0 ĐẢNG BỘ TRƯỜNG ĐẠI HỌC HẢI PHÒNG
LỚP BỒI DƯỠNG ĐẢNG VIÊN MỚI KHÓA III – NĂM 2010
BµI KIÓM TRA
Họ và tên: Lê Đắc Nhường
Đơn vị: Chi bộ Khoa Toán Tin
bản nhất định bị thay thế bằng một chế độ tốt đẹp hơn - chế độ cộng sản chủ nghĩa không
có người bóc lột người. Và người đào huyệt chôn chủ nghĩa tư bản chính là giai cấp công
nhân - sản phẩm của nền đại công nghiệp tư bản chủ nghĩa. Đó là một tiếng sét trong lòng
chủ nghĩa tư bản ở vào thời thịnh trị, sau khi nó chiến thắng các chế độ chuyên chế phong
kiến và đã bành trướng ra khắp thế giới, chi phối mọi mặt đời sống xã hội loài người.
Chính vào thời điểm ấy Cách mạng Tháng Mười đã nổ ra, mở đầu cho một xu thế mới của
lịch sử thế giới, tạo ra phản ứng dây chuyền của hàng loạt cuộc đấu tranh giải phóng có
quy mô to lớn và chiều sâu cách mạng chưa từng thấy trong lịch sử nhân loại.
Toàn bộ tình hình đó của thế giới, bằng nhiều con đường, dội vào và thấm sâu trong
mảnh đất Việt Nam – nơi mà chính “sự tàn bạo của chủ nghĩa tư bản đã chuẩn bị đất rồi;
chủ nghĩa cộng sản chỉ còn phải làm cái việc là gieo hạt của công cuộc giải phóng nữa
thôi”. Nguyễn Ái Quốc là người gieo hạt, gây mầm cách mạng Việt Nam. Người đã đi từ
2
chủ nghĩa yêu nước đến với chủ nghĩa xã hội. Vời kỳ công của Nguyễn Ái Quốc, chủ nghĩa
Mác – Lênin kết hợp với phong trào yêu nước và phong trào công nhân Việt Nam chuyển
hóa thành một tất yếu đưa đến một sự kiện trọng đại: năm 1930, Đảng Cộng sản Việt Nam
ra đời. Sự kiện này là mốc son đánh dấu sự kết hợp các nhân tố dân tộc và giai cấp, quốc
gia và quốc tế, độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội trong bản chất của Đảng.
Đảng tuyên bố: “Chủ trương tư sản dân quyền cách mạng và thổ địa cách mạng để đi
tới xã hội Cộng sản”. Một cách tự nhiên, ngay sau lời tuyên bố ấy của Đảng, chủ nghĩa Xã
hội không chỉ là mục tiêu lựa chọn mà đã thực sự thúc đẩy lịch sử dân tộc Việt Nam
chuyển mình, là con đường dân tộc Việt Nam đã và đang đi, từ đó dọc theo thế kỷ XX,
sang thế kỷ XXI, và tiếp tục đi cho tới đích cuối cùng. Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ, chỉ có
chủ nghĩa Xã hội, chủ nghĩa Cộng sản mới giải phóng được các dân tộc bị áp bức và những
người lao động trên thế giới khỏi ách nô lệ; chỉ có chủ nghĩa cộng sản mới cứu nhân loại,
đem lại cho mọi người, không phân biệt chủng tộc và nguồn gốc, có một xã hội tốt lành
gắn liền với tự do, bình đẳng, bác ái, đoàn kết, ấm no; bảo đảm việc làm cho mọi người, tất
cả vì niềm vui, hoà bình, hạnh phúc của con người.
Rõ ràng, sự lựa chọn mục tiêu độc lập dân tộc gắn chặt với chủ nghĩa xã hội của Đảng
quan hệ giữa con người với con người, giữa cộng đồng dân tộc này với cộng đồng dân tộc
khác. Toàn bộ khả năng và điều kiện bảo đảm chỉ có thể được tìm thấy và giải quyết bằng
con đường phát triển chủ nghĩa xã hội.
Độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội trở thành hệ giá trị phát triển của Việt Nam, dưới
ngọn cờ của Đảng, trong thời đại ngày nay. Nhận thức và hành động theo sự lựa chọn và
theo hệ giá trị đó, Đảng đã lãnh đạo thành công cuộc Cách mạng Tháng Tám 1945, tiến
hành thắng lợi hai cuộc kháng chiến hoàn toàn không cân sức với “hai đế quốc to”, mở ra
thời kỳ phi thực dân sau Việt Nam cho cả hệ thống thuộc địa và các nước phụ thuộc trên
thế giới.
