Mối quan hệ của lạm phát và việc gia tăng hoạt động cho vay thiêu dùng: Thực trạng và giải pháp - Pdf 20


Lời nói đầu:
Nếu như nói đến Tín dụng là chỉ nói đến sự chuyển giao vốn giữa các chủ thể với
nhau, thì Tín dụng Tiêu dùng làm người ta nghĩ ngay đến mục đích của việc chuyển
giao đó. Có thể nói đây là mảng nghiệp vụ của ngân hàng tiếp cận gần nhất với cuộc
sống của người lao động, nhằm hỗ trợ họ trong việc nâng cao đời sống vật chất và
tinh thần.
Nhu cầu của con người ngày càng được tăng lên cùng với sự phát triển của kinh tế
xã hội, kèm theo đó là hàng loạt các đòi hỏi cần được thoả mãn. Khả năng tài chính
trở thành yếu tố rất quan trọng để tài trợ cho những nhu cầu đó, nhưng trong nhiều
trường hợp nhu cầu tiêu dùng thường xuất hiện trước khi quỹ đầu tư cá nhân được
hình thành. Tức là có sự tách biệt về yếu tố thời gian đối với nhu cầu tiêu dùng và
khả năng tài chính của con người. Khi đó người ta sử dụng Tín dụng Tiêu dùng như
là sự ứng trước của quỹ đầu tư cá nhân sẽ được hình thành trong tương lai để thoả
mãn các nhu cầu trong hiện tại. Chính vì mục đích đó nên ngay từ khi Ngân hàng
Nhà nước đưa ra chủ trương kích cầu bằng Cho Vay Tiêu Dùng và đươc thực hiện
bởi các Ngân hàng Thương mại, thì loại hình này đã nhận được sự hưởng ứng tích
cực từ phía người lao động.
Tín dụng Tiêu dùng không những đem lại lợi nhuận cho ngân hàng mà còn mang ý
nghĩa xã hội sâu sắc, góp phần cải thiện đời sống của người lao động ngày một tốt
hơn; đồng thời nó là sợi dây gắn kết giữa người lao động với cơ quan, doanh
nghiệp, nơi họ làm việc; từ đó có thể tăng năng lực lao động và khả năng cống hiến
cho xã hội. Hơn thế nữa, cùng với xu thế đa dạng hoá trong hoạt động của Ngân

hàng Thương mại, và với sự cạnh tranh gay gắt trong việc giải quyết đầu ra cho

thanh toán.
2. Chức năng của Ngân hàng thương mại:
Ngân hàng thương mại có các chức năng chủ yếu sau:
2.1 Ngân hàng thương mại là một định chế tài chính trung gian :
Ngân hàng thương mại thực hiện chức năng trung gian tài chính khi ngân hàng
đứng giữa thu nhận tiền gửi của người gửi tiền để cho vay người cần vay tiền hoặc
làm môi giới cho người đầu tư.
Thực hiện chức năng này, ngân hàng thương mại thực sự là một “ cầu nối” giữa
những người có tiền muốn cho vay hoặc muốn gửi ở ngân hàng với những người
thiếu vốn cần vay. Ở đây ngân hàng thương mại vừa là người đi vay vừa là người
cho vay. Ngân hàng thương mại góp phần tạo lợi ích công bằng cho cả 3 bên trong
quan hệ : Người gửi tiền, ngân hàng và người vay. Thông qua chức năng này, ngân
hàng thương mại thực sự huy động được sức mạnh tổng hợp của nền kinh tế vào
quá trình sản xuất và lưu thông hàng hoá, thực hiện các dịch vụ tiện ích cho xã hội,
góp phần thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế.
2.2 Ngân hàng thương mại vừa là thủ quỹ vừa là trung gian thanh toán của khách
hàng :

