21 Kế toán chi phí bán hàng và chi phí quản lý doanh nghiệp ở Công ty XNK nông sản thực phẩm Hà Nội - Pdf 20

Lời nói đầu
Trong nền kinh tế thị trờng, các quan hệ hàng hoá - tiền tệ, quan hệ thị tr-
ờng đợc mở rộng, do vậy hoạt động kinh doanh phát triển mạnh mẽ quan hệ
buôn bán mở rộng.Thơng trờng là chiến trờng. Để chiến thắng, cần phải biết kết
hợp giữa sức mạnh, trí tuệ và sự khôn khéo. Lúc này, kinh doanh trên thơng tr-
ờng không chỉ là nghiệp vụ kỹ thuật mà còn là nghệ thuật.
Xuất phát từ tình hình đó, yêu cầu đặt ra đối với các Công ty TNHH là phải
hoạt động sản xuất kinh doanh có hiệu quả. Để đạt đợc điều này, thì vấn đề thông
tin, đặc biệt là thông tin kế toán luôn luôn đòi hỏi kịp thời và chính xác. Thông tin
kế toán giúp các nhà quản lý đa ra các quyết định tài trợ cho hoạt động kinh doanh
của mình một cách có hiệu quả.
Chi phí bán hàng và chi phí quản lý doanh nghiệp là hai chỉ tiêu quan
trọng, phản ánh toàn bộ hao phí lao động sống và lao động vật hoá mà doanh
nghiệp phải bỏ ra để thực hiện
chức năng, nhiệm vụ của mình.
Tiết kiệm chi phí bán hàng và chi phí quản lý doanh nghiệp chính là tiết
kiệm hao phí lao động xã hội. Hạ thấp chi phí bán hàng, chi phí quản lý doanh
nghiệp có nghĩa là tăng lợi nhuận, hoàn thành tốt chi tiêu kinh tế tài chính khác
và có ý nghĩa với hạ thấp giá bán hàng hoá, nâng cao đời sống nhân dân.
Mặt khác, công tác quản lý chi phí bán hàng và chi phí quản lý doanh
nghiệp còn là căn cứ quan trọng để đánh giá chất lợng kinh doanh của doanh
nghiệp. Vì thế, ngoài vấn đề quan tâm để đẩy mạnh bán hàng, tăng doanh thu,
doanh nghiệp cần thiết phải quan tâm đến hạ thấp chi phí kinh doanh. Để quản
lý chi phí bán hàng cũng nh chi phí quản lý doanh nghiệp cần thông qua kế toán
- một công cụ quản lý có hiệu quả.
1
hDo đó, kế toán chi phí bán hàng và chi phí quản lý doanh nghiệp có vị
trí đặc biệt quan trọng trong các thành phần kế toán ở các công ty TNHH. Chính
vì vậy, tổ chức kế toán chi phí bán hàng và chi phí quản lý doanh nghiệp phù
hợp và khoa học có ý nghĩa quan trọng trong việc phấn đấu hạ thấp chi phí kinh
doanh.

trữ hàng hoá nh chi phí chọn lọc, bảo quản, phân loại, chỉnh lý, bao gói hàng
hoá, chi phí vận chuyển bốc dỡ và chi phí phục vụ bán hàng.
3
- Chi phí phát sinh ở khâu mua hàng đợc tính vào giá trị vốn của hàng
nhập kho nh chi phí vận chuyển, bốc dỡ từ nơi mua về kho doanh nghiệp, chi
phí bảo hiểm, tiền thuê kho bãi
- Chi phí giao thông bao gồm tất cả chi phí phát sinh ở khâu mua vào, dự
trữ và bán ra.
- Các khoản chi phí phục vụ hoạt động liên doanh liên kết, chi phí đầu t ra
bên ngoài, lãi tiền vay đ ợc hạch toán chung vào chi phí hoạt động tài chính.
- Các khoản chi phí khác phát sinh trong một kỳ kinh doanh nhng không
thể xác định đợc trớc nh chi phí thanh lý TSCĐ, hao hụt vật t hàng hoá, tổn thất
tài sản, chi phí do hoả hoạn, thiên tai bất ngờ và các khoản chi phí bất thờng
khác khi đợc tính vào chi phí bất thờng.
Nh vậy, chi phí bán hàng là một bộ phận của chi phí lu thông, là chi phí
cơ bản cấu thành nên chi phí kinh doanh của doanh nghiệp thơng mại. Chi phí
bán hàng đợc bù đắp từ doanh thu bán hàng trong kỳ. Nhng không phải tất cả
chi phí phát sinh đều đợc coi là chi phí bán hàng mà có những khoản có thể đợc
tính hoặc không đợc tính vào chi phí bán hàng.
Nói chung, những hao phí lao động sống và lao động vật hoá phát sinh
trong quá trình dự trữ và tiêu thụ hàng hoá đều đợc tính là chi phí bán hàng. Tuy
nhiên, để đáp ứng yêu cầu của chế độ hạch toán kế toán, ngời ta cần tính vào chi
phí bán hàng một phần thu nhập thuần tuý của xã hội nh: BHXH, BHYT,
KPCĐ Mặc dù thực chất những khoản đó không phải là chi phí bán hàng mà
là những khoản phân phối lại giữa các đơn vị với nhau. Phần này nhiều hay ít
phụ thuộc vào đờng lối kinh tế - tài chính của mỗi quốc gia trong từng thời kỳ.
Theo quy định hiện hành, một số khoản sau không đợc tính vào chi phí
bán hàng:
- Các khoản chi mang tính phân phối lại nh: thuế các loại, các quỹ
4