Qua nửa thế kỷ giành và giữ độc lập dân tộc, xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ
Quốc, đặc biệt 15 năm đổi mới, với hệ giá trị đó, Đảng Cộng sản Việt Nam xứng đáng tiêu
biểu bản lĩnh Việt Nam trong việc giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa, đã tỏ rõ tín độc
lập tự chủ trong mọi đường lối, chính sách đối nội và đối ngoại, đưa đời sống nhân dân lên
ngày một cao hơn, đưa đất nước và dân tộc lên vị thế mới trong khu vực và trên thế giới.
Độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, với Việt Nam không chỉ là mục tiêu, là nhu cầu, là
cương lĩnh hành động, là ngọn cờ hiệu triệu, mà còn là động lực, là niềm tin sắt son của
dân tộc Việt Nam ta. Độc lập dân tộc gắn với chủ nghĩa xã hội là sự gắn kết hai sức mạnh
thành một sức bật mới; là cội nguồn thắng lợi của cách mạng Việt Nam hôm qua, hôm nay
và mai sau.
Thế kỷ XXI mở đầu thiên niên kỷ thứ ba của một thế giới đầy biến động, cũng đồng
thời mở ra một kỷ nguyên hội nhập, đua tranh gay gắt của cộng đồng quốc tế. Dù thời cuộc
biến đổi xoay vần ra sao, dù phải đối mặt với xu thế toàn cầu hoá, thì hệ giá trị độc lập dân
tộc và chủ nghĩa xã hội, trong ý thức và trong hành động vẫn là mục tiêu, lý tưởng, là quốc
bảo phù hợp với xu thế thời đại; sẽ đưa nhân dân ta tiếp tục giành thêm nhiều thắng lợi to
lớn hơn nữa trong sự nghiệp đổi mới, đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá, xây dựng
chủ nghĩa xã hội và bảo vệ vững chắc Tổ Quốc, vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội
công bằng, dân chủ, văn minh, đưa đất nước ta sánh vai cùng các nước trong khu vực và
trên thế giới.
4
nếu không có thầy giáo dạy dỗ cho con em nhân dân thì làm sao mà xây dựng Chủ nghĩa
Xã hội được. Vì vậy nghề thầy giáo rất quan trọng, rất vẻ vang. Ai có ý kiến không đúng
về nghề thầy giáo thì phải sữa chữa".
Bác Hồ của chúng ta đã từng làm thầy giáo nhiều năm, đã từng đào tạo nhiều thế hệ
cách mạng cho nên người rất hiểu công lao to lớn và thầm lặng của người thầy. Lúc còn là
thầy giáo Nguyễn Tất Thành, dạy ở trường Dục Thanh Người rất được học sinh yêu quý,
5
có thể nói đó là nghề đầu tiên trên bước đường đi tìm chân lý của người. Qua những năm
tháng ngắn ngủi trên đất Phan Thiết, Người đã chứng tỏ khả năng cũng như định hướng về
giáo dục, về vai trò của người thầy. Công lao vĩ đại đầu tiên của Người là đã thành lập tổ
chức Thanh niên cách mạng đồng chí Hội, mở lớp đào tạo, rèn luyện cán bộ cho cách mạng
Việt Nam - Đội ngũ những con chim đầu đàn như Lê Hồng Phong, Hồ Tùng Mậu, Lê Hồng
Sơn Trong điều kiện khó khăn, việc mở rộng lớp giảng dạy, từ khâu soạn bài, tổ chúc
thực hiện đều do Hồ chí Minh đảm nhiệm. Chất lượng hiệu quả, tầm quan trọng của sự
nghiệp giáo dục- đào tạo cán bộ đã được lịch sử kiểm nghiệm, chúng ta càng thấy được sự
vĩ đại của nhà giáo dục Hồ Chí Minh.
Để làm tròn nhiệm vụ vẻ vang của người thầy giáo, Hồ Chí Minh đòi hỏi trước hết
người thầy giáo phải cải tạo tư tưởng bản thân mình: "Trước hết phải tẩy sạch ảnh hưởng
giáo dục nô dịch còn sót lại và cần xây dựng tư tưởng dạy học để phục vụ tổ quốc, phục
vụ nhân dân".