Trong quan hệ kinh doanh thương mại, nếu khối lượng giao dịch lớn thì việc thanh
toán sẽ gặp khó khăn và cần có một tổ chức đứng ra đảm nhiệm công việc này.
Ngân hàng thương mại đã đứng ra thực hiện công việc đó nên nó có ý nghĩa rất lớn
trong việc thúc đẩy quá trình lưu thông hàng hoá, an toàn và tiết kiệm chi phí. Nó
tạo nên mối quan hệ khăng khít giữa ngân hàng và khách hàng. Vì vậy, quan hệ này
đã tạo ra những tác động tích cực đối với tiến trình tăng trưởng và phát triển kinh tế.
Qua việc thực hiện nghiệp vụ thanh toán hộ thì ngân hàng đã trở thành thủ quỹ cho
khách hàng thông qua việc mở tài khoản tiền gửi cho khách hàng tại ngân hàng.
Việc thanh toán giữa các khách hàng được thực hiện bằng cách trích chuyển tiền từ

a.Vốn điều lệ và các quỹ :
Vốn điều lệ và các quỹ của ngân hàng được gọi là vốn của ngân hàng, là nguồn vốn
khởi đầu và được bổ sung trong quá trình hoạt động.
b.Vốn huy động :
Vốn huy động là nguồn vốn chủ yếu của ngân hàng thương mại, được huy động từ
dân cư và các tổ chức kinh tế bằng nhiều hình thức: tiền gửi không kì hạn của đơn
vị, cá nhân; tiền gửi tiết kiệm không kì hạn hoặc có kì hạn; phát hành kì phiếu, trái
phiếu; các khoản tiền gửi khác.

c.Vốn đi vay:
Nguồn vốn đi vay có vị trí quan trọng trong tổng nguồn vốn , bao gồm:
- Vốn vay trong nước: vay ngân hàng trung ương và các ngân hàng thương mại
khác.
- Vốn vay Ngân hàng nước ngoài.
d.Vốn tiếp nhận:
Đây là các nguồn tiếp nhận từ các tổ chức tài chính ngân hàng, từ Ngân Sách Nhà
nước để tài trợ theo các chương trình, dự án về phát triển kinh tế xã hội, cải tạo
môi sinh theo đúng đối tượng và mục tiêu đã được xác định.
e.Vốn khác:
Đó là các nguồn vốn phát sinh trong quá trình hoạt động của ngân hàng ( đại lý,
chuyển tiền, , các dịch vụ ngân hàng ).
3.2 Nghiệp vụ sử dụng vốn :
Nghiệp vụ cho vay và đầu tư là nghiệp vụ sử dụng vốn quan trọng nhất, quyết định
đến khả năng tồn tại và hoạt động của ngân hàng thương mại. Thành phần tài sản có
( Assets ) của ngân hàng gồm:
a.Dự trữ ( Reserves ):
Dự trữ là một bộ phận cần thiết và tất yếu đối với mọi Ngân hàng. Vấn đề bảo

- Nhận bảo quản các tài sản quí giá, các giấy tờ, chứng thư quan trọng của dân
chúng.
- Bảo quản, mua bán hộ chứng khoán theo uỷ nhiệm của khách hàng.
- Kinh doanh mua bán ngoại tệ, vàng, bạc, đá quý.
- Tư vấn tài chính, giúp đỡ các công ty, xí nghiệp phát hành cổ phiếu, trái
phiếu v v
4. Các hình thức tín dụng của ngân hàng thương mại:
4.1 Căn cứ theo thời hạn cho vay :
- Cho vay ngắn hạn : Loại cho vay này có thời hạn đến 12 tháng và
được sử dụng để bù đắp sự thiếu hụt vốn lưu động của các doanh nghiệp và các nhu
cầu chi tiêu ngắn hạn của cá nhân.
- Cho vay trung hạn : Là loại cho vay có thời hạn trên 12 tháng đến 5 năm. Tín dụng
trung hạn chủ yếu được sử dụng để đầu tư mua sắm tài sản cố định, cải tiến đổi mới
thiết bị, công nghệ, mở rộng sản xuất kinh doanh, xây dựng các dự án mới có qui
mô nhỏ và thời gian thu hồi vốn nhanh.
- Cho vay dài hạn : Loại cho vay này có thời hạn trên 5 năm. Tín dụng
dài hạn được sử dụng để cấp vốn cho xây dựng cơ bản như đầu tư xây dựng các xí
nghiệp mới, các công trình thuộc cơ sở hạ tầng, cải tiến và mở rộng sản xuất có qui
mô lớn.
4.2 Căn cứ theo tính chất đảm bảo của vốn vay :
- Tín dụng có đảm bảo không bằng tài sản: Là tín dụng không có tài
sản cầm cố, thế chấp hoặc bảo lãnh của người thứ ba, mà việc cho vay chỉ dựa vào

