Ca dao – ngôn ngữ thơ dân gian - Pdf 20

Ca dao – ngôn ngữ thơ dân gian
Không tác động trực tiếp vào cảm giác như nghệ thuật tạo hình và nghệ thuật
biểu diễn, nghệ thuật ngữ văn dân gian tác động tới con người bằng những ký hiệu
ngôn ngữ. Là một loại hình của nghệ thuật ngữ văn dân gian, ca dao, thông qua
những tín hiệu ngôn ngữ, đã thể hiện phong phú và linh hoạt những hình tượng
thẩm mỹ văn học, phản ánh mọi mặt của cuộc sống sinh hoạt, những suy tư và
diễn biến tình cảm của con người.

Được sản sinh ra từ trong môi trường diễn xướng, qua những buổi lao động
sinh hoạt văn hóa cộng đồng trên đồng ruộng, bãi lúa, ven sông, những buổi hội
làng tính ngẫu hứng đầy thẩm mỹ của ca dao thực sự chỉ được thể hiện trọn vẹn
khi được đưa vào môi trường sinh hoạt diễn xướng dân ca. Nếu sinh hoạt diễn
xướng dân ca đã thực sự mang lại cho lời ca dao một dáng vẻ mới, sinh động,
phong phú hơn, giá trị diễn tả nội dung đạt đến độ nghệ thuật cao hơn thì ngôn
ngữ ca dao trong sinh hoạt diễn xướng dân ca với sự cộng hưởng của các yếu tố
nghệ thuật dân gian luôn toả sáng, làm cơ sở trực tiếp cho những giai điệu dân ca
đậm đà hương đồng gió nội.

1. Ngôn ngữ ca dao là ngôn ngữ của thể loại thơ ca dân gian
Thơ ca dân gian là một thể loại nghệ thuật ngôn từ mang tính đặc trưng riêng
biệt. Ngôn ngữ thơ ca dân gian có nguồn gốc dân dã, thể hiện bản chất bình dị,
chất phác, hồn nhiên của người nông dân lao động. Đó cũng chính là đặc tính cơ
bản của loại hình ngôn ngữ trong ca dao.
thủ nghiêm ngặt cơ cấu tổ chức âm luật về phương thức gieo vần, ngắt nhịp, phối
điệu, cơ sở quan trọng để tạo dựng lên những lời dân ca giàu chất dân gian.
Phương thức gieo vần 6-8 là thao tác đặc biệt tạo nên vẻ nhịp nhàng trong ngôn
ngữ thơ, là phương tiện tổ chức văn bản và là chỗ dựa cho sự phát triển nhạc tính
để hình thành nên những âm hưởng nhiều mầu sắc vang vọng trong thơ. Lối ngắt
nhịp chẵn (chủ yếu là nhịp hai) có một ý nghĩa quan trọng tạo nên sự phân bố và
lặp đi lặp lại ngắt quãng các đơn vị ngôn từ, tạo điều kiện cho sự chuẩn hóa về mặt
thẩm mỹ trong lời thơ. Còn phối điệu mang lại âm điệu trầm bổng trong thơ bằng
sự sắp xếp phối hợp các thanh điệu bằng trắc theo nguyên tắc nhất định thể hiện
tính cân đối hài hòa về âm thanh giữa các nhịp và các vế tương đương: Cách sông/ em chẳng/ sang đâu
Anh về/ mua chỉ/ bắc cầu/ em sang
Chỉ xanh/ chỉ đỏ/ chỉ vàng
Một trăm/ thứ chỉ/ bắc ngang/ sông này.
Phương thức ngắt nhịp hai ở thể lục bát cũng là loại nhịp được vận dụng phổ
biến và bao trùm trong dân ca. “Nhịp hai rất thích nghi với nhiều sinh hoạt lao
động, sinh hoạt nghi lễ và các sinh hoạt khác trong đời sống xã hội. Sự luân phiên
và đối tỷ giữa một phách mạnh và một phách nhẹ trong một đơn vị nhịp cũng vốn
là đặc tính của nhiều dạng nhịp điệu lao động (chèo thuyền, nện đất, kéo gỗ )nhịp
trống mõ trong nghi lễ (đám rước, đám tang), trong nhảy múa và ca hát”(2). Có
thể bắt gặp nhịp phách hai trong Hò đò dọc:


các tác phẩm ca dao dân ca. Những câu thơ 7 chữ này thường được gieo vần lưng: Gió mùa thu mẹ ru con ngủ
Năm canh chầy thức đủ năm canh
Sự biểu hiện cũng như nhạc điệu của lời ca phụ thuộc vào sự kết hợp của các
từ, các dấu giọng trong ngôn ngữ thơ; nghĩa là, đặc điểm ngôn ngữ có vai trò quan
trọng trong việc tạo dựng những lời thơ để rồi mang lại âm hưởng đặc trưng cho
những lời dân ca.

2. Ngôn ngữ ca dao là ngôn ngữ mang đặc trưng của tiếng Việt
Tùy theo đặc điểm cấu tạo của ngôn ngữ từng dân tộc mà hệ thống nhịp điệu
trong thơ, sắc thái tu từ, cách vận dụng ngôn ngữ mang những nét khác nhau.
Tiếng Việt là loại hình ngôn ngữ đơn lập - âm tiết tính (ngôn ngữ không biến hình,
mỗi tiếng đều mang một thanh điệu và hầu như đều có nghĩa) trong đó mỗi đơn vị
âm tiết cơ bản đều là đơn vị của từ. Điều này tạo điều kiện thuận lợi cho việc hạn
định số từ trong nội bộ dòng thơ. Trong cơ cấu âm luật của các thể thơ của ca dao
mà đặc biệt là thể lục bát, các tiếng (âm tiết) là chất liệu tạo dựng để từ đó mọi yếu
tố âm luật trong thơ được hình thành với lối gieo vần, ngắt nhịp, phối điệu mang
mầu sắc đặc trưng của thể thơ. Nghĩa là nếu âm tiết là đơn vị hiệp vần thì các yếu
tố âm điệu (bằng và trắc) trong một âm tiết là nhân tố thể hiện hình thức phối điệu
Nghiên cứu khía cạnh diễn xướng của ngôn ngữ “không phải là sự tập hợp,
thậm chí không phải là tìm hiểu những dấu hiệu biểu lộ của hình thức giao tiếp
ngôn ngữ đơn thuần như là biểu tượng, từ, câu mà hơn thế đó là sự trình bày, sự
phát ra của những biểu tượng, từ, câu qua hình thức biểu diễn của hành động, lời
nói”(6). Như vậy tìm hiểu khía cạnh diễn xướng của ngôn ngữ tức là tìm hiểu
ngôn ngữ của hành động, ngôn ngữ của hình thức biểu diễn, ngôn ngữ bộc lộ cảm
xúc, ngôn ngữ miêu tả Ngôn ngữ diễn xướng trong ca dao được thể hiện qua một
số hình thức sử dụng ngôn ngữ cơ bản của một số thủ pháp nghệ thuật trong ca
dao. Hình thức sử dụng ngôn ngữ đối thoại và độc thoại Độc thoại là hình thức kết cấu đơn giản nhất trong thơ ca trữ tình dân gian
nhằm biểu đạt một cách trực tiếp, giản dị, tự nhiên những ý nghĩ tâm tư tình cảm
của các nhân vật trữ tình. Ở dạng này, nội dung của lời ca hướng vào một ý lớn
với ngôn ngữ mang tính tự sự. Hình thức này thường được sử dụng trong sinh hoạt
dân ca nghi lễ phong tục và dân ca lao động. Đó là những câu hát với những lời lẽ
trang trọng kể về sự tích, ca ngợi công đức các anh hùng trong dân ca nghi lễ: Bề trên hiển thánh đời Trần
Một đình một miếu bốn dân phụng thờ
Anh linh bảo hộ từ xưa