dùng phục vụ cho quá trình chuẩn bị bán hàng và quá trình bán hàng nh phơng
tiện tính toán, dụng cụ đo lờng, các phơng tiện làm việc ở khâu bán.
- Chi phí khấu hao TSCĐ: là biểu hiện bằng tiền của phần hao mòn tài
sản cố định, kể cả tài sản cố định hữu hình và tài sản cố định vô hình sử dụnh
trong quá trình bảo quản hàng hoá và quá trình bán hàng nh khấu hao nhà kho,
cửa hàng, các phơng tiện bốc xếp, phơng tiện tính toán kiểm nghiệm
- Chi phí dịch vụ mua ngoài: là số tiền dùng để trả cho các đơn vị và các
cá nhân bên ngoài do cung cấp các dịch vụ, lao vụ cho doanh nghiệp phục vụ
cho quá trình bán hàng nh tiền thuê kho, thuê bãi, thuê vận chuyển, tiền sửa
chữa tài sản cố định thuê bên ngoài, tiền hoa hồng cho đại lý bán hàng, cho đơn
vị nhận uỷ thác xuất khẩu
- Chi phí bảo hành sản phẩm: là chi phí để thực hiện công việc sửa chữa,
chỗ hỏng hóc của sản phẩm mà doanh nghiệp đã bán cho khách hàng nhng vẫn
trong thời hạn doanh nghiệp cam kết đảm bảo chất lợng sản phẩm của mình. Chi
phí cho công việc này nhằm tạo sự tín nhiệm của khách hàng đối với doanh
nghiệp.
- Chi phí bằng tiền khác: là những khoản chi phí cha ghi vào các khoản
đã trình bày nh trên nh chi phí quảng cáo, tiếp thị sản phẩm, chi phí tiếp khách
ở bộ phận bán hàng
Tác dụng của cách phân loại này: Tạo điều kiện thuận lợi cho doanh
nghiệp trong công tác tổ chức kế toán tổng hợp cũng nh kế toán chi tiết chi phí
bán hàng theo khoản mục chi phí. Cách phân loại này là cơ sở cho công tác
đánh giá, phân tích chi phí bán hàng theo khoản mục, xác định đợc tỷ trọng
6
từng khoản chi phí trong tổng chi phí phát sinh và xu hớng biến động của
chúng, từ đó ngời ta xác định đợc trọng tâm công tác quản lý chi phí cũng nh đa
ra biện pháp nhằm điều chỉnh và quản lý kịp thời đối với từng khoản mục chi
phí. Cách phân loại này còn là tiền đề hoàn thiện công tác xây dựng kế hoạch
chi phí bán hàng một cách khoa học thực tế. Do vậy, nó có tác dụng rất lớn đối
với công tác quản lý chi phí bán hàng, góp phần tiết kiệm chi phí bán hàng.

