Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
66 phải có các công cụ đủ mạnh để phân tích, Việc sử dụng mô hình hàm hồi quy
sẽ giúp ta thực hiện được mong muốn này.
3.2. QUAN HỆ GIỮA NGUỒN LỰC VÀ THU NHẬP CỦA HỘ
Bên cạnh việc sáng suốt trong việc ra quyết định của người chủ hộ, việc
sẵn có các nguồn lực như đất, nước, rừng, khí hậu sẽ giúp cho các hộ có
những điều kiện thuận lợi cho phát triển kinh tế, việc sử dụng các nguồn lực
này cũng sẽ ảnh hưởng đến kết quả mà các hộ sẽ đạt được. Như đã phân tích
trong phần trước, các hộ thuộc khu vực I là những hộ có mức sống kém hơn
so với các hộ khu vực vùng II và III và họ cũng bị hạn chế hơn về các nguồn
lực tự nhiên đặc biệt là đất và nước, họ có nhiều rừng nhưng chất lượng rừng
thì nghèo do vậy xét cả hai góc độ đều kém hơn so với các hộ của vùng II và
III. Điều này cũng đã chỉ ra được một mối liên hệ giữa các nguồn lực tự nhiên
và mức sống của các hộ. Tuy nhiên để thấy rõ được mối quan hệ này chúng
tôi sử dụng hàm hồi quy để phân tích.
3.2.1. Mô tả mối quan hệ
Để minh hoạ cho mức sống của hộ chúng tôi sử dụng chỉ tiêu thu nhập/
nhân khẩu, đây là tiêu chí định lượng quan trọng nhất trong số các tiêu chí để
đánh giá mức sống của các hộ.
Như đã phân tích ở phần trên chúng ta nhận thấy có một mối quan hệ
nhất định giữa các nguồn lực tự nhiên (Đất đai, rừng, nước) dưới hai góc độ
số lượng và chất lượng các nguồn lực với đời sống của các hộ, vì vậy để xây
dựng mối quan hệ với chỉ tiêu thu nhập/nhân khẩu chúng tôi sử dụng các tiêu
chí: diện tích đất, tỷ lệ diện tích đất các loại (thể hiện cho chất lượng đất),
diện tích được tưới tiêu (thể hiện cho nguồn nước của hộ), diện tích rừng, thu
nhập từ rừng
Qua phân tích định lượng chúng ta thấy một mối quan hệ thuận giữa các
Giá trị xác suất
Intercept
1.515299642
1.809350709
1.837482548
0.030426045
lao động
-1.189892005
0.143482464
-8.29294378
4.4483E-13
Diện tích
0.200712012
0.135475422
1.881538194
0.028151607
Diện tích được tưới tiêu
0.152193352
0.109811044
2.385956689
0.018753464
Diện tích đất lâm nghiệp
0.013222372
0.031564864
1.418895244
0.167616495
Vốn
0.017017622
0.075745459
0.224668547
đất lâm nghiệp nhỏ bé, chất lượng rừng kém thì việc có thu nhập từ rừng sẽ
không nhiều, hay nói cách khác hộ có thu từ rừng là hộ vùng cao nghèo hơn
so với các hộ có nguồn thu cao từ các nguồn khác.
Trong số các yếu tố tác động thuận tì yếu tố tổng diện tích và diện tích
được tưới tiêu có tác động mạnh nhất đến thu nhập/ đầu người của hộ. Như
vậy nó một lần nữa khảng định tầm quan trọng của các nguồn lực tự nhiên đất
đai và nước cho các hộ nông dân khu vực vùng núi huyện Võ Nhai.
Ngoài ra yếu tố vốn không có ý nghĩa thống kê trong hàm hồi quy điều
này có thể giải thích vì trình độ sản xuất còn quá thấp, mang tính chất tự cung
tự cấp, sản xuất quảng canh do vậy mà yếu tố vốn không có nhiều ảnh hưởng
đến thu nhập/ đầu người, nó có thể ảnh hưởng đến thu nhập chung của hộ
hoặc là đến doanh thu của hộ mà thôi.
Nói tóm lại: các yếu tố tự nhiên có vai trò rất quan trọng trong đời sống
của người dân và nó có quan hệ mật thiết với vấn đề đói nghèo của các hộ khu
vực nông thôn miền núi nói chung và miền núi tỉnh Thái Nguyên như ở Võ
Nhai nói riêng. Hộ có thế mạnh về các nguồn lực tự nhiên trên cả hai khía
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
69 cạnh số lượng và chất lượng sẽ có đời sống cao hơn, còn ngược lại dễ dàng
rơi vào tình trạng nghèo đói.
Qua việc phân tích chúng ta nhận thấy tầm quan trọng của các yếu tố tự
nhiên và mối quan hệ chặt chẽ với mức sống của người dân từ đó có những
giải pháp khả thi và thực tế để giúp người dân làm giàu bằng chính nội lực
của mình và đối mặt với những hạn chế về nguồn lực mà họ hiện đang có.