Bắp mồm bắp miệng là bắp không rang
Than hỡi than hời là than không quạt
Bạc tình bạc ngãi không đổi không mua. Bằng hình thức sử dụng ngôn ngữ mang tính ẩn dụ, tác giả dân gian đã diễn tả
lối đối đáp khôn ngoan, mang hàm ý sâu sắc, tạo cho người nghe những liên tưởng
phong phú và ý nghĩa khái quát cao. Ngôn ngữ đối thoại cũng thật gần gũi với sinh hoạt của cuộc sống đời thường.
Đó chỉ là hình ảnh con trâu, cái cày, những người bạn của nhà nông, nhưng khi
bước vào ca dao, nó đã trở thành những hình tượng nghệ thuật mang tính chất so
sánh: -
Của chua ai thấy chẳng thèm
Em cho chị mượn chồng em mấy ngày

- Chồng em nào phải trâu cày
Mà cho chị mượn cả ngày lẫn đêm.
- Anh đến tìm hoa thì hoa đã nở
Anh đến tìm đò thì đò đã sang sông
Anh đến tìm em thì em đã lấy chồng
Em yêu anh như rứa có mặn nồng chi mô? - Hoa đến kỳ thì hoa phải nở
Đò đã đầy thì đò phải sang sông
Đến duyên thì em phải lấy chồng
Em yêu anh như rứa đó còn mặn nồng thì tùy anh. Lời hát đối đáp thể hiện hai ý đối lập nhau về một tình yêu đã qua, chỉ còn lại
lời trách móc của người con trai trước sự bội bạc của người yêu xưa đã đi lấy
chồng. Nhưng người con gái đã tiếp lời chàng trai để phủ nhận sự cáo buộc vô lý
của chàng; bởi lẽ thời gian không chờ đợi ai, nàng buộc phải “sang sông” như lẽ
thường của quy luật cuộc sống. Trái ngược với sự tiếc nuối của chàng trai, cô gái
khẳng định tình cảm của mình một cách rõ ràng. Có thể nói, trong ca dao, dấu ấn đối thoại thể hiện không chỉ ở những bài ca
được kết cấu 2 vế đối đáp mà ngay cả ở những bài ca mang tính độc thoại vẫn là
sự thể hiện của lối trò truyện giãi bày trực tiếp được sử dụng linh hoạt trong các
cuộc hát lẻ và hát cuộc của sinh hoạt dân ca. Ngôn ngữ thời gian và không gian
Tuy vậy “bây giờ” hay “hôm qua” chỉ là những cụm từ mang tính chất phiếm
chỉ, diễn tả một quãng thời gian của hiện tại, của sự gặp gỡ và chia ly, của những
mối tình sống mãi với thời gian Như vậy, thời gian hiện tại trong ca dao chủ yếu
mang tính ước lệ, nhằm diễn tả tâm lý và những diễn biến tình cảm nội tâm của
nhân vật. Và ngay cả khi sử dụng những cụm từ chỉ quá khứ như: “hôm qua”, “đêm qua”,
“khi xưa” thì thời gian trong ca dao vẫn diễn tả sự việc mang ý nghĩa hiện tại: Đêm qua dồn dập mưa mau
Gió rung cành ngọc cho đau lá vàng
Trách chàng phụ ngãi tham vàng
Ngô đồng nỡ để phượng hoàng ngẩn ngơ
Biết nhau từ bấy đến giờ
Đã cho bướm đậu thì chừa sâu ra Đó là tiếng lòng ai óan của người phụ nữ bị phụ bạc. Cô trách người phụ nghĩa,
trách cho số kiếp bạc bẽo đến “ngẩn ngơ”. Và dẫu rằng cái đêm mưa gió hôm qua
đã qua đi nhưng nỗi đau vẫn còn đó, vẫn giày vò cô với nỗi cô đơn thực tại của
ngày hôm nay. Bằng việc sử dụng cụm từ trạng ngữ diễn tả quá khứ ngay sát gần
hiện tại, tác giả đã đưa ra cách hiểu mang tính khái quát về hiện tại; không chỉ là
ngày hôm nay hay một khoảnh khắc nào đó cụ thể trên dòng đời mà đó là một hiện