2.3. Phân loại chi phí bán hàng theo đối tợng tập hợp chi phí thì toàn
bộ chi phí bán hàng đợc chia thành chi phí chung và chi phí trực tiếp.
- Chi phí chung: là những chi phí liên quan đến nhiều đối tợng chịu chi
phí, nhiều địa điểm kinh doanh, nhiều nhóm hàng kinh doanh Các chi phí này
cuối kỳ tập hợp đợc phải phân bổ cho các đối tợng phải chi phí theo tiêu chuẩn
hợp lý.
- Chi phí trực tiếp: là những chi phí liên quan trực tiếp đến đối tợng chi
phí nh: một địa điểm kinh doanh, một nhóm hàng kinh doanh
Tác dụng các phân loại này nhằm đảm bảo cho việc hạch toán và phân bổ
chi phí đợc đúng đắn, hợp lý, tạo điều kiện cho việc theo dõi chi tiết chi phí bán
hàng theo địa điểm kinh doanh theo nhóm hàng kinh doanh nhằm tính toán
chính xác chi phí bỏ ra và kết quả thu về của từng địa điểm kinh doanh, từng
nhóm hàng kinh doanh từ đó giúp cho việc xác định phơng án kinh doanh đúng
đắn, đem lại hiệu quả cao.
8
2.4. Phân loại theo bản chất kinh tế thì chi phí bán hàng chia làm hai
loại:
- Chi phí thuần tuý: là những chi phí phát sinh do sự cần thiết thay đổi
hình thái biểu hiện của hàng hoá. Nó không làm tăng giá trị sử dụng của hàng
hoá và không sáng tạo ra giá trị mới của hàng hoá. Khoản chi phí này đợc bù
đắp bởi một bộ phận giá trị thặng d do khu vực sản xuất tạo ra. Thuộc loại chi
phí này gồm chi phí vận chuyển, quảng cáo, bảo hành, chi phí nhân viên bán
hàng
- Chi phí bổ sung: là chi phí phục vụ cho việc tiếp tục hoàn thiện quá
trình sản xuất trong lĩnh vực lu thông. Loại chi phí này làm tăng giá trị của hàng
hoá tạo ra thu nhập quốc dân nhng không tạo ra giá trị sử dụng của hàng hoá, và
nó đợc bù đắp bởi phần giá trị mới của hàng hoá đợc tạo ra trong lĩnh vực lu
thông. thuộc loại chi phí này gồm có chi phí chọn lọc, bảo quản, đóng gói, chế
biến bổ sung
Các phân loại này giúp ta hiểu sâu sắc về bản chất kinh tế của chi phí bán

ờng vận chuyển và phơng tiện vận chuyển hợp lý) sẽ giảm đợc khoản chi phí
này. Việc tổ chức mạng lới kinh doanh xuất nhập khẩu ảnh hởng trực tiếp tới
việc mở rộng hoặc thu hẹp mức luân chuyển hàng hoá, từ đó làm giảm hoặc
tăng chi phí bán hàng.
+ ảnh hởng của năng suất lao động: Năng suất lao động trong các doanh
nghiệp tăng lên sẽ tiết kiệm đợc lao động sử dụng, từ đó hạ thấp đợc chi phí tiền
10
lơng. Mức tăng của tiền lơng bình quân luôn nhỏ hơn mức tăng của năng suất
lao động, do đó hạ thấp đợc chi phí bán hàng.
Việc sử dụng tiết kiệm chi phí bán hàng là cần thiết nhng không vì thế mà
ảnh xấu đến lu chuyển hàng hoá xuất nhập khẩu, tức là việc hạ thấp chi phí bán
hàng phải hợp lý. Hạ thấp chi phí bán hàng hợp lý là giảm những khoản chi
không cần thiết và cũng có thể tăng những khoản chi không cần thiết khác.
Đồng thời hạ thấp chi phí bán hàng phải đẩm bảo cho hoạt động kinh doanh đợc
bình thờng và có hiệu quả.
3.2. Các biện pháp
Qua nghiên cứu các nhân tố ảnh hởng tới chi phí bán hàng, có thể rút ra
một số biện pháp để hạ thấp chúng.
- Thứ nhất: Đẩy mạnh bán ra trong các doanh nghiệp xuất nhập khẩu là
điều kiện cần thiết để hạ thấp chi phí bán hàng. Cần phải mở rộng lu chuyển
hàng hoá, nâng cao phẩm chất các mặt hàng kinh doanh, cải tiến cấu thành hàng
hoá phù hợp với nhu cầu tiêu dùng, đảm bảo dự trỡ hàng hoá hợp lý, ngăn chặn
và giải quyết hàng ứ đọng, kém phẩm chất, tránh hao hụt hàng hoá ngaòi định
mức
- Thứ hai: Tổ chức tốt công tác quản lý chi phí bán hàng. Để tiết kiệm chi
phí bán hàng cần vận dụng tốt các quy luật kinh tế, quy luật giá trị cùng với việc
động viên mọi bộ phận, cá nhân thực hiện chi phí bán hàng, góp phần thực hiện
tốt công tác quản lý chi phí.
- Thứ ba: Phân bổ mảng kho tàng, trạm trại hợp lý, tăng cờng cải tiến kỹ
thuật phục vụ cho việc bốc dỡ, bảo quản và tiêu thụ hàng hoá. Đồng thời, sử

