LỜI MỞ ĐẦU
Bắt đầu từ năm 1986 Việt Nam bắt đầu tiến hành quá trình đổi mới từ nền
kinh tế, từ chế độ tập trung quan liêu bao cấp sang nền kinh tế nhiều thành phần,
vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước. Theo định hướng
Xã Hội Chủ Nghĩa. Công cuộc đổi mới kinh tế và nỗ lực công nghiệp hoá hiện
đại hoá đất nước đã tạo động lực thúc đẩy đáng kể đối với sự tăng trưởng nền
kinh tế. Trong đó có khu vực ngoài quốc doanh khu vực chủ yếu là các doanh
nghiệp vừa và nhỏ. Hiện nay doanh nghiệp vừa và nhỏ, đang đóng vai trò quan
trọng trong việc tạo công ăn việc làm. Huy động các nguồn lực vốn trong nước
cho hoạt động kinh doanh và tăng trưởng kinh tế.
Hiện nay ở nước ta, doanh nghiệp vừa và nhỏ chiếm 96% tổng số các
doanh nghiệp trong các nước và đang tham gia vào hầu hết các hoạt động lĩnh
vực của các hoạt động kinh tế.
Doanh nghiệp vừa và nhỏ là nơi tạo ra nhiều công ăn việc làm, tuyển
dụng 49% lực lượng phi nông nghiệp cả nước.
Đóng góp chung của doanh nghiệp vừa và nhỏ trong tổng vốn đầu tư quốc
gia và trong GDP của nền kinh tế vẫn còn nhỏ. Theo số liệu hiện có doanh
nghiệp vừa và nhỏ đã huy động được 477 tỷ đồng vốn đầu tư cho đơn vị kinh
doanh của mình. Và doanh nghiệp vừa và nhỏ đã nộp 5000 tỷ đồng tiền thuế.
Các doanh nghiệp đã tạo ra khoảng 2% GDP.
Do tầm quan trọng của các doanh nghiệp vừa và nhỏ ngày càng tăng lên
và do tiềm năng của các doanh nghiệp trong nền kinh tế của đất nước. Đối tượng
của đề tài này là các giải pháp bịên pháp phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ.
NỘI DUNG
I. CƠ SỞ LÝ LUẬN
1. Khái niệm đặc điểm và quá trình hình thành doanh nghiệp vừa và
nhỏ
1.1. Khái niêm doanh nghiệp vừa và nhỏ
Để nhận diện doanh nghiệp vừa và nhỏ một cách có cơ sơ khoa học ta sẽ
đi từ việc xác định doanh nghiệp nói chung
1.1.1. Khái niệm doanh nghiệp .
phát triển thấp, thì các chỉ số về lao động, vốn để phân loại doanh nghiệp vừa và
nhỏ sẽ thấp hơn. Sơ với nước phát triển.
-Tính chất ngành nghề: Do đặt điểm từng ngành nghề. Có ngành sử dụng
nhiều lao động, có ngành sử dụng ít lao động.
- Vùng lãnh thổ: Do trình độ phát triển giữa các vùng khác nhau nên số
lượng và quy mô doanh nghiệp cũng khác nhau.
- Do tính chất lịch sử: Một doanh nghiệp trước đây được coi là doanh
nghiệp lớn nhưng cũng như vậy hiện tại hoặc trong tương lai nó lại được coi là
doanh nghiệp nhỏ.
- Mục đích phân loại: Khái niệm doanh nghiệp vừa và nhỏ sẽ khác nhau
khi mục đích phân loại khác nhau. Ví dụ: Khái niệm doanh nghiệp vừa và nhỏ
mới ra đời sẽ khác khái niệm doanh nghiệp vừa và nhỏ với mục đích giảm thiểu.
Cho các doanh nghiệp có công nghệ sạch, hiệnđại không gây ô nhiễm môi
trường.
Có thể xác định quy mô doanh nghiệp để tính số lượng doanh nghiệp vừa
và nhỏ trong các ngành nghề, trên các địa bàn khác nhau theo công thức:
F(Sba) = x Sa
Trong đó: F(Sba): Quy mô doanh nghiệp một ngành và trên một địa bàn
cụ thể.