gian tâm lý. Không gian vật lý là những môi trường không gian cụ thể như gốc đa,
bến nước, sân đình, đồng ruộng nơi gặp gỡ trò chuyện, sinh hoạt lao động của các
nhân vật trữ tình: - Em ôm bó mạ xuống đồng
Miệng ca tay cấy mà lòng nhớ ai - Cây đa cũ, bến đò xưa,
Bộ hành có nghĩa, nắng mưa cũng chờ Đó là những khung cảnh bình dị, gần gũi với cuộc sống của người dân đất Việt,
được khắc họa trong những câu ca dao mang mầu sắc trữ tình đậm nét. Dường như
nó được thổi vào đó một tâm hồn, một tình cảm yêu thương tha thiết, giản dị và
chân thành như chính cuộc sống con người lao động nơi đây. Bên cạnh không gian vật lý là môi trường không gian xã hội. Không ít câu ca
thể hiện mối quan hệ xã hội phức tạp và đa dạng giữa người với người bằng lối sử
dụng ngôn ngữ bình dị đời thường mang tính khẩu ngữ:
Trên bầu trời rạng rỡ mây xanh

Từ ngày chia rẽ em anh
Nước trời còn đó ai đành phụ nhau.
Những hình ảnh so sánh đất trời, sông nước đã tạo nguồn cảm hứng cho lời ca
bằng một không gian mênh mông để rồi từ đó hòa với những tình cảm sâu lắng
của lòng người, đằm thắm và quyến rũ như chính vẻ đẹp tự nhiên mà tạo hóa đã
ban tặng cho sự sống con người. Thời gian và không gian nghệ thuật là yếu tố quan trọng cho quá trình gợi hứng
của lời thơ. Đó là những ngôn ngữ của lối diễn tả hình ảnh, mầu sắc sống động
mang âm điệu của hình thức diễn xướng đậm đà chất dân gian. Hình thức sử dụng đại từ nhân xưng Đại từ nhân xưng là hình thức ngôn ngữ thể hiện rõ phương thức diễn xướng
qua lối kết hợp câu đối đáp trong ca dao dân ca, chủ yếu ở ngôi thứ nhất và thứ hai
như: anh - em, chàng - thiếp, mình - ta, đó - đây, anh ba - em, chị hai - tôi, qua -
bậu, tui - mình, bạn - ta, anh - cô nường :
dân gian Việt Nam mà lối sử dụng đại từ nhân xưng là một trong những thủ pháp
nghệ thuật nổi bật làm tăng thêm giá trị diễn xướng của lời ca. Có thể nói, ngôn ngữ ca dao với đặc trưng tính chất của thể loại thơ ca dân
gian, mang âm sắc của giai điệu lời nói tiếng Việt với hình thức kết cấu đối đáp,
ngôn ngữ diễn tả thời gian, không gian nghệ thuật mang tính gợi hứng và lối sử
dụng đại từ nhân xưng đầy biểu cảm là những yếu tố cơ bản tạo giá trị thẩm mỹ
cho những lời hát dân ca mang mầu sắc của sinh hoạt diễn xướng dân gian. Là cơ
sở (phần lời) của những lời hát dân ca, ca dao trong sự liên kết với mầu sắc của âm
thanh, động tác điệu múa được diễn ra trong môi trường sinh hoạt cụ thể mang
tính đặc trưng vùng miền của sinh hoạt diễn xướng dân gian đã thực sự bay cao
hơn, xa hơn đạt đến giá trị hiện thực thẩm mỹ trọn vẹn hơn.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status