phương án vay vốn khả thi, uy tín của bản thân khách hàng hoặc của người bảo lãnh

- Lãi suất cho vay tiêu dùng cao vì có chi phí lớn nhất và rủi ro cao nhất
trong danh mục cho vay của ngân hàng do cho vay tiêu dùng có tính nhạy cảm theo
chu kì. Nó tăng lên trong thời kì nền kinh tế mở rộng, khi mà mọi người dân cảm
thấy lạc quan về tương lai. Ngược lại, việc vay mượn từ ngân hàng sẽ hạn chế khi
nền kinh tế rơi vào tình trạng suy thoái.
- Khi vay tiền, người tiêu dùng dường như kém nhạy cảm với lãi suất. Người
tiêu dùng quan tâm đến khoản tiền họ phải trả hàng tháng hơn là lãi suất mà họ phải
chịu.
- Mức thu nhập và trình độ dân trí có tác động rất lớn đến việc sử dụng các
khoản tiền vay của người tiêu dùng.
- Tư cách của khách hàng là yếu tố khó xác định song lại rất quan trọng,
quyết định sự hoàn trả của khoản vay.
2. Phân loại cho vay tiêu dùng:
2.1 Căn cứ vào mục đích vay:
- Cho vay tiêu dùng cư trú : Là các khoản cho vay nhằm tài trợ cho nhu cầu mua
sắm, xây dựng hoặc và cải tạo nhà ở của khách hàng là cá nhân hoặc hộ gia đình.

- Cho vay tiêu dùng phi cư trú : Là các khoản cho vay tài trợ cho việc trang trải các
chi phí mua sắm xe cộ, đồ dùng gia đình, chi phí học hành, giải trí và du lịch
2.2 Căn cứ vào hình thức cho vay:
- Cho vay tiêu dùng trực tiếp, bao gồm các phương thức:
- Cho vay trả theo định kì: Đây là phương thức cho vay mà trong đó khách hàng vay
và trả trực tiếp Ngân hàng với mức trả và thời hạn trả mỗi lần được qui định khi cho
vay. Nếu được cấp tiền vay, toàn bộ số tiền vay được ghi nợ tài khoản cho vay và
ghi có tài khoản cá nhân hoặc giao tiền mặt cho khách.
- Thấu chi : Là nghiệp vụ cho phép một cá nhân rút tiền từ tài khoản vãng lai của
mình vượt số dư có, tới một hạn mức đã được thoả thuận. Nghiệp vụ này đòi hỏi

Các yếu tố mà ngân hàng tiến hành xem xét sau khi đã nhận đựơc thủ tục hợp lệ
gồm:
a. Năng lực vay của khách hàng :
Ngân hàng chỉ thực hiện quan hệ tín dụng tiêu dùng với những cá nhân có
năng lực pháp luật và năng lực hành vi dân sự. Không cho vay đối với người vị
thành niên, người bị truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc đang chấp hành án, người
rối loạn tâm thần.
b. Các yếu tố liên quan tới việc phê duyệt khoản tín dụng :