Ia,Ib,Id: Tương ứng với hệ số vùng, ngành và hệ số phát triển quy mô
doanh nghiệp vừa và nhỏ.
Sa: Quy mô doanh nghiệp và và nhỏ chung trong một nước.
1.3. Một số cách tiếp cận phân loại doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Việt
Nam.
Theo văn bảo pháp lý mới nhất hiện hành (áp dụng từ năm 1993 đến nay)
thì việc phân loại doanh nghiệp ở Việt Nam theo 5 hạng đặt biệt hạng I,II,II,IV.
Dựa trên hai nhóm yếu tố là: Độ phức của quản lý và hiệu quả sản xuất kinh
doanh và gồm 8 tiêu chí: vốn sản xuất kinh doanh, trình độ công nghệ. Phạm vi
hoạt động sử dụng lao động thực hiện nghĩ vụ với Nhànước. Lợi nhuận thực
hiện doanh thu và tỷ suất lợi nhận trên vốn.
Điều kiện về vốn trong các doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Việt Nam rất hạn
hẹp và gặp rất nhiều khó khăn. Sự thiếu vốn trong các doanh nghiệp diễn ra trên
bình diện rộng do quy mô về vốn rất hạn hẹp không có đủ vốn tài trợ cho các
hoạt động kinh doanh có chất lượng có hiệu quả đặt biệt là đối với các doanh
nghiệp muốn mở rộng phát triển quy mô lớn.
- Trình độ văn hoá kinh doanh còn thấp, vẫn còn hiện tượng làm ăn chụp
giật trốn lậu thuế, phi phạm pháp luật.
- Trình độ công nghệ: Trang thiết bị công nghệ rất lạc hậu làm cho giá cả
cao, chất lượng, năng suất lao động thấp. Hạn chế đến khả năng cạnh tranh sản
phẩm trên thị trường.
- Phân bổ các doanh nghiệp không đều tập trung chủ yếu ở các thành phố
lớn như Hà Nội, Hồ Chí Minh...
- Trình độ quản lý hạn chế thiếu kiến thức quản trị kinh doanh vù luật
pháp thiếu kinh nghiệm.
Đội ngũ lao động có trong các doanh nghiệp vừa và nhỏ phần đông có
trình độ văn hoá cấp II (40 - 45) số có trình độ phổ thông trung học càng chiếm
tỷ trọng khá 20 - 23 % Số có trình độ tiểu học, không biết chữ còn chiếm tỷ
trọng khá lớn 25 - 30%. Trình độ tay nghề rất thấp đặt biệt là khu vực nông thôn
trình độ tay nghề giản đơn chưa được đào tạo chiếm khoảng 60 - 70%.
- Xu hướng tập trung vào các ngành cần ít vốn, thu hồi vốn nhanh lãi suất
cao như thương nghiệp, dịch vụ du lịch chỉ có 30% vốn đầu tư ban đầu vào sản
xuất công nghiệp và chỉ tập trung vào chế biến lương thực phẩm sản xuất hàng
tiêu dùng.
- Nhà nước chỉ mới có định hướng khuyến khích doanh nghiệp vừa và
nhỏ, cơ chế chính sách thiếu đồng bộ. Nguồn lực tài chính của Nhà nước còn
hạn chế nên chủ yếu chỉ mới tập trung cho những công trình lớn, doanh nghiệp
lớn. Phần đầu tư cho các doanh nghiệp này tự lo là chính.
- Thiếu sự hỗ trợ của cộng đồng thất là vai trò của các hội nghề nghiệp
các trung tâm tư vấn và các doanh nghiệp lớn.
- Một đặt điểm vừa đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ đó là thiếu thông
nghiệp vừa và nhỏ là nguồn chủ yếu tạo ra công ăn việc làm trong tất cả các lĩnh
vực. Chiếm gần 1 nửa (49%) lực lượng lao động trong tất cả các doanh nghiệp.
