VỊ TRÍ, CẤU TẠO, HÌNH DẠNG CỦA NẤM pot - Pdf 20

VỊ TRÍ, CẤU TẠO, HÌNH DẠNG CỦA NẤM 1.1. Vị trí của nấm trong thế giới sinh vật:
Nấm (Fungi hoặc Mycetes) là những sinh vật, cơ thể được cấu tạo bởi một
hoặc nhiều tế bào. Trong cấu tạo tế bào nấm có nhân thực, đặc điểm này khác với
vi khuẩn (Schizomycetes hay bacteria). Nhưng ngược lại nấm không có diệp lục tố
(chlorophyll), vì thế nấm không phải là sinh vật tự dưỡng vì không tự tổng hợp ra
cacbonhydrat và protit từ các chất đơn giản. Nấm là sinh vật dị dưỡng
(heterotroph). Nấm sống theo kiểu hoại sinh (saprophyte) trên những cơ thể động
vật hay thực vật đã chết hoặc nấm sống theo kiểu ký sinh (parasite) trên những
phần cơ thể sống khác. Một số loài nấm có thể sống theo cả hai cách sống trên.
Phương thức sống của thực vật là tự dưỡng (autotroph) còn của động vật là theo
phương thức nhai (holozoikus). Trong khi đó nấm nhận các chất dinh dưỡng cần
thiết từ những môi trường bên ngoài bằng cách hấp thụ (chylotroph).
Nấm gần gũi với thực vật hơn vì cấu tạo của nấm cũng có thành tế bào, nấm
cũng không có khả năng di động như thực vật. Do những đặc điểm này nên trước
đây người ta xếp nấm là một thành viên của giới thực vật. Nhưng theo quan niệm
mới thì nấm không phải là thực vật, cũng không phải là động vật mà nó được coi
như một giới riêng. Dựa trên những nghiên cứu người ta thấy cấu tạo của tế bào
nấm khác với cấu tạo của tế bào thực vật như sau:
+ Thành tế bào của nấm có chứa hemicelluloza và kitin (trừ một vài loài trong
lớp Oomycetes thành tế bào chứa celluloza), ngược lại thành tế bào thực vật cao
cấp chứa celluloza.
+ Trong tế bào thực vật thường có thể lưới nội tương (reticulum endoplasmatic)
còn trong tế bào nấm ít thấy. Trong tế bào nấm thấy ribôsôm và những ribôsôm
này thường không kết hợp với lưới nội tương mà ở dạng phân tán trong nguyên
sinh chất.
+ Trong tế bào nấm hình dạng của ti lạp thể (mitochondria) không đều, ít cứng
hơn so với ti lạp thể của tế bào thực vật.
+ Lomasom: là cơ quan được cấu tạo bởi chất không đồng nhất, nó nằm giữa


Vi khuẩn bacteria
Tảo Lam Cyanophyta
1.2. Hình dạng đại thể của nấm:
Tế bào nấm phát triển rồi phân nhánh tạo nên sợi nấm, từ sợi nấm này tiếp tục
phát triển phân nhánh tạo nên hệ sợi nấm chằng chịt ở trên môi trường. Trong sợi
nấm có vách ngăn phân chia các tế bào nấm với nhau. Những hệ sợi nấm tạo nên
khuẩn lạc mà mắt người ta có thể quan sát được.
Theo chức năng đặc điểm của từng hệ sợi nấm mà người ta thường chia ra làm
hai loại hệ sợi:
+ Hệ sợi nấm cơ chất: phát triển ăn sâu vào cơ chất (môi trường), nhiệm vụ
của hệ sợi nấm này là lấy thức ăn từ môi trường xung quanh để dinh dưỡng và
phát triển.
+ Hệ sợi nấm không khí: phát triển trên bề mặt môi trường và thường nhô lên.
Hệ sợi nấm này gồm những sợi nấm không có cơ quan sinh sản (vegetative) và
những loại sợi nấm “không khí” (aerial hyphae), những sợi nấm này mang những
cơ quan sinh sản vô tính hay hữu tính (hình 1.2).

Hình 1.2: Hình dạng đại thể của nấm.
1. Hệ sợi nấm cơ chất. 3. Hệ sợi nấm.
2. Khuẩn lạc phía trên môi trường. 4. Cơ quan sinh sản mang bào
tử.
1.3. Cấu tạo của tế bào nấm:
Tế bào nấm thường có các thành phần chủ yếu sau: vỏ tế bào, thành tế bào,
lomasom, màng nguyên sinh chất, nguyên sinh chất, thể lưới nội mô, nhân tế bào,
ty lạp thể, không bào, ribosom.
+ Vỏ tế bào: vỏ tế bào nấm là một màng được cấu tạo bởi polysaccarit hoặc
mucopolysaccarit, lớp màng này bao quanh tế bào nấm ở phía ngoài cùng, hơi
dính. Nhiệm vụ của vỏ là bảo vệ tế bào, chống khô, giữ độ ẩm thích hợp cho tế bào
hoạt động. Cấu tạo hoá học vỏ tế bào có một phần giống như cấu tạo của thành tế