- Độ tin cậy của người vay: yếu tố này được xem xét thông qua:
• Hồ sơ quá khứ của khách hàng: cho biết thu nhập và chi tiêu bình quân, thói
quen chi tiêu, chất lượng thanh toán séc, quan hệ vay trả, số lượng giao dịch.
• Các nhận định thông qua việc phỏng vấn, trao đổi trực tiếp với người vay,
thông qua thủ tục vay vốn.
• Thông tin từ các ngân hàng có quan hệ thanh toán, tiền gửi, tín dụng với
khách hàng: doanh số cho vay, thu nợ, dư nợ, nội dung thanh toán, các quan hệ
thanh toán với khách hàng liên quan.
• Thông tin từ trung tâm thông tin rủi ro của NHNN và từ thị trường: dư luận
CBCNV, dư luận xã hội, báo chí.
• Thông tin giới thiệu về khách hàng của người đáng tin cậy cho một khách
hàng mới.
- Mục đích sử dụng vốn vay: vốn vay phải được sử dụng hợp lí, điều đó cho phép
khoản vay hoàn trả và phù hợp với chính sách tín dụng của ngân hàng. Ngân hàng
không cho vay nếu mục đích không hợp pháp, đầu cơ hoặc không nêu được lý do
vay mượn.
- Năng lực hoàn trả :đánh giá khả năng trong tương lai, người vay có các nguồn tài
chính để trả nợ hay không.

- Chất lượng điều hành tài khoản.
- Sự ổn định về tài chính của người đi vay.
- Sử dụng vốn vay có đúng mục đích không .
- Các đảm bảo.
- Tiến độ trả nợ.
- Diễn biến dư nợ trên tài khoản vãng lai.
- Cần điều chỉnh các mức tín dụng hay không v.v
+ Thu nợ :
Tuỳ theo hình thức cấp tín dụng mà quá trình thu nợ diễn ra khác nhau
- Đối với tín dụng theo định kì, việc thu nợ tiến hành theo kì hạn ghi trên hợp đồng
tín dụng; lãi được tính như một khoản ứng trước trong tín dụng sản xuất.
- Đối với tín dụng vãng lai: việc hoàn trả định kì không cần xác lập, khách hàng có
thể hạ dư nợ bằng việc nộp tiền với số lượng và thời điểm tuỳ ý.Lãi được tính bằng
nhiều phương pháp và thẻ cũng được thực hiện tương tự.
- Đối với tín dụng trả góp: Trả lần đầu 20%-30% dư nợ , 70%-80% dư nợ còn lại
được trả dần theo các kì hạn như một khoản tín dụng định kì, gốc và lãi được tính
theo phương pháp trả dần.
4. Vai trò của cho vay tiêu dùng :
- Đối với ngân hàng :
* Tác động tích cực : Giúp mở rộng quan hệ với khách hàng, từ đó làm tăng khả
năng huy động tiền gửi cho ngân hàng; tạo điều kiện đa dạng hoá các hoạt động
kinh doanh, góp phần năng cao thu nhập và phân tán rủi ro cho ngân hàng.

* Tác động tiêu cực : Cho vay tiêu dùng chi phí và rủi ro cao nên cần có biện pháp

trong gia đình
- Các nguyên nhân khác : sự lừa đảo của người vay, ảnh hưởng của môi trường hay
dự đoán vào tương lai của người vay
CHƯƠNG II :PHÂN TÍCH HOẠT ĐỘNG CHO VAY TIÊU DÙNG TẠI NGÂN
HÀNG CÔNG THƯƠNG ĐÀ NẴNG
I.VÀI NÉT VỀ LỊCH SỬ HÌNH THÀNH VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA NGÂN HÀNG
CÔNG THƯƠNG ĐÀ NẴNG.
1. Quá trình hình thành và phát triển của Ngân hàng Công Thương Đà Năîng
Chi nhánh Ngân hàng Công Thương (NHCT) Đà Nẵng được tách ra từ Chi nhánh
NHCT Tỉnh QNĐN, chính thức hoạt động từ ngày 01/01/1997 theo Quyết định số
14/ NHCT -QĐ ngày 17/12/1996 của Tổng giám đốc NHCT Việt Nam, trên cơ sở
chia tách địa giới hành chính của Nhà nước thành 2 đơn vị là Quảng Nam và TP Đà
Nẵng. Chi nhánh NHCT TP Đà Nẵng là đơn vị thành viên của NHCT Việt Nam.
Tiền thân của NHCT Đà Nẵng sau năm 1975 là NHNN TP Đà Nẵng . Tháng
07/1988 đến nay, sau khi hệ thống NH VN chuyển từ một cấp quản lý thành 2 cấp (
Hệ thống NHNN và Hệ thống NHTM ) thì đổi thành NHCT Tỉnh QNĐN ( nay là
NHCT Đà Nẵng).