12
dÞch vô, bao gåm c¸c chi phÝ b¶o qu¶n,vËn chuyÓn, giíi thiÖu, b¶o hµnh s¶n phÈm
hµng ho¸.
13
4.2. Kết cấu và nội dung phản ánh TK 641 Chi phí bán hàng
Nợ TK 641 Chi phí bán hàng Có
- Chi phí bán hàng thực tế phát sinh
trong kỳ.
- Các khoản ghi giảm chi phí bán
hàng.
- Kết chuyển chi phí bán hàng trong
kỳ vào bên Nợ TK 911 xác định kết
quả kinh doanh hoặc bên Nợ TK
142 chi phí trả trớc (1422).
Cuối kỳ, TK 641 Chi phí bán hàng không có số d.
TK 641 Chi phí bán hàng có 7 tài khoản cấp II:
- TK 6411 Chi phí nhân viên: phản ánh các khoản phải trả cho nhân
viên bán hàng, nhân viên đóng gói, vận chuyển, bảo quản sản phẩm, hàng hoá . .
. Bao gồm các khoản tiền lơng, tiền công, các khoản phụ cấp, trích bảo hiểm xã
hội, bảo hiểm y tế, kinh phí công đoàn . . .
- TK 6412 Chi phí vật liệu, bao bì: phản ánh các chi phí vật liệu, bao bì
xuất dùng phục vụ cho việc đóng gói, bảo quản sản phẩm, hàng hoá, chi phí vật
liệu cho việc vận chuyển hàng hoá trong quá trình tiêu thụ, vất liệu dùng cho
bảo quản, sửa chữa TSCĐ ở bộ phận bán hàng . . .
- TK 6413 Chi phí dụng cụ đồ dùng: phản ánh về chi phí công cụ, dụng
cụ, đồ dùng phục vụ cho quá trìnhtiêu thụ sản phẩm hàng hoá nh dụng cụ đo l-
ờng, phơng tiện làm việc . . .
- TK 6414 Chi phí khấu hao TSCĐ: phản ánh chi phí khấu hao TSCĐ ở
bộ phận bảo quản hàng hoá: Nhà kho, cửa hàng, phơng tiện vận chuyển, phơng
tiện đo lờng tính toán.

15
Hàng tháng, hàng quí phân bổ dần, kế toán ghi:
Nợ TK 641 Chi phí bán hàng.
Có TK 142 Chi phí trả trớc.
- Khi trích khấu hao TSCĐ của những TSCĐ sử dụng ở khâu bán hàng, kế
toán ghi:
Nợ TK 641 Chi phí bán hàng (6414).
Có TK 214 Khấu hao TSCĐ (2141, 2142, 2143).
- Khi tính số tiền điện nớc, các chi phí về điện thoại, Fax, chi phí thuê sửa
chỡa TSCĐ ở bộ phận bán hàng hoặc trả ngay các khoản chi phí trên bằng tiền,
kế toán ghi:
Nợ TK 641 Chi phí bán hàng (6417).
Nợ TK 133 "Thuế GTGT đợc khấu trừ"
Có TK 331 Phải trả ngời bán.
Có TK 111 Tiền mặt.
Có TK 112 Tiền gửi ngân hàng.
- Nếu doanh nghiệp áp dung phơng pháp trích trớc chi phí sửa chữa lớn
TSCĐ, kế toán ghi:
Nợ TK 641 Chi phí bán hàng (6417).
Có TK 335 Chi phí phải trả.
Khi chi phí sửa chữa TSCĐ phát sinh thực tế, kế toán ghi:
Nợ TK 335 Chi phí phải trả.
Có TK 111 Tiền mặt.
Có TK 112 Tiền gửi ngân hàng.
Nếu chi phí sửa chữa lớn phát sinh một lần quá lớn, kế toán có thể áp
dụng phơng pháp phân bổ dần, giống nh phân bổ công cụ dụng cụ.
- Trờng hợp doanh nghiệp trích trớc chi phí bảo hành hàng hoá, kế toán
ghi:
16
Nợ TK 641 Chi phí bán hàng (6415).