3.3. MỘT SỐ GIẢI PHÁP CHỦ YẾU ĐỐI VỚI CÁC NGUỒN LỰC ĐỂ NÂNG
CAO THU NHẬP VÀ XOÁ ĐÓI GIẢM NGHÈO CHO HỘ NÔNG DÂN
3.3.1. Các giải pháp chung
3.3.1.2. Tăng khả năng tiếp cận và kiểm soát các hộ nông dân với các
nguồn lực chủ yếu bao gồm đất đai, rừng, tín dụng, nguồn nước.
* Đất đai, rừng: Để phù hợp với mục tiêu đã đề ra trong Chiến lược
quốc gia về tăng trưởng và xóa đói, giảm nghèo. Cần triển khai các chiến dịch
tuyên truyền, đồng thời tiến hành tập huấn cho các cán bộ ở cấp huyện và cấp
xã để đảm bảo các điều luật sẽ được thực thi một cách hữu hiệu giúp hộ nông
dân sử dụng tốt các nguồn lực để phát triển kinh tế hộ.
* Tín dụng: Ngân hàng cần đơn giản hóa các thủ tục, điều kiện vay và
chấp nhận các mục tiếu sử dụng vốn vay đa dạng hơn. Các chính sách, các thủ
tục và qui trình hoạt động cần có tính linh hoạt trong việc cho vay và hướng
dẫn sử dụng vốn vay có hiệu quả. Đặc biệt cần phải có sự phối hợp chặt chẽ
giữa cán bộ ngân hàng với các cán bộ khuyến nông, khuyến lâm để hỗ trợ tập
huấn về kỹ thuật và thông tin về thị trường cũng như kỹ năng lập kế hoạch
sản xuất, kinh doanh cho tất cả các hộ vay vốn. Các hộ gia đình cần được
thông tin một cách cụ thể về các hình thức tín dụng mà họ có thể nhận được.
* Nguồn nước: Cần thực hiện việc phân tích cách sử dụng nguồn nước
như là một phần việc trong quá trình thiết kế các dự án nước sạch và vệ sinh
môi trường nông thôn. Mặt khác cần nêu cao vai trò sử dụng và quản lý các hệ
thống thủy lợi trong sử dụng tưới tiêu phát triển sản xuất của các hộ nông dân.
Nâng cao
kiến thức
Năng lực
quyết định
Năng lực
thực hiện
Nâng cao
thái độ
Quy hoạch các vùng sản xuất tập trung đối với các loại cây, con trên cơ
sở phân định 3 tiểu vùng kinh tế. Đưa giống đỗ tương mới có năng suất cao,
chất lượng tốt vào sản xuất tại các xã Phía Nam của huyện. Phát triển mạnh
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
72 cây chè, nhất là giống chè lai ở các xã Tràng Xá, Liên Minh, Lâu thượng
Phấn đấu đến năm 2010 sản phẩm chè búp tươi đạt sản lượng 3.500 tấn.
Tăng cường công tác bảo vệ và phát triển tài nguyên ràng, tiếp tục thực
hiện trồng rừng theo các dự án và trồng cây nhân dân nâng độ che phủ của
rừng lên 67%. Ngoài trồng rừng mới, khoanh nuôi tái sinh rừng theo các dự
án 661 càn phát triển nhanh trồng rừng lấy gỗ phục vụ ngành công nghiệp xây
dựng và gỗ nguyên liệu. Mỗi năm trồng khoảng 300 ha để đến năm 2010 có
1.200 ha rừng. Phát triển rừng theo hướng nông, lâm kết hợp trồng các loại
cây đặc sản,cây nguyên liệu để nâng cao giá trị sản phẩm của rừng.
Phát triển chăn nuôi: Tập trung phát triển chăn nuôi đại gia súc ở các xã
Phía Nam và phía Bắc. Phát triển đàn gia súc gia cầm theo hướng sản xuất
hàng hóa với quy mô trang trại vừa và nhỏ, thực hiện tốt dự án cải tạo và phát
triển đàn trâu để đến năm 2010 đàn trâu có 15.300 con, đàn bò có 5.500 con,
đàn lợn 35.000 con. Chăn nuôi đại gia súc, gia cầm, nhất là phát triển chăn
nuôi gia súc, gia cầm theo kỹ thuật mới. Trong nghiên cứu ở trên, chúng ta
cũng thấy được rằng chăn nuôi chưa phát triển thu nhập từ chăn nuôi chiếm tỷ
lệ không cao. Chủ yêú là chăn nuôi gia đình với qui mô nhỏ ở các hộ vùng III.