Quá trình hoạt động kinh doanh cho đến nay đã phát triển lớn mạnh về nhiều mặt,
số lượng khách hàng giao dịch ngày càng tăng, doanh số huy động, cho vay càng
lớn, chất lượng hoạt động kinh doanh ngày càng được nâng lên và đã mở ra nhiều
hình thức huy động, cho vay phong phú, đa dạng các dịch vụ Ngân hàng để đáp ứng
phục vụ ngày càng tốt hơn cho quá trình phát triển kinh tế và hoạt động kinh doanh.
Từ những thành quả nổi bật trong quá trình phát triển đã được Nhà nước tặng
thưởng Huân chương lao động hạng 3.
Hiện nay cùng với sự phát triển chung Chi nhánh NHCT Đà Nẵng từng bước đổi
mới, xây dựng phong cách giao dịch của người cán bộ NHCT, đổi mới hiện đại hoá

4- Phòng cân đối tổng hợp: Tổng hợp số liệu báo cáo thống kê, cân đối vốn
kinh doanh, xây dựng chiến lược kinh doanh, tiếp thị, khai thác thị trường, phát
triển các dịch vụ Ngân hàng.
5- Phòng Kế toán tài chính : Thực hiện hạch toán kế toán theo chế độ quy định
và các dịch vụ khác
6- Phòng tổ chức cán bộ : Thực hiện các chính sách chế độ và quyền lợi cho
người lao động, tham mưu cho Ban giám đốc về quy hoạch, đề bạt, bổ nhiệm, đào
tạo bồi dưỡng, điều động cán bộ, tổ chức bộ máy mạng lưới của Chi nhánh.

7- Phòng Tiền tệ kho quỹ : Thực hiện các nghiệp vụ về Kho quỹ NH, thu- chi
tiền cho khách hàng.
8- Phòng Kiểm tra nội bộ: Thực hiện chức năng kiểm tra, kiểm soát các hoạt
động của nội bộ NHCT.
9- Phòng Thông tin điện toán : Cập nhật, lưu trữ số liệu hoạt động của Chi
nhánh, triển khai các chương trình điện tử quản lý trên mạng của hệ thống và các
chương trình ứng dụng có liên quan đến khách hàng.
10- Phòng hành chính : Thực hiện chức năng hỗ trợ cho hoạt động kinh doanh
của Chi nhánh, mua sắm dụng cụ, trang thiết bị, sắp xếp, tổ chức hội họp, hội nghị,
tiếp khách, quan hệ đối nội, đối ngoại, quản lý, bảo vệ tài sản của ngân hàng
11- Phòng giao dịch Hải Châu : Là đơn vị phụ thuộc, thực hiện chức năng kinh
doanh của Ngân hàng như cho vay, thu tiền gửi, và các dịch vụ khác trong phạm
vi uỷ quyền của Giám đốc Chi nhánh.
12- Các chi nhánh trực thuộc: Thực hiện chức năng kinh doanh của một Ngân
hàng, hạch toán phụ thuộc.
3. Mạng lưới hoạt động và tình hình nhân sự :
Mạng lưới hoạt động :
- Hội sở chính tại 172 Nguyễn Văn Linh, Quận Thanh Khê Đà Nẵng.