Để xứng đáng với danh hiệu "Người kỹ sư tâm hồn","người chiến sĩ trên mặt trận tư
tưởng văn hoá, mỗi người thầy giáo phải không ngừng học tập trau dồi chuyên môn nghiệp
vụ và phẩm chất đạo đức cách mạng của nhà giáo, thực sự vừa "hồng" vừa "chuyên". Để
làm được như vậy thì "giáo viên cũng phải tiến bộ cho kịp thời đại thì mới làm được nhiện
vụ, chớ tự mãn cho mình giỏi rồi thì dừng lại mà dừng lại là lùi bước, là lạc hậu, tự đào thải
mình trước. Phải cố gắng học tập để cải tạo mình, cải tạo con em, cải tạo xãhội. Mà theo
Người cách cải tạo tốt nhất là học tập chủ nghĩa Mác- Lênin và chủ nghĩa Mác- Lênin là cơ
sở, tư tưởng của chế độ mới, là một khoa học về các quy luật phát triển của tự nhiên, xãhội
và tư duy, về sự thắng lợi của chủ nghĩa xãhội, về xây dựng chủ nghĩa cộng sản, là hệ tư
thì thầy giáo phải rèn luyện mình thêm trong thực tiễn đấu tranh của xãhội, tiếp thu lấy chất
lượng sống ở đó mà truyền lại cho thế hệ trẻ: "Thầy giáo và học trò, tuỳ hoàn cảnh và khả
năng cần tham gia vào những công tác xãhội ích nước lợi dân, Những kiến thức thực tiễn
đó mới thật là dòng sữa ngọt lành nuôi dưỡng thế hệ đang lớn lên.
Thấm nhuần tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục, Đảng ta đã nhận thức rõ vị trí, vai trò
của giáo dục. Điều đó đã được Luật giáo dục khẳng định: Giáo dục là quốc sách hàng đầu,
phát triển giáo dục là động lực thúc đẩy sự phát triển của xã hội, đầu tư cho giáo dục là đầu
tư cho phát triển.
Về vai trò, phẩm chất của người giáo viên Văn kiện Hội nghị TWII khoá VIII của Đảng
đã chỉ rõ: "Giáo viên là nhân tố quyết định chất lượng của giáo dục và được xãhội tôn vinh.
Giáo viên phải có đủ đức, tài ". Điều 16, Luật Giáo dục cũng quy định:: "Không truyền
bá tôn giáo, tiến hành các nghi thức tôn giáo trong nhà trường, cơ sở giáo dục khác của hệ
thống giáo dục quốc dân, của cơ quan hành chính nhà nước, của tổ chức chính trị- xã
hội,của lực lượng vũ trang nhân dân". Điều này đòi hỏi nhà giáo phải có thế giới quan Mác
- Lênin.
Vấn đề xây dựng đội ngũ giáo viên là vấn đề trọng tâm của ngành giáo dục, vì vậy
trong thời gian qua Đảng ta đã có nhiều chủ trương, chính sách nhằm nâng cao chất lượng
đội ngũ giáo viên như củng cố và nâng cấp trường học, đặc biệt là các trường sư phạm, có
chính sách thu hút học sinh giỏi vào ngành sư phạm, thực hiện chương trình bồi dưỡng
thường xuyên, bồi dưỡng chuẩn hoá nhằm nhanh chóng đảm bảo số lượng giáo viên, nâng
cao tỉ lệ giáo viên đạt chuẩn, nâng cao phẩm chất và năng lực cho giáo viên. Vì vậy trong
những năm qua nền giáo dục Việt Nam đã có những bước phát triển mạnh mẽ, tuy vậy vẫn
7
chưa đáp ứng được yêu cầu đòi hỏi của xã hội. Điều đó càng làm cho chúng ta thấy rằng,
cần phải quán triệt hơn nữa, vận dụng triệt để hơn nữa tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục.
Hồ Chí Minh là nhà giáo dục kiệt xuất trong thời đại chúng ta, tư tưởng giáo dục của
Người đãvạch ra phương hướng cơ bản của chiến lược phát triển giáo dục ở nưóc ta, đồng
thời phản ánh nguyện vọng chính đáng của nhân dân lao động là được đi học, phản ánh
quy luật khách quan của quá trình xây dựng và phát triển giáo dục là xác định đúng vị trí
chế độ Xã hội chủ nghĩa, vững vàng, không dao động trước bất kỳ khó khăn, thử thách nào.
Cùng với việc thể hiện vai trò tiên phong, gương mẫu, người đảng viên lúc này cần ủng hộ
nhân tố mới, tích cực tham gia đấu tranh chống tham nhũng, chống các tiêu cực xã hội và
tệ nạn xã hội, phê phán những biểu hiện mơ hồ, cực đoan hay tư tưởng sai lệch.
