672
Việc phân chia sử lý một tiến trình giữa client và server nh trên đem lại
nhiều u điểm, nhng cũng có nhợc điểm về mặt chi phí. Việc tập chung tài
nguyên trên server giúp cho việc truy cập đơng giản, kiểm soát tập chung và khả
năng bảo vệ tốt hơn nhng server lại trở thành điểm nhạy cảm duy nhất. Nừu server
bị sự cố, không hoạt động đợc thì kể nh toàn bộ hệ thống cũng không hoạt động
đợc nữa. Ngoài ra, để bảo trì và quản trị server còn đòi hỏi phải có những phần
cứng dự phòng, những phần mềm đặc biệt và những chuyên gia trình độ cao trong
lĩnh vực này. Tất cả những yếu tố đó làm tăng thêm chi phí vận hành mạng.
6.1.4. Giới thiệu về hệ điều hành mạng, gọi tắt
là NOS (Netword Operating
System):
Hệ điều hành là một phần mềm làm nền cho tất cả các ứng dụng và dịch vụ
chạy trên một máy tính. Tơng tự, NOS cho phép nhiều thiết bị thông tin liên lạc
với nhau để chia sẻ tài nguyên qua mạng. NOS thờng đợc chạy trên các server
Unix, Microsoft Windows NT, Windows 2000.
Các chức năng thông thờng của một hệ điều hành trên máy trạm gồm điều
khiển phần cứng, chạy chơng trình và cung cấpgiao diện tiếp với user. Nhiều user
có thể chia sẻ cùng một máy tính nhng không thể sử dụng một máy tính cùng lúc.
hoạt động, công cụ quản lý và theo dõi, khả năng bảo mật, khả năng mở rộng, độ
bền vững và khả năng khắc phục lỗi.
Khả năng hoạt động: NOS phải thực hiện đọc và ghi các file dợc truyền
qua mạng giữa client và server. Server phải có khả năng hoạt động tốt với áp lực
cao khi có nhiều client cùng gửi yêu cầu cùng một lúc. Yêu cầu hoạt động tốt dới
áp lực cao là một tiêu chuẩn hàng đầu cho một NOS.
Khả năng quản lý và theo dõi:
Giao diện quản lý của NOS cung cấp công
cụ để theo dõi, quản lý client và ổ đĩa. Giao diện quản lý của NOS còn cung cấp
công cụ để cài đặt và cấu hình dịch vụ mới. Ngoài ra, server còn đòi
hỏi phải đựơc
thờng xuyên theo dõi và điều chỉnh.
Khả năng bảo mật:
NOS phải bảo vệ nguồn tài nguyên chia sẻ. Việc bảo
mật bao gồm xác minh user, mã hóa để bảo vệ thông tin khi truyền đi giữa client và
server.
Khả năng mở rộng:
Là khả năng phát triển mạng mà không làm giảm hiệu
quả hoạt động của NOS . NOS phải có khả năng chấp nhận thêm user và server
tài nguyên server. Mỗi miền NT phải có một primary domain controller lu cơ sở
dữ liệu quản lý tài khoản (SAM Security Accounts Management Database) và có
một hoặc nhiều backup domain controller, trên đó lu bản copy read-only của
SAM. Khi user muốn truy cập vào hệ thống, thông tin tài khoản đợc gửi đến
SAM. Nừu thông tin tài khoản này có lu trong SAM thì user sẽ đợc xác minh vào
miền NT và truy cập đợc vào tài nguyên hệ thống.
Kế thừa Windows NT, Windows 2000 đợc phát triển cho cả Desktop và
server, Windows 2000 có kỹ thuật Plug-and play, nghĩa là các thiết bị mới đợc
cài đặt vào hệ thống mà không cần khởi động lại. Windows2000 còn có hệ thống
mã hóa File để bảo mật dữ liệu trên đĩa cứng.
Windows2000 đặt các đối tợng nh User, tài nguyên vào một đơn vị nh là
Organizational units (Ous). Việc xác minh quản trị trên mỗi OU đợc ủy thác cho
một User hoặc một nhóm User đặc điểm này cho phếp quản lý chi tiết hơn so với
Windows NT 4.0.