TK 641
TK 911
CP nhân
viên
bán hàng
TK 152, 153, 142 . . .
CP vật liệu bao

công cụ, dụng cụ
TK 214
CP khấu hao
TSCĐ
TK 335, 331 . . .
TK 111, 112 . . .
CP khác bằng
tiền
Cuối kì K/c
CPBH
TK 142
TK 133
CP DV mua ngoài
đợc khấu trừ
Thuế VAT
Đơn vị có chu
kì SXKD dài
trong kì không
có tiêu thụ sản
phẩm
K/c khi có tiêu
thụ

thì hạch toán trực tiếp vào nhóm hàng đó, còn những cho phí liên quan đến nhiều
nhóm hàng thì phân bổ theo những tiêu thức hợp lý.
Để hạch toán chi phí theo nhóm mặt hàng cần giải quyết những vấn đề
sau:
- Tiến hành phân loại hàng hoá theo những tiêu thức hợp lý (có cùng tính
chất).
- Phân loại chi phí bán hàng: phân loại chi phí bán hàng thành chi phí trực
tiếp và chi phí bán chung.
- Tổ chức công tác ghi sổ: khi chi phí bán hàng phát sinh, kế toán căn cứ
vào chứng từ gốc để tiến hành tập hợp chi phí, sau đó ghi vào các sổ kế toán có
liên quan đối ứng với Nợ TK 641. Đồng thời ghi và phân tích theo khoản mục
chi tiết phí để ghi vào tờ kê chi tiết phí theo nhóm hàng kinh doanh. Với các chi
phí đã đợc phản ánh ở bảng kê, bảng phân bổ khác thì không ghi vào các tờ kê
chi tiết phí mà nó đợc tập hợp chung cho tất cả các nhóm hàng sau đó phân bổ
theo những tiêu thức thích hợp.
Cuối tháng, kế toán căn cứ vào các tờ kê chi tiết do kế toán các bộ phận
liên quan gửi đến cùng với bảng phân bổ bảng kê để tập hợp chi phí trực tiếp
cho các nhóm hàng và tập hợp chi phí chung rồi tính toán phân bổ cho các
nhõm mặt hàng. Sau đó, kế toán tổng hợp chi phí bán hàng theo từng nhóm
hàng vào bảng phân bổ và bảng tổng hợp chi phí bán hàng theo khoản mục
Tổng hợp chi phí bán hàng của tất cả các nhóm hàng thành chi phí bán
hàng toàn doanh nghiệp. Việc phân bổ chi phí bán hàng cho hàng còn lại và
20
hàng bán ra đợc tiến hành theo từng nhóm hàng. Tất cả các khoản chi phí đều đ-
ợc phân bổ. Cuối kì hạch toán, căn cứ vào chi phí bán hàng phân bổ cho hàng
bán ra để kết chuyển chi phí từ bên Nợ TK 641 sang bên Nợ TK 911 để xác
định kết quả.
Ưu điểm của phơng pháp này:
- Giúp ta xác định đợc kết quả kinh doanh của từng nhóm mặt hàng nhằm
phân tích kết quả kinh doanh của từng nhóm mặt hàng, từ đó, có biện pháp đẩy

