MẤY KINH NGHIỆM VỀ TIẾP CẬN VÀ PHÁT
TRIỂN
KINH TẾ TRI THỨC TRÊN THẾ GIỚI
NGUYỄN XUÂN TẾ
Tiến sĩ Khoa học chính trị, Đại học Luật TP. Hồ Chí
Minh
Báo cáo chính trị của Ban chấp hành Trung ương
Đảng khóa VIII tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ
IX đã chỉ rõ: “Phát huy những lợi thế của đất nước,
tận dụng mọi khả năng để đạt trình độ công nghệ tiên
tiến, đặc biệt là công nghệ thông tin và công nghệ
sinh học, tranh thủ ứng dụng ngày càng nhiều hơn, ở
mức độ cao hơn và phổ biến hơn những thành tựu
mới về khoa học và công nghệ, từng bước phát triển
kinh tế tri thức”. Bài viết sau đây giới thiệu một số
kinh nghiệm về tiếp cận và phát triển kinh tế tri thức
ở một số nước trên thế giới.
Nền kinh tế tri thức (knowledge economy hoặc
knowledge based economy: kinh tế dựa trên tri thức;
hoặc knowledge driven economy: kinh tế được tri
thức dẫn dắt) là nền kinh tế trong đó quá trình sáng
tạo và khai thác tri thức trở thành thành phần chủ đạo
trong quá trình tạo ra của cải, nâng cao chất lượng
cuộc sống. Cũng có thể định nghĩa giản đơn hơn như
năm 1996, Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế
(OECD) đã đưa ra: kinh tế tri thức là nền kinh tế
trong đó tri thức đóng vai trò then chốt đối với sự
phát triển kinh tế – xã hội loài người.
Chúng ta đều đã rõ, trước đây trong nền kinh tế nông
nghiệp, vốn tri thức của con người còn quá mỏng
manh, công nghệ lại đang trong tình trạng chưa phát
Quả vậy, chưa bao giờ vai trò động lực của tri thức,
của khoa học và công nghệ đối với sự phát triển kinh
tế xã hội trở nên rõ ràng, nổi bật như ngày nay.
Nền kinh tế tri thức, trong thực tế đã tạo ra những
biến đổi to lớn về mọi mặt hoạt động của con người
và xã hội: đó là cơ sở hạ tầng mới của xã hội mới –
xã hội thông tin. Nền kinh tế này xuất hiện trong mọi
lĩnh vực, trong toàn bộ cơ cấu nền kinh tế quốc dân.
Ở Bắc Mỹ và một số nước Tây Âu, nền kinh tế tri
thức đã bắt đầu hình thành. Hiện nay ở những nước
này riêng về kinh tế thông tin (những ngành kinh tế
dựa chủ yếu vào công nghệ thông tin), trong đó kinh
tế tri thức là chủ yếu đã chiếm khoảng 45% - 50%
GDP. Trong các nước OECD, kinh tế tri thức đã
chiếm hơn 50% GDP, công nhân trí thức chiếm trên
60% lực lượng lao động. Nhiều người ước tính vào
khoảng năm 2030 các nước phát triển đều trở thành
các nền kinh tế tri thức.
Các nước ở Đông Á và Đông Nam Á cũng đang nỗ
lực thực hiện chiến lược quốc gia chuẩn bị, đón nhận
và vận dụng kinh tế tri thức. Trước hết, xin nói đến
Nhật Bản. Theo báo cáo của Cố vấn kinh tế Takashi
Kiuchi thuộc Ngân hàng Shinsei ở Tokyo (Nhật Bản)
tại hội thảo “Các xu hướng và vấn đề năm 2001:
Tăng trưởng kinh tế dựa trên tri thức và những tác
động xã hội – chính trị ở Đông Á” tiến hành tại
Tokyo ngày 25 và 26 tháng 10 năm 2000, Thủ tướng
Chính phủ Mori đã thật sự nhanh chóng lựa chọn
công nghệ thông tin là một tâm điểm quan trọng duy
nhất trong sáng kiến chính sách của mình khi cuộc
về vấn đề nền kinh tế tri thức có phải là một bộ phận
quan trọng của nền kinh tế thế giới hay không, đã
diễn ra sôi nổi trong giới khoa học Trung Quốc.
Nhưng hai năm gần đây, một số đã cho rằng nền kinh
tế tri thức không chỉ tồn tại trong nhận thức mà đã trở
thành một thực tế trong đời sống kinh tế của các nước
tiên tiến cũng như ở Trung Quốc. Theo nhà nghiên
cứu Tian Zhong Qing thì trong vòng 10 đến 20 năm
đầu của thế kỷ XXI, Trung Quốc có nhiều điều kiện
thuận lợi để phát triển mạnh mẽ nền kinh tế tri thức
vì những lý do sau:
- Một là, Chính phủ trung ương đã ban hành chiến
lược “thúc đẩy nền kinh tế dựa trên khoa học và giáo
dục”.
- Hai là, Trung Quốc đã thiết lập một cơ sở nghiên
cứu khá vững chắc về khoa học cơ bản và công nghệ
với một hệ thống làm việc có sự tính toán kỹ lưỡng
đến nhu cầu hiện tại và sự phát triển trong tương lai.
- Ba là, việc cải cách hệ thống quản lý trong nghiên
cứu khoa học và công nghệ đã đạt được nhiều tiến
bộ.
- Bốn là, Trung Quốc đang đẩy nhanh việc hình thành
cơ chế đổi mới của mình với mục tiêu làm cho sức
mạnh của đổi mới đạt đến mức độ của các quốc gia
tiên tiến trung bình vào năm 2010.