Lập trường giai cấp và bản lĩnh chính trị của đảng viên lúc này được thể hiện là sự kiên
định những vấn đề về quan điểm có tính nguyên tắc mà Đảng ta đã đề ra. Đó là: Độc lập
dân tộc gắn liền với Chủ nghĩa Xã hội là mục tiêu, lý tưởng của Đảng ta, dân tộc ta; Chủ
nghĩa Mác-Lê nin và tư tưởng Hồ Chí Minh là nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho mọi
hành động của Đảng; Đảng Cộng sản Việt Nam là lực lượng lãnh đạo cách mạng Việt
Nam, không chấp nhận “đa nguyên, đa đảng”; Nhà nước Việt Nam là nhà nước của dân, do
dân và vì dân, thể hiện khối đại đoàn kết toàn dân trên nền tảng liên minh của giai cấp công
nhân với giai cấp nông dân và tầng lớp trí thức dưới sự lãnh đạo của Đảng; tập trung dân
chủ là nguyên tắc cơ bản trong tổ chức, sinh hoạt và hoạt động của Đảng; kết hợp chủ
nghĩa yêu nước chân chính và chủ nghĩa quốc tế trong sáng của giai cấp công nhân.
Là tiêu chuẩn hàng đầu của người đảng viên, lập trường giai cấp và bản lĩnh chính trị
được hình thành qua giáo dục và rèn luyện trong tổ chức của Đảng và đồng thời cũng là kết
quả của quá trình tích lũy vốn sống thực tiễn mà người đảng viên trải qua. Vốn sống ấy
chứa đựng cả tri thức và cả kinh nghiệm, bao quát những lĩnh vực hoạt động và những
quan hệ xã hội. Khi đã có vốn sống thực tiễn phong phú, kinh nghiệm dày dặn, cần có thêm
tri thức để phân tích, chắt lọc, khái quát thành giá trị, để có thể tổng kết những vấn đề thực
tiễn, phát triển lý luận, để không rơi vào chủ nghĩa kinh nghiệm cũng như tình trạng tách
rời giữa lý luận và thực tiễn.
Xét về sự phát triển nhân cách của người đảng viên, mối quan hệ giữa vốn sống thực
tiễn và học vấn; giữa kinh nghiệm và lý luận, giữa lý thuyết và thực hành, nếu được xử lý
đúng đắn sẽ tạo nên cơ sở cho sự phát triển tính tích cực và sáng tạo của mỗi người. Người
đảng viên trong công cuộc đổi mới và con người mới được đào luyện trong sự nghiệp xây
dựng Chủ nghĩa Xã hội là con người có học thức, có tư duy khoa học, có tính tư tưởng cao;
đồng thời, cũng là con người thiết thực trong hành động. Phải tránh rơi vào những cực đối
lập sau đây làm cho con người không có sự phát triển lành mạnh về nhân cách: hoặc thô
thiển, thực dụng (sống và hành động tùy tiện, buông thả, chạy theo lợi ích vật chất); hoặc
Năng lực là một khái niệm đa nghĩa và nhiều cấp độ. Người đảng viên không chỉ là con
người hành động một cách chủ động, mà còn phải có năng lực làm việc, năng lực tổ chức
quản lý, năng lực giáo dục quần chúng, năng lực tổng kết thực tiễn, năng lực giao tiếp, đối
thoại, tranh luận một cách dân chủ và có văn hóa. Những năng lực đó không có sẵn, không
hình thành tự động, ngẫu nhiên mà là kết quả của rèn luyện, học hỏi, tích lũy. Xuyên suốt
tất cả những năng lực đó là năng lực phê phán, tự phê phán, sự nhạy cảm, khả năng điều
chỉnh và thích ứng để thường xuyên tự đổi mới theo đúng quy luật. Yêu cầu này cần thiết
cho mọi đảng viên. Nó càng đặc biệt cần thiết đối với các đảng viên ở các cương vị lãnh
đạo, nhất là lãnh đạo cao cấp. Năng lực của người đảng viên ở cương vị này là năng lực
chiến lược, chung đúc trong đó cả tri thức, kinh nghiệm, bản lĩnh chính trị, tài tổ chức và
thuyết phục. Đáp ứng đầy đủ những yêu cầu về năng lực đó đối với các đảng viên và toàn
Đảng là một yêu cầu đặc biệt đối với Đảng lúc này.