sắc thể/hoặc nhiều thể nhỏ/polysom/. Trong thể lưới nội tương diễn ra nhiều quá
trình tổng hợp như tổng hợp axit béo…
+ Sferosom: là những hạt mỡ được bao bọc bằng một lớp màng bắt nguồn từ
thể nội tương. Những hạt mỡ này làm nhiệm vụ chuyên chở những chất dự trữ vào
không bào. Sferosom có thể coi là tiền lizosom (primer lizosom).
+ Diktiosom (dụng cụ “Golgi”): được tạo bởi những nốt sần kết hợp lại với
nhau và được bao bọc bởi một lớp màng bắt nguồn từ lưới nội tương. Nhiệm vụ
của cơ quan này là chuyên chở những chất cần thiết và những men cho quá trình
sinh tổng hợp thành tế bào và màng nguyên sinh chất.
+ Nhiễm sắc thể (ribosom): trong nguyên sinh chất của tế bào nấm có thể tìm
thấy nhiễm sắc thể. Hình dạng, kích thước và chức năng cũng giống như nhiễm
sắc thể của những tế bào có nhân khác. Nhiễm sắc thể thường dính vào mặt ngoài
của không bào và của lưới nội tương. Sự “tích tụ” nhiễm sắc thể dẫn đến tạo ra
nhiều thể nhỏ là dấu hiệu hoặc là kết quả của quá trình tổng hợp protit.
+ Không bào: là một “túi” được bao bọc bởi một màng xuất phát từ lưới nội
tương. Trong không bào là môi trường lỏng có các chất điện giải, các chất chuyển
hoá, các chất dự trữ, enzym. Do vai trò của không bào trong “tiêu hoá” nên có thể
coi không bào là lizosom thứ hai. Trong tế bào có thể thấy một không bào lớn
hoặc nhiều không bào nhỏ. Vai trò áp lực đệm điều hoà sự thẩm thấm và vai trò áp
lực đệm thủy tĩnh của không bào rất quan trọng trong quá trình phân chia tế bào
gián phân (mitozis) cũng như trong quá trình lớn lên của tế bào.
+ Nhân: trong tế bào nấm luôn có nhân thực với hình dạng rõ rệt và dễ dàng phân
biệt với các thành phần khác trong nguyên sinh chất.
- Nhân có hình dạng kích thước nhất định và được bao bọc bởi hai lớp màng
bắt nguồn từ lưới nội tương. Màng nhân ngăn cách nhân với các thành phần khác
của nguyên sinh chất.
- Cấu trúc của nhân: phía trong nhân là hạch nhân, cromatin, chất nhân. Cấu
trúc và chức năng nhân tế bào nấm cũng giống như cấu trúc và chức năng của
nhân những tế bào khác. Nhưng trong quá trình phân chia tế bào thì thể “trung
tâm” chỉ đạo quá trình phân chia tách cromasom không xảy ra ở ngoài mà được

+ Sợi nấm tạo những vòng xoắn dạng lò xo: trong một vài loài nấm da, người
ta thấy một số đầu cuối của sợi nấm tạo nên những vòng xoắn, có thể là một vòng,
có thể là nhiều vòng. Những vòng xoắn này không phân nhánh, không có vách
ngăn, phía ngoài sợi nhẵn và thường mảnh. Vòng xoắn thường có hai dạng: dạng
vòng xoắn cuộn đều sát vào nhau và dạng giống lò xo bị giãn (hình 1.4-2).
+ Sợi nấm có dạng hình vợt: một số loài nấm thường xuất hiện những sợi nấm
có dạng hình cái vợt. Trên những sợi nấm này từng đoạn phình ra rồi thuôn lại tạo
nên hình vợt (hình 1.4-3).
+ Sợi nấm có dạng
hình “lược thưa”: một số
loài nấm như Microsporum
audouinii thường xuất hiện
những sợi nấm có dạng
hình “lược thưa” rất đặc
hiệu. Một phía sợi nấm
xuất hiện những sợi nhỏ
và thưa trông giống như
một chiếc lược thưa đơn giản (hình 1.4-4).
+ Sợi nấm có dạng hình “đinh” ở cuối: một số sợi nấm ở đầu cuối thường có bào tử áo
(chlamydospora) hình dạng giống như hình “đinh” (hình 1.4-5).
Hình 1.4: Một số dạng sợi nấm đặc biệt.
1. Sợi nấm dạng cuộn; 2. Sợi nấm dạng lò xo; 3. Sợi nấm dạng vợt;

4. Sợi nấm dạng “lược thưa”; 5. Sợi nấm có bào tử áo ở cuối “hình
đinh”.

1.4.2. Những cơ quan sinh sản vô tính của nấm da:
Bằng cách sinh sản vô tính, nấm da thường tạo ra một số cơ quan sinh sản vô
tính mà ngày nay được gọi với tên chung là conidium hoặc bào tử conidium. Theo
kích thước có hai loại bào tử là microconidium (bào tử nhỏ) và macroconidium

Arthrospora (bào tử đốt): trong sợi nấm sinh nhiều ngăn gần nhau, sợi nấm đứt
ngang các ngăn thành các đốt rời nhau, mỗi đốt gọi là một bào tử đốt. Bào tử đốt
thường được tạo thành khi những loài nấm da gây bệnh trên động vật hay trên da,
tóc của người (hình 1.8).
Hình 1.9: Bào tử áo.
+ Chlamydospora (bào tử áo): đây
cũng là một dạng bào tử vô tính, hình
tròn hay không hoàn toàn tròn, thành dày
(hình 1.9). Bào tử áo thường xuất hiện khi điều kiện môi trường không thuận lợi.
Hầu hết các loài nấm da đều tạo ra bào tử áo với số lượng khác nhau tùy loài. Loài
Epidermophyton floccosum thường tạo ra nhiều bào tử áo.
1.4.3. Cơ quan sinh sản hữu tính:
Nấm da cũng tạo cơ quan sinh sản hữu tính gọi là thể quả (gymnothecium). Chỉ
một số loài có tạo ra cơ quan sinh sản hữu tính, còn một số loài khác thì chưa tìm
thấy.
Hình 1.7:
Bào tử lớn thành chùm củ
a
Epidermophyton floccosum
.

Hình 1.8
: Bào t


đ


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status