- Năm là, sự phát triển nhanh của các ngành công
nghệ cao. Thí dụ các ngành điện tử và thông tin đã
nằm trong 10 ngành công nghiệp chủ yếu của Trung
Quốc.
- Sáu là, sự hình thành các công viên công nghệ cao.
nước này là một nước nông lâm nghiệp, dân số nông
nghiệp chiếm trên 70%, nay chỉ còn 6%, rừng trước
đây giữ vai trò chủ yếu trong kinh tế nay chỉ chiếm
không đến 3% GDP. Nước này từ kinh tế nông
nghiệp đi nhanh vào kinh tế tri thức, hiện nay đang
đứng đầu thế giới về tỷ lệ số người sử dụng Internet
và điện thoại di động.
Một trong những đặc điểm quan trọng nhất để phát
triển kinh tế tri thức là lao động phải qua đào tạo ở
trình độ cao. Nguồn lao động ấy hiện nay đang ở
trong các trường học. Nâng cao chất lượng giáo dục
đào tạo để đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế tri thức,
tiến hành thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện
đại hóa đất nước là một trong những nhiệm vụ quan
trọng thu hút sự quan tâm của toàn xã hội.
Về vấn đề này, Giáo sư Phạm Minh Hạc trong bài:
“Kinh tế tri thức và giáo dục – đào tạo, phát triển con
người” (Nhân Dân số ra ngày 10/7/2000) đã nêu rõ
nền kinh tế tri thức đòi hỏi phải có một cách nhìn mới
đối với giáo dục và có đề xuất một số biện pháp chiến
lược chấn hưng và phát triển giáo dục đào tạo phục
vụ công nghiệp hóa và hiện đại hóa. Là người từng
giữ cương vị phụ trách Bộ Giáo dục và đã viết nhiều
cuốn sách bàn về giáo dục, nên các biện pháp ông
đưa ra đều có tính thuyết phục đối với mọi người. Vì
vậy, chúng tôi chỉ nhấn mạnh thêm phương hướng
mới để phát triển giáo dục: đó là giáo dục suốt đời,
phổ cập công nghệ trên cơ sở giáo dục nhân cách
theo tinh thần giáo dục nhân văn, nhân bản. Cũng cần
nhắc lại là quan điểm giáo dục suốt đời do UNESCO
công nghệ thông tin, trong cuộc cách mạng số hóa,
những phát minh công nghệ khoa học lớn đều dính
đến toán học, những lĩnh vực nghiên cứu nóng nhất
ngày nay đều sử dụng toán ở trình độ rất cao, hãng
IBM đã trả lương cho một nhà toán học hàng chục
năm chỉ với nhiệm vụ tự do theo đuổi những ý tưởng
toán học của mình, nhờ đó ông này đã phát minh ra
lý thuyết Fractals ngày nay có ứng dụng rộng rãi,
chẳng những trong công nghệ thông tin mà cả nhiều
lĩnh vực khác, kể cả nghệ thuật.
Ngoài ra, phải kể đến Ấn Độ là quốc gia đã đạt được
thành công bước đầu trong việc hàng năm đưa hàng
chục nghìn chuyên gia và công nhân lành nghề sang
nghiên cứu và làm việc tại các trung tâm công nghệ
cao của Mỹ. Nhiều người trong số họ thành đạt, nắm
bắt được tri thức tiên tiến, trở về quê hương góp phần
phát triển kinh tế đất nước.
Và ngay trong khu vực các nước ASEAN, Chính phủ
Singapore từ lâu đã thừa nhận tầm quan trọng của
nguồn vốn con người như một nguồn lực cơ bản cho
phát triển kinh tế. Bên cạnh việc đầu tư mạnh vào
giáo dục và đào tạo nguồn nhân lực, Chính phủ đã
mở rộng tối đa việc tuyển dụng những nhân công của
các công ty đa quốc gia nước ngoài ngay từ khi bắt
đầu quá trình công nghiệp hóa, và thực hiện một
chính sách năng động để thu hút lao động có kỹ năng
và tài năng ở nước ngoài vào tất cả các lĩnh vực của
nền kinh tế, bao gồm cả khu vực công cộng. Song,
việc dịch chuyển hướng tới một nền kinh tế dựa trên
tri thức đã làm tăng mạnh vốn đầu tư vào phát triển
phối hợp gửi những người giỏi nhất đi học ở các
trường Đại học danh tiếng ở nước ngoài, nhập khẩu
các thiết bị công nghệ mới nhất, li-xăng bằng sáng
chế công nghệ từ những công ty và thể chế ở nước
ngoài, khuyến khích các công ty đa quốc gia nước
ngoài chuyển giao công nghệ vào những hoạt động
của họ ở Singapore, thu hút những tài năng ở nước
ngoài và tiến hành những hoạt động học tập mô
phỏng khác nhau.
Trên đây là một số việc làm của một vài nước khi
tiếp cận và phát triển kinh tế tri thức. Với Việt Nam,
để tiến tới nền kinh tế tri thức, chúng ta cần tiến hành
công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, phát triển
nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ
nghĩa, chủ động hội nhập kinh tế quốc tế đi đôi với
việc giữ gìn và phát huy bản sắc dân tộc đồng thời
học tập những bài học thành công của những nước đi
trước. Thực hiện tốt các giải pháp trên đây, chúng ta
tin chắc sẽ gặp nhiều thuận lợi trên bước đường tiến
vào nền kinh tế tri thức.