Trong các lĩnh vực cơ bản của ngành công nghiệp chế biến các doanh nghiệp
tuyển dụng 355. 000 lao động chiếm 36% tổng số lao động ngành.
1.5.4..Doanh nghiệp vừa và nhỏ đóng vai trò quan trong trong sản xuất ở
Việt Nam.
Theo số liệu thống kê hàng đầu như không có doanh nghiệp vừa và nhỏ
nào tham gia hoạt động trong ngành sản xuất tham cốc, sản phẩm giầu mỏ, hoặc
nhiên liệu hụt nhân. Trong lĩnh vực sản xuất thuốc lá và thuốc lào về số lượng
doanh nghiệp chiếm 29% sản phẩm sản xuất từ khoáng chất phi kim 14,49, chế
biến từ gồ, tre nứa, rơm rạ. 8,03 sản xuất từ giường bàn ghế 5,33... Dệt 410%
trang phục 4,06.
1.6. Quá trình hình thành và phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ.
Trước năm 1986 các doanh nghiệp vừa và nhỏ ngoài quốc doanh nói
chung, doanh nghiệp tư nhân nói riêng, thật sự chưa được quan tâm khuyến
khích hỗ trợ phát triển, do vậy do vậy họ phải tổ chức hoạt động núp dưới bóng
các hình thức khác nhau. Như vậy tổ hợp, hộ gia đình, hợp tác xã xí nghiệp công
ty hợp danh... Chỉ từ khi chuyển sang nền kinh tế nhiều thành phần, thừa nhận
sử tồn tại lâu dài các hình thức sở hữu khác nhau về tư liệu sản xuất và khuyến
khích các thành phần kinh tế an tâm bỏ vốn vào đầu tư vào sản xuất kinh doanh.
Cũng từ đó hàng loạt cơ sở sản xuất kinh doanh tư nhân, cá thể hộ gia đình ra
đời... Phát triển góp phần giải quyết việc làm. Theo số liệu thống kê năm 1986
số lượng xí nghiệp tư nhân gần như không có, năm 1990 có 770 xí nghiệp tư
nhân thu hút 1 vạn lao động, tháng 8/1993 có 6728 xí nghiệp tư nhân. 2570 công
ty trách nhiệm hữu hạn và 91 công ty cổ phần tổng cộng là 9389 doanh nghiệp
thu hút gần nửa triệu lao động .
Đến tháng 12/1993 có 8334 xí nghiệp tư nhân. 3287 công ty trách nhiệm
hữu hạn 117 công ty cổ phần. Tổng số vốn lên tới 3979 tỷ đồng gần bằng 10%
tổng số vốn của các doanh nghiệp Nhà nước.
Tháng 3/93 Tháng 8/93 Tháng 12/93
2. Các nhân tố ảnh hưởng tới sự phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ
Phần lớn do hạn chế của doanh nghiệp gây ra, và do chính sách và môi
trường khách quan.
2.1. Về quan điểm chủ trương chính sách:
Trước đây do nhận thức về vai trò và tầm quan trọng của các doanh
nghiệp vừa và nhỏ chưa thiệt rõ ràng, dẫn tới sự phát triển các doanh nghiệp vừa
và nhỏ mang tính tự phát. Chưa có định hướng của Nhà nước g ây ra sự khó
khăn cho sự phát triển của các doanh nghiệp. Đại hội Đảng VIII vào tháng 6
năm 1996 và gần đây công văn 681/CP - KTN của Chính phủ đã chính thức đưa
ra tiêu chí xác định doanh nghiệp vừa và nhỏ và đã giao cho Bộ kế hoạch đầu tư.
Chủ trì cùng cán bộ, ngành địa phương, soạn thảo các định hướng chiến lược
cho sự phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ. Đây là những bước tiến lớn trong
chủ trương và kế hoạch của Đảng và Chính phủ đối với các doanh nghiệp vừa và
nhỏ.
*. Một số hạn chế về chính sách và pháp luật:
Hạn chế này đã gây ra ảnh hưởng tới sự phát triển doanh nghiệp vừa và
nhỏ.