Windows2000 Prossional không đợc thiết kế để làm một NOS hoàn chỉnh. Nó
không cung cấp domain controller, DNS Server, DHCP Server hay bất kỳ dich vụ
nào khác nh windows2000 Server.
Mục đích chính của windows2000 Prossional là tham gia vào domain với t cách là
một hệ điều hành phía client. Các loại phần cứng có thể cài trên hệ thống cũng bị
UNIX là tên của một nhóm các hệ điều hành có nguồn gốc từ năm 1969 ở
Bell Labs. Ngay từ ban đầu UNIX đẵ đợc thiết kế để hỗ trợ đa ngời dùng và đa
tác dụng. UNIX là hệ điều hành đầu tiên có hỗ trợ các giao thức mạng Internet. lịch
sử phát triển có hơn 35 năm của UNIX là một quá trình phức tạp, trong đó có rất
nhiều công ty và tổ chức đóng góp vào sự phát triển của nó.
Đầu tiên, UNIX đợc viết bằng hợp ngữ (assembly language) và UNIX chỉ
chạy đợc trên một loại máy tính đặc biệt. Vào năm 1971, Dennis Ritchie cho ra
đời ngôn ngữ lập trình C. Năm 1973, Ritchie cùng với một thành viên của Bell Lasb
là nhà lập trình Fen Thompson viết lại chơng trình UNIX vời ngôn ngữ C. C là
một ngôn ngữ lập trình bậc cao, do đó UNIX đã co thể chuyển sang chạy trên các
loại máy tính khác. Quyết định phát triển hệ điều hành mới này là chìa khóa thành
công của UNIX. Trong suốt thập niên 70, UNIX đợc phát triển bởi các nhà lập
trình ở Bell Labs và một số trờng đại học nh University of California ở Berkeley.
Khi UNIX lần đầu tiên trở thành một thơng hiệu trên thị trờng trong thập
niên 80, UNIX chỉ đợc sử dụng trên các server mạng loại mạnh chứ không sử
dụng trên máy tính để bàn. Ngày nay, UNIX đã có nhiều phiên bản khác nhau nh:
Hewlett Packard UNIX (HP-UX).
Berkeley Software Design, Inc. (BSD UNIX), có các sản phẩm nh
FreeBSD.
đây, kể cả Linux, ngời ta đang cố gắng thay đổi hình ảnh này.
6.1.6.2. Nguồn gốc của Linux:
Vào năm 1991, một sinh viên ngời Phần Lan tên là Linus Torvalds bắt tay
nghiên cứu hệ điều hành cho máy tính Intel 80386. Torvalds đã không bằng lòng
với trạng thái hoạt động của các hệ điều hành desktop, ví dụ nh DOS và sự tốn
kém bởi chi phí bản quyền của UNIX. Torvalds đã phát triển hệ điều hành hoạt
động giống UNIX nhng sử dụng mã phần mềm mở hoàn toàn miễn phí cho mọi
ngời sử dụng.
677
Việc làm của Torvalds đã dẫn đến một hiệu ứng cộng tác toàn cầu, cùng
phát triển Linux làm một hệ điều hành mã nguồn mở, cỏ hình thức và cách sử dụng
tơng tự nh UNIX. Vào cuối thập niên 90, Linux đã trở thanh kẻ có thể thay thế
cho UNIX trên server và cho Windows trên desktop.
Các phiên bản của Linux hiện nay có thể chạy trên hầu hết các bộ xử lý 32 bit, bao
gồm Intel 80386, Motorola 68000, Alpha và PowerPC.
Cũng nh UNIX Linux cũng có nhiều phiên bản khác nhau. Một số phiên
bản có thể tải miễn phí từ web và một số đợc bán. Sau đây là một số phiên bản
thông dụng nhất của Linux:
chạy trên Linux. Ngoài ra, một số công ty nh Corel cũng đang làm phiên bản
Linux phù hợp với hệ thống của họ cùng với các phần mềm thông dụng khác.
6.1.6.3.nối mạng
với linux:
Hiện nay trong Linux đã có các thành phần về mạng, cho phép kết nối LAN
và thiết lập kết nối quay số ra Internet TCP/IP đợc tích hợp vào nhân của Linux
chứ không triển khai thành một hệ thống con riêng biệt.