Chi phí quản lý doanh nghiệp là chỉ tiêu kinh tế chủ yếu của doanh
nghiệp nói chung và doanh nghiệp xuất nhập khẩu nói riêng. Nó ảnh hởng trực
tiếp đến kết quả kinh doanh của doanh nghiệp. Vì vậy, vấn đề đặt ra đối với
doanh nghiệp là phải quản lý chặt chẽ và có hiệu quả chi phí quản lý doanh
nghiệp. Trên cơ sở nghiên cứu, phân tích công tác hạch toán chi phí cần xác
định phạm vi chi phí quản lý doanh nghiệp để đảm baỏ thực hiện mục tiêu quản
lý. Phạm vi chi phí quản lý doanh nghiệp là giới hạn của những chi phí phát
sinh đợc tính là chi phí quản lý doanh nghiệp. Việc xác định phạm vi chi phí
quản lý doanh nghiệp trong kinh doanh lu chuyển háng hoá phải dựa trên
nguyên tắc cơ bản sau:
22
- Chỉ những khoản chi phí liên quan gián tiếp đến quá trình kinh doanh
luân chuyển hàng hoá tức là các khoản liên quan đến hoạt động chung của toàn
doanh nghiệp mới đợc tính vào chi phí cho nhân viên quản lý (Tiền lơng, phụ
cấp, BHYT, BHXH ...), chi phí đồ dùng, dụng cụ văn phòng. Còn những chi phí
liên quan trực tiếp đến hoạt động kinh doanh luân chuyển hàng hoá của doanh
nghiệp nh chi phí nhân viên trực tiếp bán hàng, đồ dùng, dụng cụ phục vụ bán
hàng thì không đ ợc tính vào chi phí quản lý doanh nghiệp.
- Đối với nhng TSCĐ phục vụ cho hoạt động quản lý nh nhà cửa, các
phòng ban, phơng tiện truyền dẫn, thiết bị quản lý thì giá trị hao mòn của
chúng đợc tính vào chi phí quản lý doanh nghiệp.
- Không tính vào chi phí quản lý doanh nghiệp những chi phí có tính chất
bất bất thờng nh chi phí thanh lý TSCĐ, tiền phạt do vi phạm hợp đồng, tiền
phạt thuế, truy nộp thuế, các khoản chi phí phát sinh do kế toán bị nhầm lẫn hay
bỏ sót khi vào sổ .
- Không tính và chi phí quản lý doanh nghiệp những chi phí liên quan đến
hoạt động về vốn nh chi phí để đầu t, ký quỹ, ký cợc, chi phí liên quan đến cho
vay.
Ngoài ra theo yêu cầu quản lý chi phí cụ thể trong hệ thống kế toán Việt
Nam mới ban hành cùng quy định một số khoản phải tính vào chi phí quản lý

quản lý doanh nghiệp theo khoản mục, xác định đợc tỷ trọng từng khoản chi phí
trong tổng chi phí phát sinh và xu hớng biến động của chúng. Từ đó, ngời ta xác
định đợc trọng tâm của công tác quản lý chi phí ,đa ra biện pháp nhằm điều chỉnh
24
và quản lý kịp thời đối với từng khoản mục chi phí. Cách phân loại này còn là tiền
đề hoàn thiện công tác xây dựng kế hoạch chi phí quản lý doanh nghiệp một cách
khoa học, thực tế. Do vậy, nó có tác dụng rất lớn đối với công tác quản lý chi phí,
góp phần tiết kiệm chi phí.
3.3. ý nghĩa và yêu cầu quản lý doanh nghiệp những biện pháp chủ yếu
nhằm quản lý có hiệu quả chi phí quản lý doanh nghiệp .
Chi phí quản lý doanh nghiệp để duy trì bộ máy công ty, phục vụ quản lý
điều hành chung mọi hoạt dộng kinh doanh thu tăng lợi nhận và giảm chi phí kinh
doanh trong đó có chi phí quản lý doanh nghiệp. Muốn vậy phải đề ra các biện
pháp quản lý chi phí một cách hiệu quả.
Quản lý chi phí quản lý doanh nghiệp có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối
với sự tồn tại và phát triển của một doanh nghiệp nh sau:
- Lập kế hoạch định mức chi phí trong một hạn mức cho phép. Kiểm tra
giám sát việc thực hiện kế hoạch chi phí, từ đó phân tách đánh giá tình hình để
đa ra các biện pháp cụ thể đối vớiviệc sử dụng từng loại chi phí.
- Sử dụng vốn tiết kiệm hiệu quả, tăng nhanh vòng quay của vốn để hạ
thấp chi phí lãi vay.
- Tổ chức quan hệ khách hàng, bạn hàng có uy tín, tìm hiểu thị trờng
nguồn hàng.
- Biện pháp đợc coi là quan trọng nhất, có ý nghĩa quyết định là tổ chức
kế toán chi phí quản lý doanh nghiệp. Kế toán chi phí quản lý kinh doanh
nghiệp nhằm cung cấp đầy đủ, kịp thời, chính xác các thông tin về việc thực
hiện các chỉ tiêu chi phí quản lý doanh nghiệp, phục vụ việc lập kế hoạch chi
phí .Do đó, ta cần đi sâu nghiên cứu công tác kế toán chi phí quản lý doanh
nghiệp .
25


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status