTN với 1.335.000 đồng/người. Như vậy, mức thưởng Tết của các DNFDI và
DNTN là khoảng trên dưới mức thu nhập trung bình một tháng lương; riêng với DNNN thì
mức thưởng cao hơn hai tháng lương bình quân của NLĐ, mức thưởng này cao hơn 2,46
lần so với DNFDI và 3,22 lần so với DNTN. Số doanh nghiệp trả mức thưởng Tết cao cũng
là những doanh nghiệp có mức thu nhập trung bình của NLĐ thuộc nhóm cao nhất trong các
doanh nghiệp tham gia khảo sát. Nói cách khác các doanh nghiệp đã trả mức lương cao thì
cũng sẵn sàng thưởng Tết ở mức khá cao cho NLĐ. Tuy nhiên, ở đây có sự đổi chiều giữa
DNFDI và DNTN về mức lương và mức thưởng. Có nghĩa là DNTN trả mức lương bình
quân tháng cao hơn DNFDI nhưng mức thưởng tết lại thấp hơn DNFDI.
DNNN
DNTN
DNFDI
đã khơi thông lại các đơn hàng cũ và tìm kiếm thêm được nhiều đơn hàng mới, do vậy các
doanh nghiệp đều có động thái tích cực tăng lương cho NLĐ trong năm 2010.
Bảng 13 : Tỉ lệ % tăng lương của các
doanh nghiệp năm 2010
DNNN, 10%
DNTN, 12.60%
DNFDI, 10%
Trung bình,
11.50%
Cũng liên quan đến quỹ lương của các doanh nghiệp nhưng ở tầm nhìn xa hơn trong
năm 2011, khi được hỏi các doanh nghiệp sẽ có định hướng thế nào về biến động quỹ lương
năm 2011 so với năm 2010 , cũng có dấu hiệu tích cực như trên, 100% các doanh nghiệp
- 22 -
vẫn tin tưởng vào nền kinh tế tăng trưởng vững mạnh, vì vậy vẫn tiếp tục tăng lương trong
năm 2011 so với năm 2010, và mức tăng trung bình là 12,5%.
IV. Ưu tiên chi tiêu của doanh nghiệp năm 2010 :
66.70%
40%
33.30%
6.70%
0.00% 10.00%20.00%30.00%40.00%50.00%60.00%70.00%
Tỉ lệ doanh nghiệp
Tuyển dụng
Tăng lương
Đào tạo
Khác
Bảng 14 : Ưu tiên chi tiêu của doanh nghiệp
năm 2010
Tuyển dụng vẫn là ưu tiên số một của 66,7% doanh nghiệp. Như đã nói ở trên, ngành
lương làm căn cứ tính BHXH, do đó làm tăng đáng kể quỹ lương của doanh nghiệp.
• Làm xáo trôn kế hoạch kinh doanh :: doanh nghiệp bị xáo trộn về mặt thời gian, ảnh
hưởng đến cơ hội kinh doanh của doanh nghiệp, tốn nhiều công việc hành chính cho
việc điều chỉnh lương mới.
• Áp lực lạm phát làm tăng chi phí đầu vào: lương tối thiểu tăng thường tạo nên áp lực
lạm phát làm tăng một số yếu tố đầu vào như chi phí vận chuyển, đi lại, nhiên liệu…
Một số doanh nghiệp cho rằng việc tăng lương tối thiểu 25-30% như hiện nay tạo ra áp
lực rất lớn đặc biệt là các doanh nghiệp vừa và nhỏ, họ chưa có tiềm lực mạnh và tài chính
và các yếu tố khác cũng chưa đủ mạnh. Do đó, nhiều doanh nghiệp cho rằng việc giãn tăng
lương tối thiểu đến hết năm 2010 là một cách thiết thực để hỗ trợ doanh nghiệp vượt qua
khó khăn.
- 24 -
Về thời điểm tăng lương tối thiểu, có 33,3% doanh nghiệp đồng ý tăng lương vào đầu
năm tài chính (đầu năm dương lịch). 13,3% doanh nghiệp thì cho rằng thời điểm điều chỉnh
lương tối thiểu nên vào giữa năm vì đầu năm tài chính rất gần với Tết Nguyên đán. Điều
chỉnh đầu năm sẽ dẫn đến tăng mức thưởng Tết và tạo sự xáo động lớn cho doanh nghiệp
trong một thời gian 3 tháng đầu năm. Tuy nhiên, có tới 53,4% doanh nghiệp cho rằng Nhà
nước cần báo trước về kế hoạch và mức tăng lương tối thiểu ít nhất là 6 tháng để doanh
nghiệp có thời gian chuẩn bị.
Qua quá trình khảo sát, tác giả được biết theo kinh nghiệm của các doanh nghiệp tham
gia xuất khẩu thủy sản Khánh Hòa, họ cho rằng khi Nhà nước chọn thời điểm điều chỉnh
lương tối thiểu phải cân nhắc tới mùa cao điểm ở các thị trường lớn như Hoa kỳ, châu Âu,
Nhật …Tránh việc thông báo điều chỉnh lương mới trùng với mùa cao điểm của các thị
trường nói trên, vì như thế sẽ tạo ra một gánh nặng hành chính không cần thiết cho các
doanh nghiệp xuất khẩu trong khoảng thời gian bận rộn nhất năm.
* Tóm tắt các vấn đề chính trong chương 2 :
Khảo sát về tiền lương cho thấy một số đặc điểm và xu hướng như sau trong thực trạng
tiền lương tại các DNCBTS Khánh Hòa.
Mức lương tối thiểu đã trở thành mức lương cơ bản thực trả cho NLĐ trực tiếp.
Doanh nghiệp thường chỉ tăng lương cơ bản khi Nhà nước điều chỉnh lương tối thiểu;