Đối với các hộ vùng II và vùng I thì chăn nuôi còn quá ít và nhỏ lẻ. Chăn nuôi
phát triển sẽ gia tăng đóng góp thu nhập cho gia đình. Điều đó góp phần giảm
thiểu lao động nhàn rỗi đồng thời góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông
nghiệp theo hướng tăng dần tỉ trọng ngành chăn nuôi của địa phương.
Hai là: Hỗ trợ vốn cho hộ gia đình phát triển kinh tế hộ
người cần có nhiều chính sách ưu đãi hơn, tạo mọi điều kiện cho các hộ gia
đình có điều kiện phát triển kinh doanh tại địa phương. Nếu huyện phát triển
tốt cơ sở hạ tầng, đầu tư đúng mức thì việc làm phi nông nghiệp mới có thể
phát triển được.
* Cải thiện kết cấu hạ tầng.
Để từng bước cải thiện đời sống vật chất và văn hóa, tinh thần của nông
dân, điều cần thiết là phải cải tạo kết cấu hạ tầng ở nông thôn. Cụ thể cần thực
hiện một số công việc sau:
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
74 Đường giao thông có ý nghĩa rất quan trọng trong việc nâng cao hiệu
quả sử dụng đất và phát triển sản xuất. Do vậy, việc mở rộng các tuyến giao
thông liên xã tạo ra mạng lưới giao thông liên hoàn trong toàn huyện để giao
lưu trao đổi hàng hóa, sản phẩm và khắc phục khó khăn cho nông dân là việc
làm hết sức cần thiết. Trong tương lai, hệ thống giao thông nội huyện cần phải
được cải tạo nâng cấp để đạt được một số cơ bản sau:
- Xe cơ giới có trọng tải cao đi lại dễ dàng vào trung tâm tất cả các xã
trong huyện.
- Xe cơ giới trọng tải nhỏ, các loại máy công cụ phục vụ nông nghiệp
hoạt động thuận tiện trên đồng ruộng.
- Đường liên xã phải được rải nhựa, với bề rộng từ 5-7 mét mới có thể
tạo điều kiện thuận lợi cho việc vận chuyển nói chung và vận chuyển sản
phẩm nông nghiệp nói riêng.
- Nâng cấp các công trình thủy lợi hiện có, xây dựng thêm một số công
trình trọng điểm nhằm đảm bảo cung cấp nước để khai hoang tăng vụ và
chuyển diện tích đất một vụ thành đất hai vụ.
- Đầu tư vốn để từng bước hoàn chỉnh hệ thống dẫn nước từ kênh chính
Một kinh nghiệm XĐGN hiệu quả nhất là tổ chức phát triển nghề phụ,
phi nông nghiệp. Bên cạnh hỗ trợ về vốn vay và tăng cường những hiểu biết
về khoa học kỹ thuật chongười dân, việc khai thác các ngành nghề phi nông
nghiệp và nghề phụ để người dân chủ động thêm các nguồn thu trong khi
nông nghiệp chưa thể tăng sản lượng là rất cần thiết. Phải biết tận dụng các
nguồn lực sẵn có của hộ gia đình để phát triển kinh tế hộ. Phải tạo điều kiện
và khuyến khích để cho người nghèo học hỏi lẫn nhau phát triển các ngành
nghề mới để giảm nghèo.
3.3.3. Kết hợp sử dụng hợp lý các nguồn lực của hộ đặc biệt là nguồn lực
tự nhiên.
Sử dụng hợp lý các nguồn lực có nghĩa là biết cách phối hợp tốt nhất
các nguồn lực có hạn với nhau để phát huy tối đa việc sử dụng các nguồn lực
này mang lại kết quả cao nhất. Thông qua việc sử dụng mô hình bài toán quy
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
76 hoạch tuyến tính với mục tiêu tối đa hoá thu nhập của hộ trên cở sở xắp xếp
bố trí lại việc sử dụng các nguồn lực trọng hộ một cách hợp lý giúp khai thác
tốt nhất lợi thế của các nguồn lực tự nhiên. Đề tài sử dụng mô hình tĩnh trong
một năm để xây dựng phương án sử dụng tối ưu các nguồn lực trong hộ.
*Kết quả
Mô hình được xây dựng dựa trên giả thuyết rằng người dân mong muốn
đưa ra những quyết định đúng đắn và tối ưu nhất trong thời gian tới. Đồng
thời mô hình được xây dựng trên cơ sở các hoạt động thực tiễn đang diễn ra,
với các nguồn lực thực sự của các hộ gia đình đại diện cho hai vùng (vùng I
và vùng III) và mức sống khác nhau, mô hình cũng được xây dựng dựa trên
Thu nhập PNN
1003,4
1225,0
22,08
1633,5
1794,0
9,8
Thu nhập của hộ
8119,0
9510,9
17,14
12092,8
16295,7
34,8
Thu nhập của
hộ/đầu người/năm
1623,8
1902,2
17,14
2015,5
2716,0
34,8
Nguồn: Kết quả phân tích hồi qui