- Các dịch vụ ngoại hối : đổi ngoại tệ, thanh toán séc du lịch, thẻ tín dụng, chi trả
kiều hối, trả kiều hối Western Union.
- Các dịch vụ khác : đại lý chứng khoán, tư vấn đầu tư, tài trợ thương mại, thẩm
định dự án, thu chi hộ ngân quỹ, kiểm định nội, ngoại tệ, nhận giữ hộ tài sản quí,
chiết khấu chứng từ có giá
5. Tình hình hoạt động kinh doanh của ngân hàng Công Thương Đà Nẵng thời gian
qua ( 2002 -2003)
5.1 Tình hình nguồn vốn:
1. Tiền gửi doanh nghiệp
2.Tiền gửi dân cư
- Tiết kiệm
- Phát hành công cụ nợ
3. Tiền gửi của TCTD
II.Vốn vay TCTD
III. Thanh toán vốn
- Thanh toán với TCTD khác
- Tài khoản điều chuyển vốn
IV. Tài sản nợ khác
Trong hơn 15 năm hoạt động theo cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa,
tuy có nhiều khó khăn nhưng với phương châm “ Đi vay để cho vay” Chi nhánh đã
thực hiện tốt mục tiêu huy động vốn để đầu tư phát triển kinh tế xã hội trên địa bàn
thành phố Đà Nẵng. Vốn của chi nhánh được hình thành từ các nguồn chủ yếu sau:

- Vốn huy động: vốn của Chi nhánh được huy động chủ yếu từ tiền gửi của các tổ

- Dự trữ và thanh toán: năm 2003 số tiền dự trữ và thanh toán là 56.437 triệu đồng
giảm 4.907 triệu đồng, tốc độ giảm là 8 %.
- Cho vay: là số tiền cho vay ngắn, trung và dài hạn của ngân hàng. Đây là nghiệp
vụ sinh lời chủ yếu nên ngân hàng đã đẩy mạnh cho vay đối với các tổ chức và cá
nhân trong nền kinh tế nhằm mang lại lợi nhuận. Năm 2003 cho vay đạt 1.450.700
triệu đồng, tăng 130.200 triệu đồng, tốc độ tăng là 9,86 % so với năm 2002.
- Các khoản đầu tư khác: nhằm gia tăng thu nhập và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn,
nguồn vốn cho mục đích đầu tư năm 2003 là 134.139 triệu đồng tăng 31.743 triệu
đồng với mức tăng tương ứng là 31 % so với năm 2002.
- Thanh toán vốn của ngân hàng năm 2002 là 57.793 triệu đồng. Năm 2003 là
72.241 triệu đồng , tăng 14.448 triệu đồng với mức tăng 25 %.
- Tài sản có khác: Cùng với sự phát triển các dịch vụ mới và cải tiến công nghệ
ngân hàng thì vốn đầu tư vào tài sản có khác như máy móc, thiết bị, cơ sở vật
chất cũng tăng lên đáng kê.ø Năm 2003 là 272.305 triệu đồng tăng 132.863 triệu
đồng so với năm 2002, tốc độ tăng là 95,3 % .
5.3 Tình hình kinh doanh dịch vụ ngân hàng :

BẢNG 3: TÌNH HÌNH KINH DOANH DỊCH VỤ NGÂN HÀNG (2002-2003)
1.Thanh toán thẻ ( Triệu đồng )
2.Thanh toán chuyển tiền ( Triệu đồng)
3.Thu đổi ngoại tệ (1000 USD )
4.Kiều hối (1000 USD )
5.Kinh doanh ngoại tệ (1000 USD )
6.Thanh toán quốc tế ( 1000 USD )
Với mục tiêu phát triển các dịch vụ ngân hàng nhằm tăng khả năng và
nguồn thu từ hoạt động này, ngân hàng đã thực hiện đa dạng hoá các loại hình dịch
vụ, nâng cao chất lượng dịch vụ đi đôi với việc thực hiện các chương trình quảng


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status