3. Về phẩm chất đạo đức, lối sống, phong cách
10
Để thúc đẩy công cuộc đổi mới tới những bước tiến và kết quả cụ thể theo quan điểm
thực tiễn, cần phải tổ chức việc giáo dục đạo đức trong Đảng và trong xã hội sao cho mỗi
người thấm nhuần sâu sắc rằng, đạo đức mới của những người tham gia đổi mới xã hội
là đạo đức hành động, đạo đức trong lao động, trong công việc, trong quan hệ với con
người, trong đấu tranh khắc phục mọi tệ nạn tha hóa để hướng tới sự cao đẹp, hướng tới
việc lành mạnh hóa các quan hệ xã hội.
Đối với người đảng viên, chí phấn đấu cho cá nhân trở nên lương thiện, giữ gìn phẩm
chất cá nhân cho trong sạch là chưa đủ và chưa thể hiện tính tiên phong gương mẫu. Người
đảng viên không thể là người đứng ngoài cuộc đấu tranh loại trừ cái ác, thờ ơ và lảng tránh
trước sự hoành hành của cái ác trong đời sống. Đạo đức hành động đòi hỏi ở họ dũng khí
trong cuộc đấu tranh chống tham nhũng, độc đoán, chuyên quyền, ức hiếp quần chúng; bảo
vệ sự thật, chân lý, lẽ công bằng và các giá trị dân chủ xã hội vì lợi ích công dân và vì lợi
ích chung của xã hội. Dũng khí đó phải biểu hiện trong đấu tranh bảo vệ sự trong sạch,
vững vàng của Đảng, uy tín của Đảng đối với xã hội; đồng thời, còn biểu hiện trong đời
sống chính trị- xã hội, gắn liền mật thiết với các sinh hoạt của nhân dân, của xã hội, tích
4. Về quan hệ với quần chúng nhân dân lao động
Đảng ta đã xác định chế độ chính trị của nước ta là chế độ làm chủ của nhân dân lao
động dưới sự lãnh đạo của Đảng; sức mạnh vô địch của Đảng là mối liên hệ chặt chẽ với
quần chúng nhân dân. Đảng chủ trương phát huy dân chủ, coi dân chủ vừa là mục tiêu vừa
là động lực của công cuộc đổi mới. Mỗi đảng viên, trước hết đảng viên là cán bộ lãnh đạo,
có chức có quyền, phải tôn trọng và phát huy quyền làm chủ của dân, chăm lo đời sống
hằng ngày của quần chúng, tìm hiểu nguyện vọng và lắng nghe ý kiến của quần chúng,
giúp đỡ quần chúng khi gặp khó khăn, kiên quyết đấu tranh chống bệnh quan liêu, mệnh
lệnh, gia trưởng, độc đoán, đặc quyền đặc lợi, trù dập ức hiếp quần chúng và mọi hành vi
vi phạm quyền làm chủ của dân. Đây là một vấn đề hết sức quan trọng, một yêu cầu rất cần
thiết đối với người đảng viên trong điều kiện Đảng lãnh đạo chính quyền. Nó quyết định sự
tín nhiệm của nhân dân đối với đảng viên. Không phải ngẫu nhiên khi còn sống, Bác Hồ
luôn luôn quan tâm đến vấn đề này, nói nhiều về vấn đề này. Người thường nhắc nhở cán
bộ, đảng viên phải thường xuyên rèn luyện đạo đức cách mạng, trau dồi quan điểm và thái
độ đúng đắn đối với quần chúng, coi việc tôn trọng quần chúng, học hỏi quần chúng, có
quan hệ mật thiết với quần chúng là một vấn đề thuộc về phẩm chất, tư cách, đạo đức của
đảng viên.
Đương nhiên, trong quá trình phát huy dân chủ, phải chống thái độ theo đuôi quần
chúng, mị dân, dân chủ hình thức, dân chủ cực đoan. Dân chủ phải đi đôi với kỷ luật và
pháp luật. Dân chủ không có nghĩa là tự do vô tổ chức, vô chính phủ.
Những vấn đề chủ yếu nêu trên không phải chỉ là biểu hiện hợp thời cuộc trong tiêu
chuẩn của đảng viên, là yêu cầu đặc biệt về năng lực hoạt động chính trị- thực tiễn của
người đảng viên, mà còn là sự khẳng định về bản lĩnh chính trị, về ý thức đạo đức, về năng
lực vận động quần chúng, về phương pháp và phong cách công tác của người đảng viên
trong điều kiện mới và tình hình mới.
Liên hệ cụ thể theo nhiệm vụ, vị trí công tác hiện nay của bản thân
Là một giảng viên trẻ được ở lại trường công tác và làm việc. Ngày tôi được kết nạp
Đảng, tôi gọi đó là một bước ngoặt lớn trong cuộc đời mình. Trở thành một "đảng viên trẻ"
12