- Thứ nhất: Khung khổ pháp lý chưa tỏ rõ sự công bằng với các loại hình
doanh nghiệp khác nhau. Để tạo ra một sân chơi bình đẳng cần thiết phải có một
hệ thống pháp luật toàn diện áp dụng cho tất cả loại hình doanh nghiệp không
phân biệt các hình thức sở hữu.
- Thứ hai: chính do sự chậm trễ trong việc thực thi các văn bản pháp luâtạ
vị dụ: Luật thương mại đã được ban hành tháng 4 năm 1997 và có hiệu lực từ
ngày 1 tháng 1 năm 1998 cho đến thời điểm hiện nay vẫn chưa thực thi một cách
đầy đủ. Đây là một yếu kém gây ảnh hưởng tới quá trình phát triển doanh
nghiệp vừa và nhỏ.
Thứ ba: Là hạn chế các văn bản dưới luật trái với các văn bản phát luật
cấp cao hơn.
Nhiều văn bản dưới luật quá phức tạp không rõ ràng: Ví dụ: Phân loại biết
thêm về các thủ tục hải quan không rõ ràng. Thường dẫn đến tranh cãi về việc
Hiện tại việc kiểm soát ngoại hối đang được áp dụng ở Việt Nam bao gồm
các yếu tố sau:
+ Kiểm soát thu gom ngoại tệ vào các ngân hàng bằng cách yêu cầu cá
nhân và tổ chức kinh doanh khi chuyển ngoại tệ vào Việt Nam phải lập tức đổi
sang đồng Việt Nam hoặc gửi tại một tài khoản ngoại tệ ở ngân hàng được phép
kinh doanh ngoại tệ. Quyết định 173 đã yêu cầu các doanh nghiệp bán 80% số
ngoại tệ cho ngân hàng. Nếu doanh nghiệp không tự bán ngoại tệ cho ngân hàng
thì số ngoại tệ đó sẽ được ngân hàng tự động mua qua tài khoản ngoại tệ của họ
sau đó nếu có nhu cầu dùng doanh nghiệp phải mua lại ngoại tệ thì ngân hàng
với giá cao hơn.
+ Việc kiểm soát không cho phép các doanh nghiệp tự do thu mua ngoại
tệ thay vào đó để chuyển đổi đồng Việt Nam s ang ngoại tệ, các doanh nghiệp
phải giải thích được "Mục đích hợp pháp" của công việc đó.
+ Tỷ giá hối đoái do ngân hàng Nhà nước quy định chứ không được phép
căn cứ theo tỷ giá thị trường. Các quy định này gây ra nhiều rủi ro đặt biệt khi tỷ
giá bị đánh giá quá cao. Khi tỷ giá hối đoái so với đồng Việt Nam được quy
định quá cao so với tỷ giá hối đoái trên thị trường.
2.2.2. Chính sách thuế:
Chính sách thuế của Nhà nước có một ảnh hưởng lớn tới sự phát triển các
doanh nghiệp vừa và nhỏ.
Hiện nay ở nước ta chế độ thuế hiện hành vẫn được coi là quá trình cao và
hoặc bị coi là đối xử bất bình đẳng trong quá trình thi hành và quy định về thuế
phức tạp chồng chéo với quá nhiều loại thuế hoặc quá nhiều trường hợp miễn
trừ thuế. Một vấn đề là các loại thuế suất khác nhau được áp dụng một cách
phân biệt giữa các hoạt động kinh doanh khác nhau điều này ây ảnh hưởng tới
các doanh nghiệp vừa và nhỏ như:
- Làm giảm ảnh hưởng xấu đến vị thế cạnh tranh của các doanh nghiệp
Việt Nam.
- Khuyến khích hiện tượng "Chảy máu chất xám" tới các nước khác nhiều
người có tay nghề và trình độ quản lý đạt tiêu chuẩn quốc tế sẽ di cư sang nước
2.2.4 Chính sách vốn:
Chính sách vốn có tác động mạnh tới việc cải thiện tình hình vốn của
doanh nghiệp vừa và nhỏ. Để tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp huy
động vốn an toàn thuận lợi và có hiệu quả. Do vậy nhà nước phải có những đổi